Xu Hướng 2/2024 # 5 Bài Soạn Một Số Thể Loại Văn Học: Kịch, Nghị Luận (Ngữ Văn 11) Hay Nhất # Top 10 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết 5 Bài Soạn Một Số Thể Loại Văn Học: Kịch, Nghị Luận (Ngữ Văn 11) Hay Nhất được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Fsey.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Bài soạn tham khảo số 5

Câu 1 (trang 111 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

* Tìm hiểu về thể loại kịch:

– Đặc trưng của kịch:

+ Kịch là loại hình nghệ thuật tổng hợp.

+ Đối tượng mô tả của kịch là các xung đột đời sống. Xung đột kịch được cụ thể hóa bằng hành động kịch. Hành động kịch được thực hiện bằng nhân vật kịch. Nhân vật kịch được khắc họa bằng lời thoại kịch (có đối thoại, bàng thoại, độc thoại).

– Các ba kiểu loại kịch:

+ Bi kịch: phản ánh xung đột giữa những nhân vật cao thượng, tốt đẹp với thế lực đen tối, độc ác; sự thảm hại hay cái chết của các nhân vật tốt đẹp dấy lên nỗi thương cảm.

+ Hài kịch: khai thác tình huống khôi hài, đối lập giữa vẻ ngoài và bên trong làm bật lên tiếng cười.

+ Chính kịch: phản ánh xung đột trong cuộc sống hàng ngày, vui buồn lẫn lộn.

– Yêu cầu về đọc kịch bản văn học:

+ Đọc kĩ phần giới thiệu để có hiểu biết chung về tác giả, tác phẩm, đoạn trích.

+ Tập trung vào lời thoại để xác định đặc điểm, mối quan hệ của các nhân vật.

+ Phân tích hành động kịch, xác định và phân tích các xung đột chủ yếu và thứ yếu.

Câu 2 (trang 111 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

* Tìm hiểu thể loại văn nghị luận:

– Đặc trưng của văn nghị luận:

+ Nghị luận là thể loại văn học dùng lí lẽ, phán đoán, chứng cứ để bàn luận về một vấn đề nào đó. Sức mạnh của văn nghị luận là ở sự sâu sắc của tư tưởng, tình cảm, tính mạch lạc chặt chẽ trong tư duy, sự thuyết phục khi trình bày.

+ Văn nghị luận sử dụng các thao tác như giải thích, phân tích, chứng minh, bác bỏ, so sánh để tác động vào người đọc.

+ Ngôn ngữ trong văn nghị luận vừa chính xác vừa giàu hình ảnh, giàu biểu cảm, mang tính xã hội và tính hoạt thuật cao.

– Có hai kiểu loại văn nghị luận:

+ Văn chính luận: luận bàn về chính trị, xã hội, triết học…

+ Văn phê bình văn học: luận bàn về các vấn đề văn học.

– Yêu cầu về đọc văn nghị luận:

+ Tìm hiểu tác giả và hoàn cảnh lớn, hoàn cảnh nhỏ ra đời tác phẩm, xác định vấn đề xuất phát từ nhu cầu nào, thuộc lĩnh vực nào, có quan trọng với cuộc sống không.

+ Nắm bắt mạch tư tưởng, tóm lược luận điểm và xác định mối quan hệ của chúng.

+ Cảm nhận mạch cảm xúc trong tác phẩm.

+ Phân tích tác dụng của nghệ thuật đối với việc trình bày vấn đề.

+ Khái quát giá trị của tác phẩm, rút ra bài học.

Luyện tập

* Phân tích xung đột kịch trong đoạn trích “Rô-mê-ô và Ju-li-ét”:

* Nghệ thuật lập luận trong văn bản “Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác”:

– Hệ thống lập luận chặt chẽ, mạch lạc (thông báo về sự ra đi của Mác, tổn thất lớn của nhân loại → trình bày ba cống hiến vĩ đại của Mác → bày tỏ sự tiếc thương).

– Biện pháp so sánh tăng tiến: trình bày ba cống hiến, cống hiến sau lớn hơn cống hiến trước; ở mỗi cống hiến lại so sánh để làm nổi bật thành tựu của Mác).

– Lối diễn đạt chặt chẽ, logic, thuyết phục.

Bài soạn tham khảo số 3

Bài soạn tham khảo số 5

Câu 1 (trang 111 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

* Đặc trưng của Kịch:

– Đối tượng phản ánh của kịch là những mâu thuẫn xung đột trong đời sống xã hội và con người.

– Xung đột kịch có vai trò quan trọng nhất, tạo tính kịch, hấp dẫn lôi cuốn.

– Hành động: kịch do nhân vật kịch thể hiện góp phần thể hiện xung đột kịch.

– Cốt truyện kịch: phát triển theo xung đột kịch, qua các gia đoạn: mở đầu – thắt nút – phát triển – đỉnh điểm – giải quyết.

– Ngôn ngữ kịch: thể hiện trong lời thoại, mang tính hành động và khẩu ngữ: đối thoại và độc thoại, làm nổi bật tính cách nhân vật.

– Bố cục kịch: Một vở kịch được chia thành nhiều màn (hồi) khác nhau. Mỗi màn (hồi) được chia thành nhiều lớp (hồi) khác nhau.

* Phân loại kịch:

– Căn cứ vào tính truyền thống hay hiện đại: kịch dân gian (chèo, tuồng, cải lương…), kịch cổ điển (trước XX), kịch hiện đại (XX)

– Căn cứ vào tính chất: bi kịch, hài kịch, chính kịch (xung đột cuộc sống), kịch lịch sử.

– Căn cứ vào vào ngôn ngữ diễn đạt: kịch nói, kịch hát múa, kịch thơ, kịch rối kịch câm,…

* Yêu cầu đọc kịch bản văn học:

– Đọc kĩ phần giới thiệu, tiểu dẫn.

– Tập trung vào lời thoại nhân vật.

– Phân tích hành động kịch.

– Khái quát chủ để tư tưởng, đánh giá giá trị của đoạn trích và toàn vở kịch.

Câu 2 (trang 111 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

* Đặc trưng của văn nghị luận:

– Nghị luận là một thể loại văn học dùng lí lẽ, phán đoán, chứng cứ để bàn luận về một vấn đề nào đó (xã hội, chính trị, văn học,…) nhằm tranh luận, thuyết phục, bác bỏ, khẳng định, phủ nhận.. giúp người đọc hiểu rõ vấn đề nêu ra.

– Văn nghị luận thường có tính sâu sắc về tư tưởng, tình cảm, tính mạch lạc, chặt chẽ.

– Ngôn ngữ trong văn nghị luận chính xác, giàu hình ảnh và sắc thái biểu cảm.

* Các kiểu nghị luận:

– Căn cứ vào thời gian xuất hiện: Nghị luận dân gian (tục ngữ), nghị luận trung đại (chiếu, hịch, cáo,…) nghị luận hiện đại (tuyên ngôn, lời kêu gọi, xã luận, phê bình…)

– Căn cứ vào đối tượng và vấn đề nghị luận: Nghị luận xã hội – chính trị (chính luận), nghị luận văn học (phê bình, nghiên cứu, bình giảng, phân tích…).

* Yêu cầu đọc văn nghị luận:

– Tìm hiểu thân thế tác giả, hoàn cảnh ra đời tác phẩm.

– Phát hiện chính xác luận đề và hệ thống luận điểm.

– Đánh giá giá trị của hệ thống luận điểm.

– Tìm hiểu và đánh giá thái độ, cảm xúc, tình cảm của người viết.

– Tìm hiểu và đánh giá sự đặc sắc, độc đáo riêng của người viết.

Trong vở kịch Rô – mê – ô và Giu – li – ét, xung đột cơ bản là xung đột giữa tình yêu và thù hận. Tuy nhiên, trong đoạn trích này, thù hận không xuất hiện như là một thế lực cản trở tình yêu. Thù hận chỉ hiện ra qua suy nghĩ của các nhân vật, nhưng không phải là động lực để chi phối, điều khiển, quyết định hành động của nhân vật.

Nghệ thuật lập luận nổi bật trong văn bản Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác:

– Cấu trúc lập luận rõ ràng, mạch lạc: gồm 7 đoạn, phàn mở đầu gồm hai đoạn (đoạn 1 và 2), nội dung chính gồm bốn đoạn (3, 4,5,6), kết luận gồm đoạn 7 và câu cuối cùng.

– Nghệ thuật so sánh tăng tiến: nội dung đoạn sau có giá trị cao hơn đoạn trước:

+ Nhưng không chỉ có thế thôi (Các Mác còn phát hiện ra giá trị thặng dư)

+ Nhưng đấy hoàn toàn không phải là điều chủ yếu ở Các Mác (trước hết các Mác là một nhà cách mạng…)

→ Tác dụng: Nói lên tầm vóc vĩ đại của Các Mác: là một vĩ nhân, là đỉnh cao của thời đại.

Bài soạn tham khảo số 3

Bài soạn tham khảo số 2

Bài soạn tham khảo số 3

I. Kịch

II. Nghị luận

– Đặc trưng của Kịch:

– Phân loại kịch

Yêu cầu đọc kịch bản văn học

Các kiểu nghị luận

Yêu cầu đọc văn nghị luận

Bài soạn tham khảo số 1

Bài soạn tham khảo số 2

Bài 1 (trang 111 sgk ngữ văn 11 tập 2):

* Đặc trưng của kịch:

– Tái hiện xung đột trong cuộc sống thông qua diễn biến của cốt truyện kịch, qua lời thoại, hành động nhân vật kịch

* Các tiểu loại kịch:

– Xét về mặt nội dung, ý nghĩa xung đột: bi kịch, hài kịch, chính kịch

– Xét theo hình thức ngôn ngữ: kịch nói, kịch thơ, ca kịch

* Yêu cầu về đọc kịch bản văn học:

– Đọc kĩ phần giới thiệu, tiểu dẫn, hiểu biết về tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh ra đời, vị trí đoạn trích

– Chú ý tới lời thoại của nhân vật (xác định được quan hệ, tính cách nhân vật

– Phân tích hành động kịch (nổi bật xung đột, diễn biến cốt truyện

2. Đặc trưng của văn nghị luận: trình bày trực tiếp tư tưởng, quan điểm, tình cảm về những vấn đề xã hội quan tâm, chứng cứ chân thực và có sức thuyết phục

Phân loại:

– Căn cứ vào nội dung: nghị luận xã hội- chính trị (chính luận), nghị luận văn học

– Căn cứ thời đại: nghị luận dân gian (tục ngữ), nghị luận trung đại (chiếu, hịch, biểu, cáo, tấu…), nghị luận hiện đại (bình giảng, phân tích, phê bình…)

– Yêu cầu khi đọc văn nghị luận

+ Tìm hiểu về tác giả, hoàn cảnh ra đời tác phẩm nghị luận

+ Tìm ra đúng luận điểm, luận cứ, lập luận của tác giả

+ Đánh giá tính đúng đắn, hữu ích của hệ thống luận điểm

+ Tìm hiểu phương pháp lập luận làm sáng tỏ luận điểm

+ Nêu giá trị nội dung tư tưởng, nghệ thuật biểu hiện tác phẩm, rút ra bài học, ảnh hưởng của tác phẩm đối với thực tế

LUYỆN TẬP

Phân tích xung đột kịch trong đoạn trích Tình yêu và thù hận

– Xung đột kịch là sự va chạm gay gắt giữa những lực lượng đối địch, những quan điểm thái độ khác nhau trước một vấn đề… xung đột có thể diễn ra ngay trong lòng người

– Trong vở kịch Rô-mê-ô Giu-li- ét có xung đột giữa tình yêu nam nữ, thanh niên với mối thù hận giữa hai họ, xung đột ấy căng thẳng, khốc liệt dẫn tới kết cục bi thảm

– Xung đột đỉnh điểm nằm ở phần cả hai họ xung đột và cản trở tình yêu mới bắt đầu tha thiết của Rô-mê-ô và Giu-li-ét.

Bài 2 (trang 111 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Lập luận trong văn bản Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác:

– Trong tác phẩm này Ăng-ghen đã sử dụng sáng tạo nghệ thuật so sánh tầng bậc nhằm làm nổi bật cống hiến vĩ đại của Mác với sự tiến bộ của nhân loại

– Trong hệ thống luận điểm rõ ràng, quan hệ chặt chẽ với nhau

+ Thông báo chính xác ngày giờ, thời điểm qua đời của Mác

+ Đánh giá sự nghiệp của ông: tìm ra quy luật phát triển của xã hội, phát hiện ra giá trị thặng dư, phát hiện ra quy luật vận động của phương thức sản xuất tư bản

+ Bày tỏ sự tiếc thương đối với người đã khuất

Bài soạn tham khảo số 4

Bài soạn tham khảo số 1

Nội dung bài học

– Kịch:

+ Khái niệm: Kịch là loại hình nghệ thuật tổng hợp. Đối tượng miêu tả chủ yếu là những xung đột trong đời sống.

+ Đặc trưng:

● Xung đột tính kịch, hấp dẫn, lôi cuốn.

● Tính cách, phẩm chất của nhân vật kịch thể hiện qua xung đột kịch.

● Cốt truyện (5 giai đoạn): Mở đầu – thắt nút – phát triển – đỉnh điểm – giải quyết.

● Thời gian, không gian: Rất đa dạng. Có thể chỉ trong vài giờ, một ngày, một năm, nhiều năm qua nhiều thế hệ và địa điểm khác nhau.

● Ngôn ngữ: Lời thoại mang tính hành động và khẩu ngữ.

+ Phân loại:

● Căn cứ vào tính truyền thống hay hiện đại: Kịch dân gian, kịch cổ điển, kịch hiện đại.

● Căn cứ vào tính chất : Bi kịch, hài kịch, chính kịch, kịch lịch sử.

● Căn cứ vào ngôn ngữ diễn đạt: Kịch nói, kịch hát múa, kịch thơ, kịch rối, kịch câm.

+ Yêu cầu khi đọc kịch bản văn học:

● Đọc kĩ văn bản kịch.

● Chú ý lời thoại.

● Phát hiện xung đột, phân tích xung đột.

– Văn nghị luận:

+ Khái niệm: Là thể loại văn học dùng lập luận, luận điểm, luận cứ để bàn luận về một vấn đề xã hội, văn học hay chính trị.

+ Đặc điểm:

● Lập luận rõ ràng, mạch lạc, logic, chặt chẽ.

● Dẫn chứng xác thực, ngắn gọn.

● Quan điểm rõ ràng, sâu sắc về tư tưởng, tình cảm.

● Ngôn ngữ dễ hiểu, biểu cảm, giàu hình ảnh.

● Theo nội dung: Văn chính luận, phê bình văn học.

● Thời kì trung đại: Chiếu, cáo, hịch, điều trần…

● Thời kỳ hiện đại: Tuyên ngôn, lời kêu gọi, phê bình, tranh luận…

+ Yêu cầu:

● Tìm hiểu tác giả, hoàn cảnh ra đời tác phẩm.

● Đưa ra luận đề, luận điểm, luận cứ và hệ thống luận điểm.

● Phân tích dẫn chứng cụ thể, rõ ràng.

● Khái quát giá trị tác phẩm, đưa ra bài học và ảnh hưởng của tác phẩm với đời sống.

Câu 1 (trang 111 SGK Ngữ Văn 11 Tập 2)

Phân tích xung đột kịch trong đoạn trích “Tình yêu và thù hận”:

– Những xung đột kịch trong vở kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét:

+ Xung đột giữa tình yêu nam nữ.

+ Xung đột thù hận giữa hai họ.

– Phân tích xung đột kịch:

+ Sự va chạm gay gắt giữa hai dòng họ dẫn đến mối thù hận giữa hai họ.

+ Xung đột giữa tình yêu của Rô-mê-ô và Giu-li-ét, sẵn sàng từ bỏ tên họ, dòng họ mình để bảo vệ tình yêu trong sáng, mê say, mãnh liệt nhưng cuối cùng vẫn dẫn đến kết cục bi thảm.

Câu 2 (trang 111 SGK Ngữ Văn 11 Tập 2)

Nghệ thuật lập luận nổi bật trong văn bản “Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác”:

– Hệ thống lập luận rõ ràng, mạch lạc bao gồm 7 đoạn:

+ Phần mở đầu gồm hai đoạn (đoạn 1 và 2).

+ Phần nội dung chính gồm bốn đoạn (3,4,5,6).

+ Phần kết luận gồm đoạn 7 và câu cuối cùng.

– Nghệ thuật so sánh tầng bậc:

+ “Nhưng không chỉ có thế thôi”.

+ “Nhưng đấy hoàn toàn không phải là điều chủ yếu ở Các Mác”.

→ Những cống hiến sau có giá trị hơn những cống hiến trước để làm nổi bật 3 cống hiến vĩ đại của Các Mác.

– Giọng điệu vừa kính trọng, vừa xót thương với người đã khuất.

Bài soạn tham khảo số 4

Bài soạn tham khảo số 4

chúng mình đã sưu tầm và tổng hợp được những bài soạn Một số thể loại văn học: Kịch, nghị luận dành cho các bạn học sinh lớp 11 cùng tham khảo. Hy vọng sau bài viết này, việc soạn bài sẽ không còn khó nhằn với các bạn học sinh nữa.

Đăng bởi: Nhị Lương Văn

Từ khoá: 5 Bài soạn Một số thể loại văn học: Kịch, nghị luận (Ngữ Văn 11) hay nhất

6 Bài Soạn “Thuyết Minh Về Một Thể Loại Văn Học” (Lớp 8) Hay Nhất

Ở các loạt bài trước, chúng mình đã giới thiệu khá đầy đủ về thể loại văn thuyết minh, về phương pháp, đặc điểm và cách làm một bài văn thuyết minh. Để tìm hiểu cụ thể dạng bài thuyết minh về một thể loại văn học, mời các bạn tham khảo một số bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” trong Ngữ Văn lớp 8 ngắn gọn, chi tiết đã được tổng hợp trong bài viết sau đây.

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 6

b) Mỗi một thể loại văn học có những đặc thù riêng, thuyết minh về một thể loại văn học là giải trình về những điểm riêng ấy. Nên gắn việc thuyết minh về thể loại văn học với phương pháp nêu ví dụ để cụ thể hoá vấn đề.

c) Lập dàn ý

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 5

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 6

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

Thuyết minh về một thể loại văn học là một loại thuyết minh khó. Bởi lẽ, muốn rút ra được những nhận thức quan trọng để thuyết minh, các em phải có một số hiểu biết nhất định về thơ: luật bằng – trắc, vần, niêm, đối, nhịp,… Chỉ có như vây, việc thuyết minh của các em mới có kết quả. Luật bằng – trắc, vần, niêm, đối, nhịp,… chính là những công cụ, phương tiện để các em khám phá, nhận thức thơ nói chung và thơ Việt Nam nói riêng.

Dùng công cụ trên, các em sẽ quan sát, khám phá và phát hiện đặc điểm của hai bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác và Đập đá ở Côn Lôn. Các em sẽ phát hiện ra:

– Đây là thể thơ thất ngôn bát cú (mỗi dòng bảy tiếng, mỗi bài tám dòng thơ).

– Nhịp thơ thường là 4 / 3:

Bủa tay ôm chặt / bồ kinh tế,

Mở miệng cười tan / cuộc oán thù.

Thân ấy vẫn còn, / còn sự nghiệp

Bao nhiêu nguy hiếm / sợ gì đâu.

(Vào nhà ngục Quảng Đỏng cảm tác)

Tháng ngày bao quản / thân sành sỏi,

Mưa nắng càng bền / dạ sắt son.

Những kẻ vá trời / khi lỡ bước,

Gian nan chi kể / việc con con.

(Đập đá ở Côn Lôn)

Khi đọc một dòng thơ, sau một số tiếng nhất định, có nghĩa, các em dừng lại một chút trước khi đọc hết dòng thơ. Chỗ ngừng đó là những chỗ ngắt nhịp trong dòng thơ.

VÀO NHÀ NGỰC QUẢNG ĐÔNG CẢM TÁC

T – B – B – T / – T – B – B

T – T – B – B / – T – T – B

T – T – B – B / – B – T – T

T – B – T – T / – T – B – B

T – B – B – T / – B – B – T

B – T – T – B / – B – T – T

B – B – B – T/ – T – B – B

ĐẬP ĐÁ Ở CÔN LÔN

B – B – T – T / – T – B – B

B – T – B – B / – T – B – B

T – T – T – B / – B – T – T

B – T – B – B / – T – T – B

B – B – B – T / – T – B – B

Dựa vào luân phiên B – T này các em có thể tìm ra niêm và đối trong bài thơ:

– Niêm (dính nhau): Tiếng dòng trên và tiếng tương ứng dòng dưới đều B. Ví dụ:

Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn,

Lừng lẫy làm cho lở núi non.

(làm / lừng: niêm với nhau)

– Đối: Tiếng dòng trên B và tiếng tương ứng dòng dưới T. Ví dụ, trong hai dòng thơ dẫn trên thì trai / lẫy đối với nhau.

II. HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU BÀI

Tham khảo để viết bài thuyết minh về Thơ thất ngôn bát cú.

THƠ THẤT NGÔN

a) Thơ thất ngôn Đường luật có niêm luật (tức sự quy định thanh bằng, thanh trắc trong từng câu, từng bài) rất chặt. Nếu tiếng thứ hai của câu đầu có thanh bằng thì thơ thuộc thể bằng, tiếng thứ hai thanh trắc là thể trắc.

Ví dụ:

– Thể bằng: Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom

– Thể trắc: Tạo hoá gây chi cuộc hí trường

Thể trắc được coi là chính thể, còn thể bằng là biến thể.

b) Các câu trong bài lại phải dính với nhau, người ta gọi là niêm. Bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc theo một hệ thống như sau:

Tiếng thứ hai câu I niêm với tiếng thứ hai câu VIII.

Tiếng thứ hai câu II niêm với tiếng thứ hai câu III.

Tiếng thứ hai câu IV niêm với tiếng thứ hai câu V.

Tiếng thứ hai câu VI niêm với tiếng thứ hai câu VII.

Tóm lại: nhất – bát, nhị – tam, tứ – ngũ, lục – thất.

c) Thơ thất ngôn Đường luật chỉ dùng vần bằng và chỉ được gieo một vần (độc vận), thông thường thì bài bốn câu (tứ tuyệt) là ba vần, bài tám câu (bát cú) là năm vần, trừ biệt lệ.

– Biệt lệ về luật bằng trắc (gọi là lệ bất luận):

Nhất tam ngũ bất luận tức là tiếng đầu, tiếng thứ ba, tiếng thứ năm trong câu không kể bằng trắc, mà vẫn không coi là thất luật.

– Biệt lệ về cách trốn vần:

Muốn trốn vần thì hai câu trốn vần đó (tức hai câu đầu) phải đối nhau (gọi là song phong).

Lờ đờ mắt trắng đời không bạn

Lận đận đầu xanh tuổi đã già…

Một bài bát cú trốn vần phải có sáu câu đối nhau.

– Thể trắc thất ngôn bát cú.

Ví dụ: QUA ĐÈO NGANG

Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

Lom khom dưới núi, tiều vài chú,

Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.

Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,

Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.

Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,

Một mảnh tình riêng, ta với ta.

(Bà Huyện Thanh Quan)

– Thể bằng thất ngôn bát cú:

Ví dụ: THU ĐIẾU

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.

Tựa gối buông cần lâu chẳng được,

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

(Nguyền Khuyến)

Xét về mặt bố cục, bài thơ thất ngôn cách luật có bốn phần (đề, thực, luận, kết):

+ Đề gồm câu phá đề và thừa đề. Đây là phần mở bài, chuẩn bị không khí cho toàn bài.

+ Thực gồm hai câu III và IV đối nhau. Đây là phần triển khai ý từ câu thừa đề, như tả cảnh, tả việc, diễn ý, cắt nghĩa, chuẩn bị cho câu luận, hoặc đã ngầm có ý luận ở trong.

+ Kết gồm hai câu VII và VIII có chức năng khép bài, nhưng thông thường là gợi ý, mở ra một ý mới khiến người đọc bâng khuâng,…

Chú ý: Lối ngắt nhịp trong câu thơ thất ngôn bát cú Đường luật theo dạng 4/3, hoặc 2/2/3, tạo nên một nhịp điệu nhẹ nhàng, uyển chuyển, mềm mại. Thể thơ bảy tiếng cổ truyền ngắt theo nhịp 3/4 hoặc 3/2/2, kết hợp với lối hiệp vần hỗn hợp cả bằng lẫn trắc, cả vần chân lẫn vần lưng, tạo nên nhịp điệu câu thơ khoẻ.

(Đinh Trọng Lạc, Tiếng Việt 11, SGV,NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000).

III. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

1. Lập dàn bài thuyết minh đặc điểm của truyện ngắn (Dựa vào một số truyện ngắn đã học như: Tôi đi học, Lão Hạc, Chiếc lá cuối cùng).

a) Mở bài

Nêu định nghĩa truyện ngắn:

Ví dụ: “Truyện ngắn là hình thức tự sự loại nhỏ… tập trung mô tả một biến cố, một hành động, một trạng thái nào đó trong cuộc đời nhân vật, thể hiện một khía cạnh của tính cách hay một mặt nào đó của đời sống xã hội”.

b) Thân bài

Nêu các đặc điểm chính của truyện ngắn:

– Đặc điểm về dung lượng: số trang viết ít, không dài.

Chỉ ra đặc điểm này trong ba truyện ngắn Tôi đi học, Lão Hạc, Chiếc lá cuối cùng.

– Đặc điểm về sự kiện, nhân vật: ít nhân vật và sự kiện vì dung lượng truyện ngắn không lớn. Thường đó chỉ là một hoặc hai nhân vật với vài ba sự kiện nhỏ.

Phân tích Tôi đi học, Lão Hạc, Chiếc lá cuối cùng để thấy rõ hơn và cụ thể hơn về điều này.

– Đặc điểm về cốt truyện:

+ Diễn ra trong một khoảng không gian và thời gian hẹp.

+ Không kể trọn vẹn quá trình diễn biến của đời người mà thường chỉ chọn một thời đoạn, thời điểm hay một khoảnh khắc nào đó để trình bày.

Tiếp tục phân tích ba tác phẩm trên.

– Ý nghĩa:

Truyện tuy ngắn, dung lượng tuy không nhiều nhưng không phái vì thế ý nghĩa xã hội của truyện ngắn không lớn. Có những truyện độ dài không lớn nhưng ý nghĩa xã hội lại hết sức sâu sắc.

Chỉ ra ý nghĩa xã hội lớn lao của ba tác phẩm Tôi đi học, Lão Hạc và Chiếc lá cuối cùng.

c) Kết bài

Nêu cảm nhân của bản thân:

– Về vẻ đẹp, về sức hấp dẫn của truyện ngắn.

– Phù hợp với cuộc sống lao động khẩn trương trong giai đoạn hiện nay.

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 5

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 4

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 5

I. Từ quan sát đến mô tả, thuyết minh đặc điểm một thể loại văn học

Đề bài: “Thuyết minh đặc điểm thể thơ thất ngôn bát cú”.

Giải câu 1 (Trang 153 SGK ngữ văn 8 tập 1)

Đọc kĩ hai bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác và Đập đá ở Côn Lôn rồi trả lời câu hỏi.

a) Mỗi bài thơ có mấy dòng, mỗi dòng có mấy chữ (tiếng)? Số dòng số chữ ấy có bắt buộc không? Có thể tùy ý thêm bớt được không?

b) Tiếng có thanh huyền và thanh ngang gọi là tiếng bằng, kí hiệu là B, các tiếng có thanh hỏi, ngã, sắc, nặng gọi là tiếng trắc, kí hiệu là T. Hãy ghi kí hiệu bằng, trắc cho từng tiếng trong hai bài thơ đó.

c) Nhận xét quan hệ bằng trắc giữa các dòng với nhau, biết rằng nếu dòng trên tiếng bằng ứng với dòng dưới tiếng trắc thì gọi là “đối” nhau, nếu dòng trên tiếng bằng ứng với dòng dưới cũng tiếng bằng thì gọi là “niêm” với nhau (dính nhau). Dựa vào kết quả quan sát, hãy nêu mối quan hệ bằng trắc giữa các dòng.

d) Vần là bộ phận của tiếng không kể dấu thanh và phụ âm đầu (nếu có). Những tiếng có bộ phận vần giống nhau, ví dụ: an, than, can, man,… là những tiếng hiệp vần với nhau. Vần có thanh huyền hoặc thanh ngang gọi là vần bằng, vần có thanh hỏi, ngã, sắc, nặng gọi là vần trắc. Hãy cho biết mỗi bài thơ có những tiếng nào hiệp vần với nhau, nằm ở vị trí nào trong dòng thơ và đó là vần bằng hay trắc.

e) Thơ muốn nhịp nhàng thì phải phải ngắt nhịp, chỗ ngắt nhịp đọc hơi ngừng lại một chút trước khi đọc tiếp đến hết dòng. Chỗ ngắt nhịp cũng đánh dấu một chỗ ngừng có nghĩa. Hãy cho biết câu thơ bảy tiếng trong bài ngắt nhịp như thế nào.

Trả lời:

a) Mỗi bài thơ có 8 dòng, mỗi dòng 7 tiếng. Số dòng số chữ ấy là bắt buộc, không được tùy ý thêm bớt.

b) Kí hiệu bằng, trắc cho từng bài thơ :

– Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác :

Vẫn là hào kiệt vẫn phong lưu

(T – B – B – T – T – B – B )

Chạy mỏi chân thì hãy ở tù

(T – T – B – B – T – T – B )

Đã khách không nhà trong bốn biển

(T – T – B – B – B – T – T )

Lại người có tội giữa năm châu

(T – B – T – T – T – B – B )

Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế

(T – B – B – T – B – B – T )

Mở miệng cười tan cuộc oán thù

Thân ấy vẫn còn, còn sự nghiệp

(B – T – T – B – B – T – T )

Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu

(B – B – B – T – T – B – B )

– Đập đá ở Côn Lôn :

Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn

(B – B – T – T – T – B – B )

Lừng lẫy làm cho lở núi non

(B – T – B – B – T – T – B )

Xách búa đánh tan năm bảy đống

(T – T – T – B – B – T – T )

Ra tay đập bể mấy trăm hòn

Tháng ngày bao quản thân sành sỏi

Mưa nắng càng bền dạ sắt son

Những kẻ vá trời khi lỡ bước

Gian nan chi kể việc con con

c) Nhận xét quan hệ bằng trắc :

– Tiếng thứ 4 của các câu luôn trái thanh với tiếng thứ 2 và thứ 6. Ví dụ câu 1 bài Đập đá ở Côn Lôn : B – B – T – T – T – B – B

– Các tiếng 2, 4, 6 của các cặp câu 1-2, 3-4, 5-6, 7-8 luôn trái ngược về thanh.

– Các tiếng 2, 4, 6 của câu 1-8, 2-3, 4-5, 6-7 trùng nhau về thanh điệu.

d) Những tiếng hiệp vần với nhau trong bài thơ là ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8.

e) Thường ngắt nhịp chẵn lẻ : 4/3, 2/2/3

Giải câu 2 (Trang 153 SGK ngữ văn 8 tập 1)

Lập dàn bài: Thuyết minh đặc điểm thể thơ thất ngôn bát cú

a) Mở bài: Nêu định nghĩa chung về thể thơ.

Ví dụ: Thất ngôn bát cú là một thể thơ thông dụng trong các thể thơ Đường luật, một thể thơ được viết theo luật đặt ra từ thời nhà Đường ( 618 – 907 ) được các nhà thơ rất yêu thích. Các nhà thơ cổ điển VN ai cũng làm thơ theo thể thơ này bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm.

b) Thân bài: Giới thiệu các đặc diểm của thể thơ:

– Số câu, số chữ– Quy luật B – T– Cách gieo vần– Cách ngắt nhịp…– Bố cục– Nghệ thuật đối

Ưu điểm: Bài thơ có vẻ đẹp hài hòa cân đối ( số câu chữ bố cục ) âm thanh nhạc điệu trầm bổng ( vần luật bằng trắc )

Hạn chế: Vì niêm luật chặt chẽ nên việc diễn tả cảm xúc gò bó vì bị ràng buộc không được tự do như thơ tự do.

c) Kết bài: Cảm nhận của người viết về vẻ đẹp, nhạc điệu của thể thơ.

Ví dụ: Đây là thể thơ quan trọng có nhiều tác phẩm có giá trị được làm theo thể thơ này. Và cho đến nay nó vẫn được ưa chuộng.

II. Luyện tập

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 3

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 4

I. Từ quan sát, nghe – đọc đến mô tả, thuyết minh về một thể loại văn học

Đề bài: Thuyết minh đặc điểm của thể thơ thất ngôn bát cú.

1. Quan sát

Đọc kĩ hai bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác và Đập đá ở Côn Lôn rồi trả lời các câu hỏi :a. Mỗi bài thơ có mấy dòng, mỗi dòng có mấy chữ (tiếng)? Số dòng, số chữ ấy có bắt buộc không? Có thể tuỳ ý thêm bớt được không?b. Tiếng có thanh huyền và thanh ngang gọi là tiếng bằng, kí hiệu B, các tiếng có thanh hỏi, ngã, sắc, nặng gọi là tiếng trắc, kí hiệu T. Hãy ghi kí hiệu bằng, trắc cho từng tiếng trong bài thơ đó.c. Nhận xét quan hệ bằng trắc giữa các dòng với nhau, biết rằng nếu dòng trên tiếng bằng ứng với dòng dưới tiếng trắc thì gọi là “đối” nhau, nếu dòng trên tiếng bằng ứng với dòng dưới cũng tiếng bằng thì gọi là “niêm” với nhau (dính nhau).

Dựa vào kết quả quan sát, hãy nêu mối quan hệ bằng trắc giữa các dòng.d. Vần là bộ phận của tiếng không kể dấu thanh và phụ âm đầu (nếu có). Những tiếng có bộ phận vần giống nhau, ví dụ: an, than, can, man… là những tiếng hiệp vần nhau. Vần có thanh huyền hoặc thanh ngang gọi là vần bằng, ván có thanh hỏi, ngã, sắc, nặng gọi là vần trắc. Hãy cho biết mỗi bài thơ có những tiếng nào hiệp vần với nhau, nằm ở vị trí nào trong dòng thơ và đó là vần bằng hay vần trắc.e. Thơ muốn nhịp nhàng thì phải ngắt nhịp, chỗ ngắt nhịp đọc hơi ngừng lại một chút trước khi đọc tiếp đến hết dòng. Chỗ ngắt nhịp cũng đánh dấu một chỗ ngừng có nghĩa. Hãy cho biết câu thơ bảy tiếng trong bài ngắt nhịp như thế nào?

a. Quan sát:

Quan sát hai bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác và Đập đá Côn Lôn. – Mỗi bài thơ có 8 dòng, mỗi dòng có 7 tiếng, số dòng số chữ bắt buộc theo quy định.

Quan hệ bằng trắc theo quy định, đặc biệt ở các tiếng 2-4-6.

Vẫn rơi vài câu cuối dòng, vần bằng vào các câu 2-4-6-8: non, hôn, sen, con. – Ngắt nhịp 4/3/ “Vẫn là hào kiệt / vẫn phong lưu Chạy mỏi chân thì / hãy ở tù’’.

b. Ghi lại luật bằng, trắc. Những từ có dấu huyền, không dấu (thanh bằng – B), các dấu còn lại (thanh trắc – T)

Bài Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác

Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu. (T-B-B-T-T-B-B)

Chạy mỏi chân thì hãy ở tù. (T-T-B-B-T-T-B)

Đã khách không nhà trong bốn biển, (T – T – B – B – B – T – T)

Lại người có tội giữa năm châu. (T-B-T-T-T-B-B)

Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế, (T-B B-T-B-B-T)

Mà miệng cười tan cuộc oán thù. (T – T – B – B – T – T – B)

Thân ấy vẫn còn, còn sự nghiệp, (B-T-T-B-B-T-T)

Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu. (B-B-B-T-T-B-B)

Bài Đập đá ở Côn Lôn

Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn, (B-B-T-T-T-B-B)

Lừng lẫy làm cho lở núi non. (B-T-B-B-T-T-B)

Xách búa đánh tan năm bảy đống, (T – T – T – B – B – T – T)

Ra tay đập bể mấy trăm hòn. (B-B-T-T-T-B-B)

Tháng ngày bao quản thân sành sỏi, (T-B-B-T-B-B-T)

Mưa nắng càng bền dạ sắt son. (B-T-B-B-T-T-B)

Những kẻ vá trời khi lỡ bước, (T-T-T-B-B-T-T)

Gian nan chi kể việc con con. (B- B – B – T – T – B – B)

2. Lập dàn bài:

Ghi nhớ:

Muốn thuyết minh đặc điểm một thể loại văn học (thể thơ hay văn bản cụ thể), trước hết phải quan sát, nhận xét, sau đó khái quát thành những đặc điểm.

Khi nêu các đặc điểm, cần lựa chọn những đặc điểm tiêu biểu, quan trọng và cần có những ví dụ cụ thể để làm sáng tỏ các đặc điểm ấy.

Câu 1+2: trang 154 sgk Ngữ Văn 8 tập một

TRUYỆN NGẮN

Truyện ngắn là hình thức tự sự loại nhỏ. Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ, tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống: một biến cố, một hành động, một trạng thái nào đó trong cuộc đời của nhân vật, thể hiện một khía cạnh của tính cách hay một mặt nào đó của đời sống xã họi. Do đó, truyện ngắn thường ít nhân vật và sự kiện.

Truyện ngắn tuy ngắn nhưng cũng có thể đề cập tới những vấn đề lớn của cuộc đời. Tác phẩm của nhiều bậc thầy trong thể loại này đã cho ta biết điều đó.

Truyện ngắn là một thể loại văn học gần gũi và ta có thể sẽ tiếp xúc hàng ngày với chúng. Có rất nhiều những nhận định khác nhau về truyện ngắn, song, truyện ngắn là hình thức tự sự loại nhỏ để tái hiện lại một mảnh nhỏ của cuộc sống, có thể là môt biến cố, một hành động, một trạng thái trong cuộc đời của nhân vật, thể hiện một khía cạnh của tính cách hay một mặt nào đó của đời sống xã hội. Truyện ngắn thường có dung lượng ngắn, khoảng vài trang hoặc vài chục trang, sự kiện và nhân vật không nhiều. Còn những truyện cực ngắn chỉ khoảng vài trăm chữ.

Hệ quả của số lượng nhân vật ít là biến cố trong, sự kiện trong truyện cũng không nhiều. Bởi người nghệ sĩ sẽ chỉ lựa chọn một hoặc một vài sự kiện, biến cố trong cuộc đời nhân vật để khắc họa tính cách, số phận của nhân vật mà thôi. Như trong tác phẩm Tôi đi học tác giả đã lựa chọn cảm xúc của nhân vật tôi trong ngày khai giảng đầu tiên của cuộc đời, nhân vật trong truyện chỉ có người mẹ và nhân vật tôi. Truyện ngắn Lão Hạc có nhân vật lão Hạc, ông giáo, Binh Tư, cậu con trai, vợ ông giáo (chỉ được nhắc qua), những người dân trong làng (xuất hiện với vai trò là người chứng kiến cái chết của lão Hạc) và có sự kiện nổi bật trong tác phẩm là khi lão Hạc quyết định bán con chó Vàng để không phải ăn vào tiền của cậu con trai. Còn trong truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của O.Hen-ri câu chuyện chỉ xoay quanh các nhân vật Giôn-xi, cụ Bơ-men và Xiu với bức họa Chiếc lá cuối cùng .

Thứ hai, cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một không gian, thời gian hạn chế. Nó không kể chọn vẹn một quá trình diễn biến một đời người mà chọn lấy khoảnh khắc, những “lát cắt” của cuộc sống để thể hiện. Thanh Tịnh đã lựa chọn không gian biến đổi từ nhà tới trường học, trong khoảng thời gian như được kéo dài từ tối hôm trước đến sáng hôm sau, khi con bước chân qua cánh cổng trường để bắt đầu đi học. Nam Cao lựa chọn khắc họa lão Hạc trong khoảng thời gian lão sống xa con, lúc lão ốm đau bệnh tật và lựa chọn cái chết đau đớn đế giữ lại mảnh vườn cho con trai. Còn O. Hen-ri lại bắt đầu câu chuyện của mình bằng sự chán nản, tuyệt vọng để rồi người đọc thấ được sự hồi sinh trong tâm hồn cô gái trẻ khi trông thấy bức tranh vẽ chiếc lá cuối cùng bên bậu cửa sổ của cụ Bơ-men. Cả ba tác phẩm người đọc chỉ nhìn thấy một đoạn, một lát cắt trong cuộc đời của nhân vật chứ không phải là toàn bộ cuộc đời họ, từ lúc họ sinh ra, lớn lên, trưởng thành như thế nào.Điều ấy cũng đồng nghĩa với truyện ngắn chỉ là những khoảng khắc của cuộc sống, của đời người, nhưng chừng ấy cũng đủ để người đọc nhận ra được bản chất của nhân vật, con người trong tác phẩm ấy.

Không phải ngẫu nhiên Nam Cao lại đặt nhân vật ông giáo trong cái nhìn đối sánh với lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của mình. Tác giả muốn ông giáo có thể tìm thấy được mình trong cuộc đời của lão Hạc và cùng là để ca ngợi phẩm chất cao thượng, lương thiện của người nông dân trong xã hội xưa. O. Hen-ri đã rất thành công khi sử dụng hai lần thủ pháp đảo ngược tình huống gây ra sự bất ngờ đến ngỡ ngàng cho người đọc. Sự hồi phục đầy kinh ngạc của Giôn-xi và cái chết không báo trước của cụ Bơ-men. Tất cả những chi tiết ấy là làm sống dậy tình người giữa những con người nghèo khổ với nhau.

Tuy dung lượng không dài song truyện ngắn là một thể loại mang tới cho người đọc nhiều cung bậc cảm xúc và những bài học nhận thức sâu sắc trong cuộc sống. Đến tận ngày nay, vai trò của truyện ngắn trong đời sống của con người vẫn không thể phủ nhận.

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 2

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 3

Phần I

TỪ QUAN SÁT ĐẾN MÔ TẢ, THUYẾT MINH ĐẶC ĐIỂM MỘT THỂ LOẠI VĂN HỌC

Quan sát, nghe – đọc

Đọc kĩ hai bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác và Đập đá ở Côn Lôn theo định hướng sau:

a. Mỗi bài thơ có mấy dòng? Mỗi dòng thơ có mấy chữ (tiếng)? Số dòng, số chữ ấy có thể thay đổi được không?

b. Những tiếng nào được gọi là bằng (kí hiệu là B), tiếng nào được gọi là trắc (kí hiệu là T)? Hãy ghi kí hiệu B hoặc T cho từng tiếng trong bài thơ đó.

c. Nhận xét quan hệ bằng trắc giữa các dòng với nhau, biết rằng nếu dòng trên tiếng bằng ứng với dòng dưới tiếng trắc gọi là đối nhau, nếu dòng trên tiếng bằng ứng với dòng dưới cũng là tiếng bằng gọi là niêm với nhau. Dựa vào kết quả quan sát, hãy nêu mối quan hệ bằng trắc giữa các dòng.

d. Hãy cho biết mỗi bài thơ có những tiếng nào hiệp vần với nhau, nằm ở vị trí nào trong dòng thơ, đó là vần bằng hay trắc.

e. Hãy cho biết câu thơ tiếng bảy tiếng trong bài ngắt nhịp thế nào?

Lời giải chi tiết:

1. Quan sát Bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác

a) Bài thơ có 8 dòng, mỗi dòng 7 chữ (tiếng). Số dòng, số chữ ấy là bắt buộc. Không thể tuỳ ý thêm bớt.

b) Tiếng bằng, tiếng trắc:

Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu.

(T-B-B-T-T-B-B)

Chạy mỏi chân thì hãy ở tù.

(T-T-B-B-T-T-B)

Đã khách không nhà trong bốn biển,

(T – T – B – B – B – T – T)

Lại người có tội giữa năm châu.

(T-B-T-T-T-B-B)

Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế,

(T-B B-T-B-B-T)

Mà miệng cười tan cuộc oán thù.

(T – T – B – B – T – T – B)

Thân ấy vẫn còn, còn sự nghiệp,

(B-T-T-B-B-T-T)

Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì dâu.

(B-B-B-T-T-B-B)

c) Dòng 1 và 2 đối nhau (tiếng là bằng, tiếng mỏi trắc), dòng 2 và 3 niêm nhau (tiếng mỏi trắc, tiếng khách trắc), dòng 3 và 4 đối nhau (tiếng khách trắc, tiếng người bằng), dòng 4 và 5 niêm nhau (tiếng người bằng, tiếng tay bằng), dòng 5 và 6 đối nhau (tiếng tay bằng, tiếng miệng trắc), dòng 6 và 7 niêm nhau (tiếng miệng trắc, tiếng ấy trắc), dòng 7 và 8 đối nhau (tiếng ấy trắc, tiếng nhiều bằng), dòng 1 và 8 niêm nhau (tiếng là bằng, tiếng nhiêu bằng). Hệ thống bằng – trắc được tính từ âm tiết thứ hai cùa mỗi dòng thơ. Âm tiết thứ hai ở dòng thứ nhất của bài thơ này là bằng cho nên bài thơ thuộc thể bằng.

d) Ở bài thơ này, khẩu khí, những câu thơ đối nhau đã góp phần tạo nên âm hưởng, nhịp điệu của bài thơ.

e) Các câu thơ trong bài ngắt nhịp 4/3.

2. Bài thơ Đập đá ở Côn Lôn

Làm trai dứng giữa đất Côn Lôn,

(B-B-T-T-T-B-B)

(B-T-B-B-T-T-B)

Xách búa đánh tan năm bảy đống,

(T – T – T – B – B – T – T)

Ra tay đập bể mấy trăm hòn.

Tháng ngày bao quản thân sành sỏi,

(T-B-B-T-B-B-T)

Mưa nắng càng bền dạ sắt son.

Những kẻ vá trời khi lỡ bước,

(T-T-T-B-B-T-T)

Gian nan chi kể việc con con.

(B- B – B – T – T – B – B)

c) Dòng 1 và 2 đối nhau, dòng 2 và 3 niêm nhau… Bài thơ được làm theo thể bằng.

d) Các tiếng có vần giống nhau là những tiếng cuối của các dòng: 1, 2, 4, 6, 8 (vần on). Đó là vần bằng.

e) Các câu thơ trong bài ngắt nhịp 4/ 3.

Phần II

LUYỆN TẬP

Câu 1 (trang 154 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Qua các truyện ngắn đã đọc (Tôi đi học, Lão Hạc, Chiếc lá cuối cùng,…), hãy thuyết minh về đặc điểm của thể loại truyện ngắn.

Mở bài:

– Nêu định nghĩa về truyện ngắn

Thân bài:

– Nêu các đặc điểm chính của truyện ngắn

+ Đặc điểm về dung lượng: số trang viết ít, không dài.

– Đặc điểm về sự kiện, nhân vật: ít nhân vật và sự kiện vì dung lượng truyện ngắn không lớn. Thường chỉ vài nhân vật và sự kiện nhỏ.

+ Diễn ra trong một khoảng thời gian và không gian hẹp

+ Không diễn đạt trọn vẹn cuộc đời mà diễn đạt theo từng khoảng thời gian

– Ý nghĩa: Mang ý nghĩa nhân sinh, ý nghĩa xã hội.

Kết bài: Nêu cảm nhận của bản thân:

+ Về vẻ đẹp, sức hấp dẫn của truyện ngắn

+ Phù hợp với cuộc sống lao động khẩn trương hiện nay

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 2

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 1

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 2

Đề bài: Thuyết minh đặc điểm thể thơ thất ngôn bát cú

a, Mỗi bài thơ có 7 tiếng, số dòng và số chữ có bắt buộc và không thể tùy tiện thêm bớt.

b, Sử dụng kí hiệu bằng trắc cho hai bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác và Đập đá ở Côn Lôn

( T-B-B-T/ – T- B- B )

( T- T-B-B-T-T-B)

( T- T- B- B- B-T-T)

( T- B- T- T-T-B-B)

( T- B- B- T-B- B-T)

Miệng cười tan cuộc oán thù

( T- T- B- T- T- B)

( B- T- T- T/ B- T-T)

Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu.

( B- B-B- T- T- T- B)

c, Niêm luật của bài thơ:

+ Niêm (dính nhau) tiếng dòng trên tương ứng với dòng dưới đều B

+ Đối: tiếng dòng trên B ứng với tiếng dòng dưới T

d, Những tiếng ở cuối câu luôn hiệp vần với nhau, câu 1- 2- 4- 6- 8

e, Thường ngắt nhịp chẵn lẻ: 4/3 ; 2/2/ 3

Đăng bởi: Thiều Phạm

Từ khoá: 6 Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” (lớp 8) hay nhất

Nghị Luận Chiều Tối ❤️️ 15 Bài Văn Ngắn Gọn Hay Nhất

Nghị Luận Chiều Tối ❤️️ 15 Bài Văn Ngắn Gọn Hay Nhất ✅ Tuyển Tập Đặc Sắc Về Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Thi Phẩm Của Hồ Chí Minh.

I. Mở bài nghị luận “Chiều tối”: Giới thiệu về tập thơ “Nhật kí trong tù” và bài thơ Chiều tối.

Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố cổ điển và yếu tố hiện đại, giữa tâm hồn của người chiến sĩ và thi sĩ luôn luôn được thể hiện một cách tinh tế, sâu sắc.

Chiều tối là một trong những bài thơ tiêu biểu và độc đáo nhất.

II. Thân bài nghị luận “Chiều tối”:

-Hoàn cảnh sáng tác: Sáng tác vào cuối thu năm 1942, khi Hồ Chí Minh bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam và áp giải từ nhà lao Tĩnh Tây đến Thiên Bảo (Trung Quốc), trong một buổi chiều chuyển ngục.

-Bức tranh thiên nhiên núi rừng trong hai câu thơ đầu:

Hình ảnh cánh chim là thi liệu vốn rất quen thuộc trong thơ cổ, nhưng vào trong thơ Bác lại xem lẫn cả nét hiện đại. Cánh chim mỏi mệt, tìm chốn ngủ có sự tương đồng với tình cảnh của Bác.

Hình ảnh chòm mây trôi lơ lửng, cũng là thi liệu cổ điển, gợi sự ung dung, tự tại, nhưng đồng thời mang nét hiện đại bộc lộ tâm trạng của người tù (lẻ loi, cô đơn).

-Bức tranh cuộc sống sinh hoạt trong hai câu thơ cuối:

III. Kết bài nghị luận “Chiều tối”: Khái quát lại những giá trị của tác phẩm.

Khái quát đặc sắc nghệ thuật: sử dụng từ hán ngữ; bút pháp ước lệ tượng trưng: lấy mây điểm trăng; lấy động tả tĩnh, lấy cảnh vật để khắc tạc thời gian, nhấn nhá nỗi niềm con người; nét cổ điển xen lẫn hiện đại…

Khái quát giá trị nội dung: Bức tranh thiên nhiên bao la, rộng lớn nhưng vắng vẻ, cô quạnh. Hình tượng con người với sức sống mãnh liệt, ung dung, tự tại giữa gông cùm, xiềng xích.

Mời bạn khám phá thêm 💕 Dàn Ý Phân Tích Chiều Tối 💕 Mẫu Lập Dàn Ý Nghị Luận Văn Học Chuẩn Nhất

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng, một người chiến sĩ quốc tế luôn mang trong mình tình yêu quê hương đất nước và khát khao giải phóng dân tộc. Cả cuộc đời Bác dành cho sự nghiệp cách mạng không chỉ vậy Bác còn là một nhà văn hóa lớn có nhiều đóng góp trong lĩnh vực văn chương.

Cảm hứng thi sĩ đến bất cứ lúc nào với người chiến sĩ cộng sản dù cho khi bị giam bắt, tù đày nhưng không thể giam cầm được tâm hồn của Người. Bài thơ “Chiều tối” là tác phẩm được sáng tác khi Bác bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam vô cớ nhưng vẫn thể hiện tình yêu thiên nhiên, con người và tinh thần lạc quan, có niềm tin vào tương lai tươi sáng của Hồ Chí Minh.

Trong đó bài thơ “Chiều tối” là bài số 31 khi Người bị thiên chuyển từ nhà lao Tĩnh Tây sang nhà lao Thiên Bảo năm 1942. Trong khoảnh khắc chiều tà mênh mông cùng với tâm hồn thi nhân đã tạo cảm hứng để người tù sáng tác gửi gắm vào thơ ca tâm trạng, tình cảm của mình. Nổi lên trong bài thơ là hình ảnh thiên nhiên và con người lao động nơi đất khách quê người.

Chia sẻ 🌼 Phân Tích Bài Thơ Chiều Tối Của Hồ Chí Minh 🌼 Tuyển Tập Nghị Luận Văn Học Hay Nhất

Nghị luận thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh là một trong những đề bài phổ biến của chương trình môn Ngữ văn, để ôn tập kỹ lưỡng các em học sinh có thể tham khảo bài văn hoàn chỉnh như sau:

Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam đồng thời cũng là nhà thơ, danh nhân văn hóa thế giới. Trong suốt sự nghiệp cứu nước của mình, Người đã trải qua vô vàn những khó khăn, thử thách. Tuy nhiên, điều đáng quý nhất là dù hoàn cảnh có khắc nghiệt đến đâu ta vẫn thấy một Hồ Chí Minh yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống và nghị lực vươn lên nghịch cảnh phi thường. Bài thơ Chiều tối chính là tiêu biểu cho phong cách thơ trữ tình và tâm hồn của Người.

Nhan đề bài thơ đã gợi mở ra không gian, thời gian của cả bài thơ, “Chiều tối” là thời khắc cuối cùng của một ngày, nó gợi mở ra không gian u tối, vắng lặng. Với một người tù chính trị thì đây cũng là chặng cuối cùng của sau hành trình chuyển lao đầy mệt mỏi. Thế nhưng với một người lạc quan như Bác, ta không hề nhìn thấy cảnh tù đày khắc nghiệt khiến con người kiệt quệ về sức lực mà lại là khung cảnh thiên nhiên thanh bình, êm ả nơi núi rừng biên ải xa xôi.

Dịch thơ:

Quên đi những mệt mỏi thể xác, Người vừa đi vừa ngước nhìn lên bầu trời và bắt gặp một cánh chim trời “Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ” và một chòm mây đang trôi lơ lửng. Chỉ bằng vài nét chấm phá cổ điển, cảnh sắc thiên nhiên hiện lên thanh bình, vắng vẻ nhưng lại âm u, hiu quanh, không âm thanh, không màu sắc.

“Cánh chim mỏi” còn cho thấy sự cảm nhận tinh tế của nhà thơ, cánh chim đã mỏi sau ngày dài bay đi tìm kiếm thức ăn, cũng giống như đôi chân của người tù đang mệt mỏi sau ngày dài lê bước trên đường. Ta cảm nhận được sự đồng cảnh giữa tâm hồn nhà thơ và thiên nhiên mà cội nguồn của sự cảm thông, đồng cảnh ấy xuất phát từ tình yêu mênh mông của Bác dành cho mọi sự sống có mặt trên đời.

Hình ảnh ‘chòm mây” lại mang cho ta những cảm nhận về tâm thế, trạng thái ung dung thư thái của người tù. Đám mây đồng điệu với tâm hồn Người, mang tâm trạng và sự cô đơn của người tù. Bác thực sự là một người chiến sĩ kiên cường, nếu không có ý chí và nghị lực sắt đá trong hoàn cảnh tù đày sẽ không thể có được những câu thơ cảm nhận thiên nhiên sâu sắc và tinh tế đến như vậy.

Dịch thơ:

Bức tranh thiên nhiên chỉ là những nét chấm phá nhưng chuyển sang bức tranh đời sống lao động lại vô cùng hiện thực, sinh động. Hình ảnh đời thường về một cô gái đang xay ngô tối là vẻ đẹp của người phụ nữ lao động nói riêng và nét đẹp lao động nói chung. Giờ phút ấy Bác đã quên đi cái đau khổ của mình mà cảm nhận cuộc sống của nhân dân

Hình ảnh “thiếu nữ xay ngô tối” tạo nên sức sống, sự sống động của cuộc sống lao động bình dị giữa nơi núi rừng hoang vu, mang lại cho người tù đày chút hơi ấm của sự sống, chút niềm vui và hạnh phúc lao động, tuy vất vả mà tự do. Hình ảnh lò than rực hồng cũng là thời khắc chấm dứt buổi chiều bước vào đêm tối, nhưng không còn là đêm tối lạnh lẽo âm u mà đã có ánh sáng và hơi ấm.

Lò than như một chấm lửa sáng mà nghệ sĩ chấm vào bức tranh mang lại thần sắc cho toàn cảnh, tăng thêm sức mạnh cho người tù tiếp tục chặng đường dài. Ta có cảm giác như người chiến sĩ đang lưu lạc nơi đất khách quê người là Bác đây đang có chút mơ ước về mái ấm gia đình, về quê hương đất nước của mình. Cô gái, xây ngô và bếp lửa gợi không gian sinh hoạt ấm cúng, nghỉ ngơi và sum họp, tất cả hình ảnh đó thôi thúc người tù phải cố gắng và kiên cường hơn nữa để sớm ngày trở về quê hương.

Có thể nói, bài thơ Chiều tối là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ trữ tình của Hồ Chí Minh. Mọi tâm trạng, cảm nghĩ trong sâu thẳm nội tâm của người tù đày không bộc lộ một cách trực tiếp mà thông qua cách cảm nhận hình ảnh, cảnh vật một cách khách quan. Từng chi tiết, từng hình ảnh lại có mối quan hệ với nhau, mang những giá trị tư tưởng, nghệ thuật riêng. Nổi bật nhất vẫn là tinh thần lạc quan của Bác trong hoàn cảnh khắc nghiệt.

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Đón đọc bài mẫu đề văn nghị luận Chiều tối sẽ giúp các em học sinh có thêm ý tưởng hay để hoàn thành tốt bài viết của mình.

Một tác phẩm hay là tác phẩm hàm chứa giá trị tư tưởng sâu sắc. Ở đó, ta không chỉ thấy được tài năng của người viết mà còn chứa đựng cả một tâm hồn, một cốt cách của thi nhân. Bài thơ Chiều tối là một bài thơ như thế, Hồ Chí Minh- vị lãnh tụ kính yêu của đất nước, một nhà thơ của dân tộc mang một tình cảm lớn lao với Tổ Quốc đã viết nên những vần thơ chạm vào đáy hồn nhân thế. Mà có lẽ, bài thơ còn giá trị cho đến tận mãi về sau.

Sau ngày dài kiếm ăn, từng đàn chim nối đuôi nhau trở về nơi rừng mong tìm chốn nghỉ ngơi.Cánh chim mỏi mệt đập nhẹ giữa không trung trong buổi chiều tàn. Chòm mây cô độc trôi lững lờ giữa khoảng không vô định, cảnh vật tuy nhẹ nhàng nhưng mang một nỗi buồn man mác. Lạ kì thay, là cảnh buồn hay chính nơi tâm hồn người tù nhân cũng đang ưu sầu nơi chốn xa quê hương.

Thời khắc của ngày tàn cũng là khi màn đêm buông xuống, đây là lúc người ta tạm gác mọi công việc để trở về nơi gia đình quây quần bên bữa cơm gia đình. Phải chăng ngay lúc ấy, Bác cũng đang khát khao được đứng nơi đất nước mình, được cùng nhân dân, cùng những người con dân tộc sum họp. Vậy mà, thực tại muôn nỗi khó khăn, bởi vậy mà cảnh cũng đeo sầu, đám mây cô độc, cánh chim mỏi mệt là những hình ảnh ẩn dụ cho những lúc yếu lòng, cảm thấy cô đơn, lẻ loi của Người nơi đất khách quê người.

Nỗi nhớ quê hương da diết trong tâm khảm nhà thơ, càng cô độc bao nhiêu thì nỗi nhớ lại càng lớn bấy nhiêu. Bằng biện pháp tả cảnh ngụ tình quen thuộc, tâm trạng của Bác được bộc lộ rõ rệt. Cảnh và tình tuy hai mà một – người mang nỗi niềm, cảnh cũng chẳng thể nào vui.

Không gian sinh hoạt mở ra thật giản dị. Người con gái xay ngô giữa bầu trời đêm bình yên đến lạ kì. Giữa bao nhiêu cái kì vĩ, lớn lao khác, Bác lại nhìn về cảnh lao động – xay ngô tối. Chắc hẳn, Bác đã rất trân trọng cái khoảnh khắc này, trân trọng sức lao động của con người trong mỗi khoảnh khắc của thời gian. Phải có một tâm hồn tinh tế, nhà thơ mới có thể nhận ra được vẻ đẹp rất đỗi bình dị trong đời sống như thế. Đó là vẻ đẹp của con người giữa cuộc đời thiếu thốn, tuy vất vả mà rất đỗi ấm cúng, đáng quý, đáng yêu.

Hình ảnh con người lao động hoà hợp với vẻ đẹp thiên nhiên làm cho bức tranh chiều tối dường như ấm áp hơn, sinh động hơn. Đem đến sức sống cho cảnh núi rừng, dù buồn nhưng tràn trề nhựa sống. Dường như, đó là khát khao hướng tới sự sống, hướng tới những điều tốt đẹp, ước mơ vươn tới tự do cho muôn người, sống trong gian khổ tù đày ta lại càng trân trọng cuộc sống lao động .

Từ “hồng” trở thành nhãn tự, là trung tâm của bài thơ. Ngọn lửa không đơn thuần chỉ là một sự vật, mà nó là biểu tượng cho ngọn lửa của cách mạng, ngọn lửa của tình yêu hoà bình. Ngọn lửa xua tan đi màn đêm lạnh giá, xua tan đi những nỗi mệt mỏi của ngày dài, xưa tan nỗi trầm tư trong lòng người tù cách mạng. Ngọn lửa hồng thắp lên niềm tin vào một tương lai tốt đẹp cho dân tộc, hơn hết là sự bình yên trong lao động của nhân dân.

Đọc bài thơ, ai cũng sẽ có riêng cho mình những suy ngẫm.Với em, bài thơ không chỉ cho em thấy được tình yêu Tổ Quốc của Bác, mà qua đó càng trân trọng hơn cuộc sống lao động của những con người chân chất giản dị, thêm trân trọng cuộc sống tự do hoà bình mà thế hệ chúng em hôm nay có được. Từ đó, càng kính yêu Bác Hồ với tấm lòng bao la rộng lớn, thêm tự hào về hồn thơ lớn của dân tộc.

Đồng thời bài thơ mang đến bài học về thái độ sống trước cuộc đời, trong bão bùng gian lao, trước những gian khó, thử thách của cuộc sống vẫn giữ vững niềm tin, hướng tới ngọn lửa hồng, hướng tới một tương lai đầy hi vọng. Thử thách của hiện tại dù khiến bản thân áp lực nhưng không thể làm ta gục ngã, mệt mỏi có thể chùn chân nhưng không được lùi về phía sau, hướng về phía mặt trời, bóng tối sẽ ở phía sau bạn. Hãy giữ vững tinh thần lạc quan trong mọi hoàn cảnh.

Tặng bạn 🌹 Cảm Nhận Bài Thơ Chiều Tối 🌹 Những Bài Nghị Luận Văn Học Hay

Bài văn nghị luận tác phẩm Chiều tối hay nhất sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho bạn đọc và các em học sinh.

Nhận xét về tập thơ “Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh, nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh đã viết: “Quy luật thống nhất giữa cách mạng và thơ ca chân chính đã khiến cho Bác Hồ trong khi đào luyện mình thành một chiến sĩ cách mạng vĩ đại đã cùng lúc, ngoài ý muốn của Người, tự chuẩn bị cho mình những điều kiện để trở thành một nhà thơ lớn”. Đây là tập thơ bằng chữ Hán được Bác viết trong thời kì bị chính quyền Tưởng giới Thạch bắt giam. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của tập thơ này là bài thơ “Chiều tối”.

“Chiều tối” được sáng tác trong hoàn cảnh Người bị giải đi từ nhà lao Tĩnh Tây đến nhà lao Thiên Bảo vào thời gian cuối mùa thu năm 1942. Khó khăn, thử thách không thể làm chùn bước chân của người chiến sĩ. Bác làm thơ để “ngâm ngợi cho khuây” và cũng là để đợi đến ngày được tự do. Những vần thơ của Người không chỉ “mênh mông bát ngát tình” (Hoàng Trung Thông) mà đó còn là những vần thơ thép, thể hiện một tinh thần thép.

Chỉ bằng bút pháp gợi tả và đôi nét chấm phá của Đường thi, Hồ Chí Minh đã khắc họa lại bức tranh thiên nhiên trên đường chuyển lao qua hai câu đầu của bài thơ:

Chiều tối là khoảng thời gian những chú chim sải cánh bay đi tìm chốn ngủ cho mình sau một ngày kiếm ăn mệt mỏi. Cánh chim bay trong buổi hoàng hôn gợi lên sự nhỏ bé giữa một không gian rộng lớn của cả cánh rừng. Ta có thể bắt gặp hình ảnh quen thuộc này trong thơ ca truyền thống như câu ca dao: “Chim bay về núi tối rồi” hay trong câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan:

Chiều tà đã buông xuống khép lại một ngày dài để nhường chỗ cho màn đêm và bóng tối ngự trị. Đó là thời gian vạn vật quây quần bên nhau nhưng cũng là thời gian gợi nỗi buồn. Những chú chim đã tìm được nơi chốn để dưỡng sức còn người tù thì không thể tránh khỏi cảm giác chạnh lòng. Bác khao khát có một chốn dừng chân để nghỉ ngơi. Mệt mỏi, cô đơn là vậy nhưng người chiến sĩ cách mạng vĩ đại ấy không hề kêu than. Bác đối mặt với hoàn cảnh bằng một ý chí và nghị lực phi thường.

Giữa không gian bao la ấy còn có sự góp mặt của những chòm mây trôi lững lờ, cô đơn, lẻ loi. So với nguyên tác thì bản dịch đã dịch thiếu chữ “cô” làm ý thơ không diễn đạt được sự đơn lẻ của chòm mây trên tầng không. Không chỉ có cánh chim mà cả chòm mây cũng mang cảm giác cô độc. Phải là một con người có tình yêu thiên nhiên và lòng yêu đời tha thiết thì Bác Hồ mới thấy được cái hồn của cảnh vật.

Bức tranh thiên nhiên núi rừng buổi chiều tà được gợi tả qua một vài chi tiết nổi bật đã làm hiện lên một tâm hồn thi sĩ. Tâm hồn ấy giao hòa và cảm thông với vạn vật bởi giữa vạn vật và bản thân người thi sĩ có sự tương đồng. Tay chân bị xiềng xích, gông cùm kìm kẹp nhưng Hồ Chí Minh vẫn giữ cho mình phong thái ung dung, đĩnh đạc. Nếu không phải là một người có tinh thần thép kiên cường và một tinh thần lạc quan thì có lẽ Người đã không hướng hồn mình ra thế giới bên ngoài để ngắm nhìn, cảm nhận chúng.

Ta có thể dễ dàng nhận thấy những thi liệu thơ Đường được sử dụng trong hai câu thơ: Thời gian chiều tối, hình ảnh cánh chim, chòm mây, những thi liệu cổ này đều gợi một nỗi buồn hiu hắt, quạnh vắng cho cả chính chủ thể trữ tình và người đọc. Đồng thời những hình ảnh ước lệ đó cũng diễn tả sự vận động tinh tế của thời gian, cảnh vật khi chiều tà buông xuống nơi đất khách.

Nếu hai câu thơ đầu miêu tả bức tranh thiên nhiên núi rừng thì hai câu thơ sau miêu tả khung cảnh sinh hoạt của cuộc sống con người:

Dấu hiệu của cuộc sống con người đã xuất hiện đẩy lùi đi nỗi buồn của người tù. Con người là chủ thể, trung tâm của bức tranh sinh hoạt này. Bác đã có cái nhìn từ bao quát toàn cảnh đến chi tiết, từ xa đến gần, từ bầu trời xuống mặt đất để thấy được cuộc sống con người xóm núi. Vòng quay của cối xay ngô cứ lặp đi lặp lại đều đều qua từ ngữ “ma bao túc”, “bao túc ma hoàn” cho thấy những vòng quay cứ nối tiếp nhau diễn tả cuộc sống lao động vất vả, cực nhọc của con người.

Biện pháp nghệ thuật điệp liên hoàn đầu cuối này cũng thể hiện sự tuần hoàn của thời gian, vũ trụ. Người thiếu nữ nơi rừng núi đang làm công việc xay ngô trở thành tâm điểm mà Bác hướng tới. Nếu thơ ca xưa lấy thiên nhiên làm chủ thể thì trong thơ Bác, con người là chủ thể. Hình ảnh cô gái miền sơn cước đang chuẩn bị bữa tối cho gia đình bên bếp lửa là một hình ảnh đẹp và toát lên vẻ khỏe khoắn của cô sơn nữ. Cuộc sống lao động, mưu sinh của con người thật đáng trân trọng.

Thời gian lúc này đã chuyển hẳn sang tối, tuy ở bản phiên âm không có một chữ “tối” nhưng người đọc đều có thể nhận ra trời đã tối hẳn bởi nhìn thấy lò than “rực hồng”. “Hồng” là nhãn tự, là điểm bừng sáng của bài thơ, hình tượng thơ có sự vận động từ bóng tối ra ánh sáng, từ nỗi buồn đến niềm vui, từ lụi tàn đến sự sống, từ cô đơn đến sum vầy, quây quần.

Hình ảnh lò than “rực hồng” là hình ảnh giản dị nhưng hàm chứa đầy ý nghĩa. Nó gợi nên bao sự ấm áp, xua tan đi sự lạnh lẽo của núi rừng và nỗi cô đơn của con người. Lò than ấy cũng thắp sáng lên một niềm tin cách mạng mãnh liệt, cách mạng nhất định sẽ thắng lợi.

Nhà tù Tưởng Giới Thạch không làm khô cằn được tâm hồn của Bác. Ngay cả khi bị đày đọa về thể xác, Bác vẫn hướng tâm hồn mình ra ngoại giới để hòa hợp, cảm thông với tạo vật và con người. Người đã quên đi nỗi cực khổ của mình để vui với niềm vui nho nhỏ, bình dị của người dân lao động. Vẻ đẹp của một bậc đại nhân, đại trí, đại dũng bừng sáng.

Bài thơ đã thể hiện chủ nghĩa lạc quan cách mạng vô cũng mãnh liệt, mạch thơ và hình tượng thơ luôn vận động hướng về sự sống và ánh sáng. Đây là một trong những đặc trưng cơ bản của phong cách thơ Hồ Chí Minh. Ngoài ra, sự kết hợp giữa màu sắc cổ điển và tinh thần hiện đại cũng góp phần không nhỏ tạo nên sự thành công của tác phẩm.

“Chiều tối” cho thấy tâm hồn của người chiến sĩ cách mạng và tâm hồn của người thi sĩ đã quyện hòa làm một. Mỗi vần thơ của Bác đều mang chất thép, một chất thép được toát ra từ tư tưởng của người chiến sĩ vĩ đại. Chẳng vậy mà nhà thơ Tố Hữu đã viết về Bác với những câu thơ chứa chan cảm xúc:

Mời bạn xem nhiều hơn 🌟 Bài Thơ Cảnh Khuya Hồ Chí Minh 🌟 Phân Tích Bài Thơ Hay Nhất

Tham khảo bài nghị luận Chiều tối ngắn gọn giúp các em học sinh ôn tập nhanh chóng để chuẩn bị cho bài viết trên lớp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, một nhà chính trị kiệt xuất, một con người đầy trách nhiệm mà còn là một thi nhân có trái tim ấm áp. Những vần thơ Bác viết luôn chất chứa những nỗi niềm và tâm tư của một người vì nước, vì dân. Một trong những bài thơ thể hiện rõ nhất tinh thần và phong cách Hồ Chí Minh, đó là bài thơ Chiều tối (Mộ).

Chiều tối là bài thơ số 31 trong tập thơ nổi tiếng Nhật ký trong tù. Bài thơ được viết năm 1942 trong một lần chuyển lao của Bác.

Bức tranh thiên nhiên hiện lên vương chút buồn thi vị. Cánh chim trời sau ngày dài đập cánh, bay đi kiếm ăn cũng mỏi mệt trở về nơi rừng sâu tìm chốn nghỉ ngơi. Giữa khoảng không rộng lớn của đất trời, cánh chim nhỏ bé chao nghiêng dẫu có mỏi mệt, nhọc nhằn vẫn cố gắng vươn mình bay về tìm nơi nương náu.

Cánh chim chiều về mang cả một nỗi sầu khắc khoải khôn nguôi. Phải chăng cánh chim ấy cũng chính là đôi chân của người tù chốn ấy, vẫn miệt mài từng bước tìm con đường giải phóng cho quê hương, vẫn khát khao ngày được trở về đặt chân trên đất mẹ thân yêu. Người tù ấy dẫu cho có đau đớn, mỏi mệt vẫn chưa bao giờ thôi khao khát được tự do, được sải cánh bay như cánh chim chiều giữa thế giới bao la.

“Tầng mây trôi nhẹ giữa tầng không”

Thời khắc của hoàng hôn gợi biết bao nỗi buồn xa xăm, đặc biệt là đối với những người mang nỗi sầu xa xứ. Lúc này đầy, dường như nỗi lòng thi nhân đượm bao nỗi buồn khôn tả. Bởi thế, mà cảnh trong mắt Người gợi buồn, gợi nhớ biết bao. Cánh chim chiều mỏi mệt, áng mây cô độc, bơ vơ trôi nhẹ giữa tầng không. Cảnh đẹp mà yên bình đấy nhưng sao đượm buồn đến thế. Phải chăng vì chính lòng người mang nặng nỗi sầu thương, bởi:

Con người dù mạnh mẽ và lý trí đến đâu cũng sẽ có những lúc yếu lòng, mỏi mệt. Bác cũng thế, chiều về là thời điểm mà ai cũng quây quần bên bữa cơm gia đình áp áp, vậy mà một mình người đang cô độc nơi tù ải xa xôi, chốn đất khách quê người sao mà khỏi thiết tha, sao mà không chạnh lòng được cơ chứ? Nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương da diết dường như đang cuộn trào trong tâm khảm thi nhân.

Từ bức tranh thiên nhiên rộng lớn nhưng lạnh lẽo, thấm đượm nỗi buồn, Bác đã hướng sự chú ý đến bức tranh cuộc sống bình dị mà ấm áp vùng sơn cước. Hình ảnh người thiếu nữ xay ngô không chỉ gợi ra những nhịp vận động đầy khỏe khoắn mà còn khắc họa vẻ đẹp của con người, họ đẹp trong chính công việc lao động bình dị.

Bức tranh chiều tối được nhìn từ xa đến gần, từ không gian rừng núi rộng lớn tĩnh mịch đến không gian làng bản nhỏ bé nhưng ấm áp tình người. Cũng chính hơi ấm nơi cuộc sống bình dị ấy đã thắp lên trong tim người thi sĩ tình yêu cuộc sống, niềm tin mãnh liệt vào tương lai. Từ “hồng” trong câu thơ cuối được coi là nhãn tự của bài thơ, không chỉ thắp sáng cả bài thơ mà còn thể hiện được tinh thần lạc quan, niềm tin mãnh liệt của người chiến sĩ cách mạng vào tương lai của đất nước.

Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, ngắn gọn mà cô đọng, giàu giá trị biểu cảm. Điều đặc biệt tạo nên giá trị của bài thơ không chỉ từ nội dung giàu tính nhân văn mà còn từ nét đẹp trong nghệ thuật biểu hiện. Đó là sức mạnh biểu đạt tình cảm của ngôn từ, là sự kết hợp hài hòa giữa chất liệu cổ điển và tinh thần hiện đại. Đó là sự vận dụng linh hoạt nhiều biện pháp tu từ như điệp ngữ, ẩn dụ, tả cảnh ngữ tình…. Bài thơ đã thực sự trở thành một trong những tác phẩm xuất sắc đóng góp vào thành tựu đồ sộ của nền văn học nước nhà.

Chiều tối không chỉ thể hiện một tâm hồn nhạy cảm, một tình yêu thiết tha với cuộc đời của người thi sĩ mà bộc lộ tinh thần lạc quan, yêu đời ngay trong nghịch cảnh của người chiến sĩ, nhà cách mạng Hồ Chí Minh.

Chia sẻ cơ hội 🌟 Nạp Thẻ Ngay Miễn Phí 🌟 Tặng Card Nạp Tiền Ngay Free Mới

Bác Hồ khi xưa đã từng nói rằng: “Làm thơ ta vốn không ham/ Nhưng mà trong ngục biết làm chi đây/ Ngày dài ngâm ngợi cho khuây/ Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do”. Trong lời giãi bày bác vốn không ham làm thơ, nhưng khoảng thời gian trong ngục làm thơ ngâm ngợi để vơi đi nỗi buồn, đồng thời làm thơ cũng là để thể hiện ý chí sắt đá của người chiến sĩ cách mạng.

Trong tập Nhật kí trong tù ta không thể không nhớ đến bài thơ Chiều tối, tác phẩm được sáng tác khi bác chuyển từ nhà lao Tĩnh Tây đến nhà lao Thiên Bảo. Bài thơ đã làm bật lên tinh thần kiên cường của người tù cách mạng.

Mở đầu tác phẩm mở ra khung cảnh, bức tranh thiên nhiên chiều tối:

Bức tranh chiều tối được gợi lên từ hai hình ảnh: cánh chim, chòm mây. Cánh chim vốn là thi liệu quen thuộc trong thơ xưa như: “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi” (Bà Huyện Thanh Quan) hay “Chim hôm thoi thót về rừng” (Nguyễn Du). Những cánh chim thường gợi về nỗi cô đơn, gợi nhắc, gợi nhớ về một quãng thời gian nào đó. Còn cánh chim trong thơ bác lại xuất hiện hoàn toàn khác, sau một ngày kiếm ăn mệt mỏi, chúng trở về tìm chốn nghỉ ngơi.

Chúng bay đi có mục đích, phương hướng, không hề vô định như trong thơ cổ. Cánh chim ấy gợi liên tưởng về sự tương phản với hoàn cảnh của bác. Chòm mây trên trời cô đơn, lững lờ trôi giữa không gian mênh mông, cái cô độc của chòm mây cũng như chính sự cô đơn, lẻ loi của Bác. Bức tranh thiên nhiên không còn dừng lại ở miêu tả bề ngoài mà nó còn là bề sâu của tâm cảnh, ta thấy được tình yêu thiên nhiên của người tù.

Bằng những quan sát hết sức tinh tế Bác đã nắm bắt được cái thần, cái hồn của cảnh vật, một không gian chiều mơ màng, thanh bình. Không chỉ vậy ta còn thấy được nỗi cô đơn, mệt mỏi của người tù nhân, khi phải trải qua một hành trình dài, di chuyển từ nhà lao này đến nhà lao khác. Nhưng đằng sau nỗi cô đơn ấy còn là một bản lĩnh kiên cường, sắt đá của người chiến sĩ.

Bức tranh của Bác không dừng lại ở đó, từ không gian của thiên nhiên, người tù di chuyển điểm nhìn để thấy hơi thở của cuộc sống sinh hoạt bình dị, đời thường mà vô cùng ấm áp:

Đến đây con người đã trở thành trung tâm của bức tranh. Hiển hiện trong khung cảnh sinh hoạt là người thiếu nữ xóm núi đang xay ngô. Hình ảnh chân thực, bình dị và vô cùng đời thường nhưng lại lấp lánh tỏa sáng. Đó là ánh sáng của tuổi trẻ, của sức sống hừng hực nơi người con gái; ánh sáng tỏa ra từ công việc lao động bình dị; đồng thời còn là vẻ đẹp của mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên: con người là trung tâm, là chủ thể của vũ trụ. Trước thiên nhiên bao la con người không bị lu mờ mà được làm rõ nổi bật hơn.

Câu thơ cuối là sự kết hợp hài hòa giữa nét vẽ cổ điển và nét vẽ lãng mạn. Tính cổ điển được thể hiện ở bút pháp dùng ánh sáng để nói bóng tối. Hình ảnh lò than rực hồng, tỏa rạng một khoảng không gian đã tái hiện thành công bóng tối bao phủ xung quanh đây. Nhưng đồng thời đây cũng là câu thơ hết sức hiện đại.

Chữ hồng là nhãn tự của bài thơ, làm bừng sáng cả không gian tăm tối đang bao trùm. “Hồng” thể hiện sự vận động theo hướng từ chiều đến tối, từ lạnh lẽo đến ấm áp (ấm của sự sống, của sinh hoạt lao động con người), từ sự cô đơn đến sum họp và từ nỗi buồn đến niềm vui. Đây là sự vận động từ bóng tối ra ánh sáng thể hiện niềm tin, lạc quan vào tương lai tương sáng của người chiến sĩ cách mạng.

Bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, ngôn ngữ cô đọng, hàm súc. Bút pháp gợi tả thiên nhiên giản dị, tự nhiên mà vô cùng chân thực. Có sự đan xen, hòa quyện một cách nhuần nhuyễn giữa màu sắc cổ điển và hiện đại.

Chiều tối đã khắc họa thành công bức tranh thiên nhiên và bức tranh cuộc sống của con người nơi núi rừng hoang dã. Đằng sau bức tranh ấy là vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh: luôn mang trong mình tinh thần lạc quan, tin tưởng dù gặp khó khăn vẫn luôn tin rằng ánh sáng đang đợi dân tộc, đất nước nơi cuối con đường.

Tặng bạn 👉 20 Đoạn Mở Bài Chiều Tối Hồ Chí Minh {Hay Nhất}

Theo Nhật ký trong tù, trên đường chuyển lao từ nhà ngục Tĩnh Tây đến nhà ngục Thiên Bảo, Bác làm năm bài thơ mà Chiều tối là bài thứ ba trong chùm thơ đó. Như tên gọi, bài thơ là bức tranh vẽ cảnh hoàng hôn.

Chiều tối này không giống như bất kỳ chiều tối nào. Đây là cảnh chiều tối qua đôi mắt của người tù Hồ Chí Minh “tay bị trói, cổ đeo xích” đang bị lính áp giải ngang qua một vùng sơn dã. Ngày đã hết mà người tù vẫn phải cất bước. Nhà giam mới còn xa, nỗi vất vả còn nhiều. Bài thơ hình thành trong hoàn cảnh nghiệt ngã ấy:

Chim bay về tổ là biểu tượng được dùng để diễn tả cảnh hoàng hôn thường thấy trong thơ cổ điển, nhưng cánh chim ở đây không chỉ là một nét vẽ bình thường. Dường như lúc chiều tối người tù ngước mắt nhìn lên bầu trời, chợt thấy cánh chim mỏi mệt đang cố bay về tổ ấm và chòm mây chầm chậm trôi ngang lưng trời. Cái nhìn của nhà thơ không đơn thuần là cái nhìn thưởng thức mà còn gửi vào đó sự lưu luyến, trìu mến của một tấm lòng yêu thương vô hạn.

Cánh chim nhỏ bé kia như có linh hồn, có đời sống riêng tư. Cả ngày kiếm ăn vất vả, chiều tối nó mệt mỏi trở về rừng tìm nơi trú ngụ để sớm mai lại bay đi. Người tù cũng mỏi mệt sau một ngày vất vả lê bước đường trường. Có sự hòa hợp, cảm thông giữa tâm hồn nhà thơ với cảnh vật thiên nhiên. Cội nguồn của sự cảm thông ấy chính là tình yêu thương sâu xa của Bác dành cho mọi sự sống trên đời.

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không. Nguyên văn chữ Hán đẹp như một câu thơ Đường: Cô vân mạn mạn độ thiên không. Chòm mây này không có sắc thái phong lưu, nhàn tản, gợi nên sự cô độc thanh cao như trong thơ cổ: Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay (Hoàng Hạc lâu – Thôi Hiệu) mà nó chỉ đơn giản là chòm mây lãng đãng trôi trên nền trời lúc bóng chiều đang sẫm lại, tô thêm vẻ mênh mông, êm ả của buổi chiều tối nơi rừng núi.

Phải có một tâm hồn ung dung, thư thái thì người tù mới có thể tạm quên sự đau đớn của thể xác để dõi theo một cánh chim, một chòm mây giữa bầu trời lúc hoàng hôn như vậy. Chòm mây ấy khiến không gian trở nên vô tận và thời gian như ngừng trôi. Hơn thế, chòm mây cũng như đang mang tâm trạng của con người. Nó cô đơn và lặng lẽ, ẩn chứa nỗi buồn trong cảnh chia lìa: cánh chim mải miết bay về rừng xanh, còn chòm mây trôi nhẹ như muốn ở lại giữa tầng không bát ngát.

Cảnh chiều tối nơi sơn dã là như vậy. Cánh chim nhỏ nhoi, chòm mây cô độc. Chim bay, mây trôi. Bầu trời bao la không giới hạn. Người xưa cho đó là cách lấy điểm tả diện, lấy động tả tĩnh, rất tinh vi. Tuy bài thơ không tả màu sắc, âm thanh mà người đọc vẫn cảm thấy khung cảnh rừng núi lúc chiều tối thật âm u, hiu quạnh.

Hai câu thơ thấm thía nỗi buồn vì cảnh buồn và người buồn, vì cánh chim bay về tổ gợi niềm ước mong sum họp, chòm mây đơn độc lơ lửng trên không trung gợi thân phận lênh đênh trôi dạt nơi đất khách quê người, vì không biết tới bao giờ người tù mới được tự do như cánh chim và chòm mây kia?!

Tuy vậy, hai câu thơ trên cũng thể hiện bản lĩnh kiên cường của người tù thi sĩ, bởi vì nếu không có ý chí, nghị lực, không có phong thái ung dung tự chủ và sự tự do hoàn toàn về tinh thần thì không thể viết những câu thơ về thiên nhiên sâu sắc và tinh tế như thế trong hoàn cảnh khắc nghiệt của thân phận tù đày.

Đến hai câu thơ cuối, bức tranh chiều tối bỗng có những nét chấm phá bất ngờ: Giữa rừng núi, âm u, một lò lửa bỗng rực hồng, soi sáng hình ảnh thiếu nữ đang chuẩn bị bữa ăn tối cho gia đình:

Nếu trong hai câu thơ đầu, cảnh vật hiện ra qua những nét vẽ phần nào mang tính chất ước lệ thì ở hai câu thơ này, hình ảnh người phụ nữ lao động lại được tác giả miêu tả chân thực và sinh động. Bài thơ chuyển từ bức tranh thiên nhiên thành bức tranh đời sống. Đấy là xu hướng vận động trong cấu trúc của bài thơ, là logic hình tượng thơ và nó cũng phản ánh cái lôgích lớn trong tâm hồn tác giả. Điều lạ là những câu thơ tả thực gần như văn xuôi ấy lại có một sức sống lạ thường.

Sức sống ấy toát lên từ hình ảnh khỏe khoắn của người thiếu nữ hay từ ánh lửa rực hồng của lò than?! Hình ảnh cô gái xay ngô trở thành trung tâm của bức tranh. Với nét vẽ đậm, khỏe, nhà thơ đã đặt con người vào vị trí chủ thể, đẩy lùi cảnh vật ra phía sau làm nền. Tư thế của cô gái xay ngô toát lên vẻ trẻ trung, khỏe mạnh và cuộc sống lao động càng trở nên đáng quý, đáng trân trọng biết bao! Nó đem lại cho người tù hơi ấm của sự sống cùng niềm vui và hạnh phúc trước cuộc sống bình dị của những con người tuy vất vả mà tự do.

Trời sắp tối. Buổi tối là thời khắc sum họp gia đình nhưng kẻ lữ thứ là người tù vẫn chưa biết dừng chân nơi đâu. Người tù đã quên nỗi cô quạnh, u buồn của cảnh ngộ mình để chia sẻ với niềm vui nho nhỏ đời thường của người dân lao động, với bếp lửa hồng nơi xóm núi. Khi màn đêm buông xuống, cảnh vật thu dần vào một điểm là lò than đỏ rực rồi tỏa hơi ấm theo âm thanh nồng đượm của chữ hồng.

Chữ hồng kết thúc bài thơ thật tự nhiên mà cũng thật bất ngờ. Nếu hình dung cả bài thơ là một bức tranh thì chính cái chấm lửa đỏ mà người nghệ sĩ tài hoa chấm lên đó đã mang lại thần sắc cho toàn cảnh, dường như nó làm tăng thêm niềm vui và sức mạnh cho người tù đang cất bước trên con đường xa thẳm.

Hình ảnh cô gái và bếp lửa hồng gợi tả cảnh gia đình sum họp. Thấp thoáng trong những hình ảnh ấy là ước mơ thầm kín về mái ấm gia đình của con người đang lưu lạc xa nhà, xa quê hương đất nước. Đấy là tâm hồn của người chiến sĩ cách mạng đã vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt để đồng cảm với niềm vui đời thường. Bài thơ đã vận động từ ánh chiều âm u, tăm tối đến ánh lửa rực hồng, ấm áp, từ nỗi buồn đến niềm vui. Nó cho thấy cái nhìn tràn đầy niềm lạc quan yêu đời và tình yêu thương nhân dân của một con người vĩ đại.

Nghệ thuật tả cảnh trong bài thơ vừa có nét cổ điển (bút pháp chấm phá, ước lệ với những thi liệu xưa cũ) vừa có nét hiện đại (bút pháp tả thực sinh động với những hình ảnh dân dã đời thường), ở đây chủ yếu là gợi tả chứ không phải là miêu tả, cho nên rất cô đọng và hàm súc.

Ngôn ngữ trong bài thơ được sử dụng rất linh hoạt và sáng tạo. Một số từ ngữ vừa gợi tả vừa gợi cảm (quyện điểu, cô vân). Chữ hồng trong nghệ thuật thơ Đường người ta gọi là con mắt của thơ (thi nhãn) hoặc là nhãn tự (chữ có mắt). Với chữ hồng, bài thơ không còn cảm giác nặng nề, mệt mỏi, nhọc nhằn nữa, mà chỉ thấy màu đỏ đã ánh lên trong bóng đêm, trên thân hình và công việc quen thuộc của cô sơn nữ đáng yêu kia.

Chiều tối có vẻ đẹp giản dị mà sâu sắc. Bài thơ diễn tả phong cảnh thiên nhiên và đời sống một cách chân thật, hàm súc, đồng thời thể hiện một khía cạnh vĩ đại của tâm hồn Hồ Chí Minh Ià lòng nhân ái đạt đến độ quên mình. Người làm thơ trong tình cảnh khốn khó vẫn để tâm hồn mình hướng tới thiên nhiên cùng niềm hạnh phúc đơn sơ của con người. Vàng nào đổi được phút giây xúc động trước cảnh chiều tối như phút giây này của trái tim vĩ đại Hồ Chí Minh?!

Giới thiệu cùng bạn 🍀 Nhật Ký Trong Tù Toàn Tập 🍀 133 Bài Thơ Hồ Chí Minh

Bài văn mẫu nghị luận Chiều tối đặc sắc sẽ là một trong những tài liệu văn hay hỗ trợ các em học sinh tìm ý và xây dựng những câu văn ấn tượng.

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong bài viết Hồ Chủ tịch – hình ảnh của dân tộc có nói đại ý: Hồ Chủ tịch là Người rất giàu tình cảm, và vì giàu tình cảm mà Người đi làm cách mạng. Trong thế giới tình cảm bao la của Người dành cho nhân dân cho các cháu nhỏ, cho bầu bạn gần xa, hẳn có một chỗ dành cho tình cảm gia đình. Bài Chiều tối có lẽ hé mở cho ta nhìn thấy một thoáng ước mơ thầm kín một mái nhà ấm, một chỗ dừng chân trên con đường dài muôn dặm.

Chiều tối là bài thơ thứ ba mươi mốt trong tập Nhật kí trong tù, ghi lại cảm xúc của nhà thơ trên đường bị giải đi qua hết nhà lao này đến nhà lao khác. Trên con đường khổ ải ấy, một chiều kia. Người chợt nhận thấy cánh chim chiều.

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ”

Câu thơ không giản đơn chỉ tái hiện cảnh vật mà còn bộc lộ cảm nhận của nhà thơ. Làm sao biết rõ được là chim đang mỏi, và làm sao nói chắc được mục đích của chim là về rừng tìm chốn ngủ, như thế ở trong lòng chim mà ra? Câu thơ chỉ là tín hiệu cho thấy là trời đã chiều, mọi vật hoạt động ban ngày đã mệt, đã đến lúc tìm chốn nghỉ ngơi. Câu thơ tương phản với hình ảnh chòm mây cô đơn ở dưới:

“Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”

Câu thơ dịch tuy đẹp nhưng ý thơ có phần nhẹ hơn so với nguyên tác Hán. Nó bỏ mất chữ cô trong cô vân, nghĩa là chòm mây cô đơn, trơ trọi rất có ý nghĩa. Hai từ trôi nhẹ cũng không lột tả được ý của mấy chữ mạn mạn độ. Bởi vì độ là hoạt động nhằm đi từ bờ này sang bờ kia, ví như độ thuyền đi từ thuyền sang sông, độ nhật ở cho qua ngày, độ thiên không là chuyển dịch từ chân trời này sang chân trời kia, con đường của mây mới xa vời và vô hạn biết chừng nào!

Còn mạn mạn là dáng vẻ trì hoãn, chậm chạp. Chòm mây cô đơn đi từ chân trời này sang chân trời kia, mà lại còn chậm chạp, trì hoãn nữa thì không biết bao giờ mới tới nơi? Và hiển nhiên khi trời tối nó vẫn còn lửng lơ bay giữa tầng không, là hình ảnh ẩn dụ về người tù đang bị giải đi trên đường xa vạn dặm, chưa biết đâu là điểm đừng! Trong hình ảnh ấy hẳn còn gửi gắm tình cảm thương mình cô đơn sốt ruột và khao khát có một mái nhà. Chỉ hai câu thơ mà vừa tả cảnh vật, vừa tả cảnh người, tả tình người. Đó là cái hàm súc, dư ba của thơ cổ điển.

Nếu hai dòng đầu đã nói tới chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ và chòm mây cô đơn chưa biết dừng nơi nào, thì hai câu thơ của bài thơ sau hiện diện một chốn ngủ của con người:

Trong bản dịch, người dịch đã đưa vào chữ tối lộ liễu trong khi thi pháp thơ cổ chỉ muốn người đọc tự cảm thấy chiều tối phủ xuống mà không cần một sự thông báo trực tiếp nào. Điều đó làm lộ tứ thơ. Nhưng đó là cái khó của người dịch. Điều đáng chú ý là một cảnh lao động gia đình, rất đỗi bình thường, dân dã: Cô em xóm núi xay ngô hạt, ngô hạt xay xong, bếp đã hồng. Cô em, bếp lửa, tượng trưng cho cảnh gia đình. Ngô hạt xay xong, bếp đỏ hồng lại tượng trưng cho công việc và nghỉ ngơi. Một không khí ấm cúng đối với người lữ thứ.

Điều chú ý thứ hai là trong nguyên tác chữ hồng là ấm, nóng chứ không phải là đỏ, càng chứng tỏ điều nhà thơ nghĩa đến là sức ấm nóng, chứ không phải sáng hồng. Bếp lạnh, tro tàn là tượng trưng cho sự cô quạnh, lẻ loi. Điều chú ý thứ ba là nhà thơ đứng ở núi như thế, y như thể đứng gần gũi bên cạnh. Lại nữa, nhà thơ phải đứng rất lâu mới thấy được cảnh thời gian trôi trong câu: Cô em xóm núi xay ngô hạt – Ngô hạt xay xong bếp đã hồng?

Đây chỉ là bài thơ trên đường. Vậy đó chỉ là cảnh tưởng tượng trong tâm tưởng, trước xóm núi bên đường xuất hiện như là biểu trưng của mái ấm gia đình, nơi đoàn tụ của những người thân thuộc. Cái kết này tuy không sáng bừng lên màu hồng lạc quan của cách mạng như ái đó hiểu, cũng vẫn ấm áp tình người làm cho nỗi lòng người vơi bớt nỗi cô đơn. tĩnh mịch. Cùng với hình ảnh ấy, một ước mơ thầm kín về mái ấm gia đình thấp thoáng đâu đó. Nếu ta chú ý tới bài thơ trước này là bài Đi đường.

Một con đường vô tận, và bài sau đó là bài Đêm ngủ ở Long Tuyền:

Thì ta sẽ thấy sự xuất hiện khung cảnh gia đình kia là rất dễ hiểu. Nó chứng tỏ trái tim của nhà cách mạng vẫn đập theo những nhịp của con người bình thường gần gũi với mọi người.

Nghệ thuật của bài thơ là một nghệ thuật gián tiếp cổ điển, nói cảnh để nói tình. Hình ảnh trong thơ cũng là tâm cảnh. Nếu chỉ phân tích nó như một bức tranh hiện thực đơn giản, chắc chắn ta sẽ rời xa thế giới nội tâm phong phú của nhà thơ.

Tìm hiểu hướng dẫn 🔥 Kiếm Thẻ Cào Miễn Phí 🔥 Kiếm Tiền Online Kiếm Thẻ Cào

“Bác Hồ, Người là tình yêu thiết tha nhất trong lòng dân và trong trái tim nhân loại”. Trong cuộc sống đời thường, Bác giản dị với nếp sống thanh cao. Trong công việc, Bác là người nghiêm túc và chu toàn. Đến với thơ ca, tâm hồn và vẻ đẹp của Bác được thể hiện rõ nét qua những vần thơ với sức truyền cảm mạnh mẽ .

Thơ Bác đâu chỉ hãy thôi mà còn đẹp nữa, đẹp bởi chính hồn thơ, bởi chính tinh thần “thép” trong thơ và bởi chính tình ý của thơ. Chiều tối là một bài thơ tiêu biểu cho thơ Bác, thể hiện rõ sự kết hợp giữa nét cổ điển và tinh thần hiện đại, một tác phẩm thành công của nền văn học nước nhà.

Bài thơ chiều tối được sáng tác vào năm 1943, trong khoảng thời gian Bác bị chính sách quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam, chịu nhiều đày ải, khi chuyển từ nhà giam Tĩnh Tây đến nhà giam Thiên Bảo, lấy cảm hứng từ buổi chiều chuyển lao. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt, tứ thơ độc đáo, vận động một cách tài tình.

Người tù đang bị áp giải giữa núi rừng bạt ngàn, chiều dần buông xuống khiến lòng người thấp thoáng nỗi buồn chơi vơi. Có lẽ, trong các khoảng khắc thời gian của một ngày, thì buổi chiều là lúc con người chất chứa nhiều tâm trạng và nỗi lòng nhất, cũng bởi vậy mà trong thơ cổ thường dùng cánh chim chiều hoàng hôn để gợi nỗi buồn.

Cảnh được gợi lên bằng bút pháp ước lệ tượng trưng quen thuộc trong thơ xưa, cánh chim mòn mỏi chiều tà gợi sự xót xa, thương cảm.”Cô vân mạn mạn”, giữa vô vàn chòm mây trên bầu trời thì có một chòm mây lại cô độc, đơn lẻ giữa khoảng không. Đó là hình ảnh ẩn dụ cho người tù bị lưu đày nơi đất khách quê người, dường như giữa cảnh vật và con người có sự đồng điệu, cảm thông, hoà quyện giữa hồn và cảnh.

“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, cảnh vật thể hiện tâm trạng, có chút gì đấy lẻ loi, mủi lòng sâu thẳm nơi đáy lòng người chiến sĩ. Hai câu thơ mang phong vị Đường thi nhưng vẫn chất chứa nét riêng trong thơ Bác.Thiên nhiên phảng phất nét buồn nhưng không bi lụy. Mỏi mệt thì nghỉ ngơi để rồi ngày mai lại bắt đầu cuộc hành trình mới, một cuộc sống mới. Đó là sự nỗ lực, là tâm hồn hướng tới sự sống, khát khao thoát khỏi những tù túng, vươn tới tự do như cánh chim ngang trời, nhẹ nhàng mà an nhiên.

Nếu hai câu đầu là bức tranh thiên nhiên cao rộng thì dòng cảm xúc hai câu cuối là bức tranh sinh hoạt đời thường

Hình ảnh người con gái được thể hiện nhiều trong thơ ca, nếu trong văn học trung đại, người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng yếu đuối và số phận đầy long đong, lận đận, chìm nổi,trong thơ lãng mạn họ phảng phất nét buồn thì trong thơ Bác đó là con người giản dị, bình thường, công việc tuy vất vả nhưng đáng yêu và đáng trân trọng. Hình ảnh”cô em” nổi bật trước thiên nhiên, con người đang làm chủ cuộc sống, trẻ trung và đầy khoẻ khoắn, làm việc hăng say thật đáng quý biết bao.

Bức tranh thiên nhiên hoà quyện hình ảnh con người dường như càng sinh động, ấm áp hơn. “Ma bao túc….bao túc ma hoàn”, sự sáng tạo trong điệp ngữ vòng tạo nên sự nhịp nhàng trong vòng quay của công việc. Không gian từ trời đất cao rộng, bao la dần thu hẹp lại bên không gian sinh hoạt gia đình-bếp lửa “Xay hết lò than đã rực hồng” .

Chỉ bằng một từ “hồng”, được coi là nhãn tự bài thơ cùng bút pháp điểm xuyết khiến cho bao nhiêu cảm xúc ý tứ dường như được dồn nén, chất chứa bấy lâu được bung toả. “Hồng” – đó là ánh sáng của niềm tin, hy vọng, là ngọn lửa của ánh sáng xua tan bầu trời đêm, là ngọn lửa của hơi ấm xua tan đi lạnh lẽo, cô độc, là ngọn lửa của niềm vui, niềm lạc quan của tan nỗi buồn, mệt nhọc của thực tại.

Tâm hồn thi sĩ giờ đây chất chứa tình yêu, niềm thương mến hướng về đất nước, về mong ước ngày dân tộc hoà bình, thứ ánh sáng ấy to lớn và cao đẹp biết nhường nào. Bác vẫn như thế, dẫu thực tại có gian khổ đến đâu, Người vẫn luôn hướng về thiên nhiên, vẫn đau đáu nỗi lo cho cuộc sống ấm no của dân tộc.

Bằng biện pháp kết hợp hài hoà hình ảnh cổ điển và tinh thần hiện đại, cách diễn đạt cô đọng mà hàm súc, cảm xúc dồn nén vào bên trong ý tưởng. Bút pháp gợi với những hình ảnh quen thuộc bình dị mà giàu cảm xúc, bài thơ Chiều tối đã thể hiện được tâm hồn Bác, con người dù trong đau khổ trong xiềng xích vẫn vững niềm tin phía trước, vẫn giữ tinh thần thép trong cuộc sống. Đồng thời thấy được tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước và ý chí sắt đá của người chiến sĩ.

Bài thơ cũng minh chứng cho nét độc đáo trong phong cách thơ Bác như một nhà thơ từng nhận định rằng “Thơ Bác đi từ ngôn ngữ đến hình tượng thơ luôn luôn có sự vận động hướng về sự sống, ánh sáng, tương lai”.

Mời bạn đón đọc 🌜 Thuyết Minh Về Bác Hồ 🌜 15 Bài Thuyết Minh Hồ Chí Minh Hay

Luyện tập viết bài nghị luận Chiều tối nâng cao sẽ giúp các em học sinh nắm vững phương pháp làm bài và trau chuốt cho mình một văn phong hay.

Trong tập Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh, sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố cổ điển và yếu tố hiện đại, giữa tâm hồn của người chiến sĩ và thi sĩ luôn luôn được thể hiện một cách tinh tế, sâu sắc và thấm thía qua nhiều thi phẩm.

Nhưng tiêu biểu và độc đáo nhất có lẽ vẫn là ở tứ thơ Chiều tối, đây là bài thơ có vị trí rất quan trọng trong toàn bộ tập thơ Nhật ký trong tù, là một phần quan trọng trong bức tranh chân dung tự họa của Hồ Chí Minh, thể được cái tinh thần lạc quan, luôn hướng về sự sống dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào khắc nghiệt đi chăng nữa.

Chiều tối (Mộ) là bài thơ số 31 trong 134 bài thơ của tập Nhật ký trong tù. Được sáng tác vào cuối thu năm 1942, khi Hồ Chí Minh bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam và áp giải từ nhà lao Tĩnh Tây đến Thiên Bảo (Trung Quốc). Chiều tối là nỗi lòng của Hồ Chí Minh trong một lần chuyển ngục nhân cảnh trời chuyển tối.

Bài thơ được viết bằng chữ Hán, thuộc thể thơ tứ tuyệt, tiêu biểu cho thơ trữ tình của Hồ Chí Minh. Nhà thơ không trực tiếp bộc lộ những cảm xúc nội tâm mà thông qua cách cảm nhận hình ảnh và cảnh vật để bày tỏ tình cảm của mình.

Hai câu thơ đầu là bức tranh thiên nhiên núi rừng vào lúc chiều tối:

Bài thơ viết về một thi đề hết sức cổ điển và quen thuộc đó là cảnh chiều tối, đã từng xuất hiện nhiều trong thi ca từ xưa đến nay, ví như cảnh “Bước tới đèo Ngang bóng xế tà” trong bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan hay trong câu “Nhật mộ yên quang hà xứ thị?/Yên ba giang thượng sử nhân sầu” trong Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu.

Cùng với thi đề cổ điển, trong bài còn xuất hiện các thi liệu cổ điển, cũng thường xuất hiện trong nhiều bài thơ, đó là hình ảnh cánh chim, góc rừng, gốc cây cổ thụ, đám mây, bầu trời, xóm núi nghèo, … Những thi liệu ấy có thể coi là chút hương xưa của đất nước, là nỗi niềm hoài cổ của Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn trân trọng và lưu giữ trong thơ mình, đó còn là những sợi dây nối cánh diều thơ của Bác với cội nguồn thi ca truyền thống.

Tuy mang trong mình nhiều nét cổ điển truyền thống, nhưng thơ của Bác vẫn mang hơi hướng hiện đại, tinh thần thời đại rất sâu sắc. Câu “Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ”, ở đây cánh chim của Bác không phải là cánh chim lạc lõng, không định hướng trong thơ cổ, mà là một cánh chim mỏi mệt sao ngày dài vất vả cực nhọc kiếm ăn, nay tìm về rừng tìm chỗ trú ngụ.

Từ đó, ta liên tưởng đến cảnh ngộ thực tế của Bác, Bác bị áp giải, phải đi một chặng đường dài băng rừng vượt suối, nên cũng như cánh chim kia Bác mong muốn được dừng chân nghỉ ngơi, để xua tan đi cái mệt đang hành hạ, đó là chất hiện đại trong thơ. Hình ảnh chòm mây trôi lững lờ trên tầng không, thể hiện được cái phong thái ung dung, tản mạn, tự do của tâm hồn người thi sĩ tương tự với nhiều cách diễn đạt cổ điển, nhưng cũng lại mang nét hiện đại, điều đó đối chiếu vào tâm trạng người tù lúc này đây.

Hình ảnh đám mây lạc lõng, chính là tâm trạng cô đơn, lẻ loi của nhà thơ trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ nơi xứ người. Tổng hòa lại, hai câu thơ đầu nói lên nỗi mệt mỏi, cô đơn, mất phương hướng và kèm theo đó là lòng yêu thiên nhiên tha thiết của tác giả, thông qua bút pháp tả cảnh ngụ tình để truyền đạt cảm xúc.

Hai câu thơ tiếp, Chiều tối không còn là bức tranh thiên nhiên chỉ có cảnh vật nữa, mà ở đây là bức tranh cuộc sống, sinh hoạt, có sự sống của con người, hơi ấm tình thương đã bắt đầu xuất hiện.

Ở đây có sự vận động, dịch chuyển của thời gian rất rõ nét, từ chiều tối sang tối hẳn, từ khung cảnh thiên nhiên mang tính ước lệ đã chuyển sang bức tranh đời sống rất gần gũi và chân thực, từ không gian rừng núi lạnh lẽo sang không gian làng xóm ấm áp. Hình ảnh con người – trung tâm của bức tranh là thiếu nữ xóm núi đang xay ngô, tỏa sáng lấp lánh ba vẻ đẹp. Đầu tiên là vẻ đẹp của tuổi trẻ căng tràn sức sống, vẻ đẹp của công việc lao động đời thường bình dị.

Nếu khi xưa hình ảnh người thiếu nữ thường gắn liền với chốn khuê phòng, trướng rủ màn che, là phận liễu yếu đào tơ, thì trong thơ Bác hình ảnh thiếu nữ lại hiện lên thật khác thật mới, cô gái bên cối xay ngô, làm một công việc lao động tay chân khỏe khoắn, bừng lên vẻ đẹp của sức mạnh tuổi trẻ, chạy đua với thời gian, xay cho kịp trước khi trời tối.

Cuối cùng là vẻ đẹp của mối quan hệ mỹ học mới mẻ giữa con người với thiên nhiên, so sánh với thơ xưa, con người thường xuất hiện thật nhỏ bé, mất tăm mất hút giữa thiên nhiên, thường mang nỗi sầu muộn trước thiên nhiên, gửi gắm vào thiên nhiên. Nhưng trong thơ Bác, con người xuất hiện giữa thiên nhiên, với vị trí trung tâm nhất, nổi bật lên hẳn so với thiên nhiên, con người và thiên nhiên giao hòa với nhau.

Hình ảnh sự sống ở hai câu thơ được kết hợp giữa hai nét vẽ cổ điển và hiện đại. Đầu tiên nét vẽ cổ điển thể hiện ở việc Bác đã dùng bút pháp lấy cái sáng để tả cảnh tối, vốn là một loại bút pháp rất cổ điển của thơ ca phương Đông. Lấy hình ảnh “lò than đã rực hồng”, lấy cái màu hồng rực để làm nổi bật lên sự chuyển đổi của thời gian, trời đã tối hẳn thế nên lò than mới sáng rực lên như thế.

Nét vẽ cổ điển ấy lại được đan xen, trộn lẫn giữa những nét vẽ hiện đại, mà tựu chung lại chỉ ở một chữ “hồng” nơi cuối bài. Nếu như tất thảy 27 chữ đầu đều chỉ tập trung nói về cảnh chiều, mang cái không khí lạnh lẽo, thì buổi tối với cái màu “hồng” của lò than đã đem lại một cảm giác ấm áp của lò than, của tình người. Chuyển đổi từ cảm giác cô đơn, mỏi mệt sang cảm giác sum vầy của bếp lửa gia đình, từ nỗi buồn phảng phất chuyển sang niềm vui tỏa sáng.

Cũng chính là sự vận động từ tối sang sáng, là nhân sinh quan rất tích cực của người chiến sĩ cách mạng, thể hiện sự lạc quan, tin tưởng và cuộc sống. Dù trong những tháng ngày khổ lao, mòn mỏi, trong sự hoang mang vì không biết sẽ bị giam giữ đến bao giờ nhưng Hồ Chí Minh vẫn rất lạc quan, quan sát vẻ đẹp của thiên nhiên và quan tâm đến cuộc sống của người dân Trung Quốc, thể hiện tư cách của một vĩ nhân, một con người luôn có tình thương yêu với nhân dân dù là quốc gia nào đi chăng nữa.

Qua bài thơ Chiều tối, từ bức tranh thiên nhiên, từ bức tranh cuộc sống sinh hoạt của con người, ta thấy nổi bật lên vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh. Đó là một tâm hồn luôn luôn hướng về sự sống và ánh sáng dù trong bất cứ tình huống nào, chủ nghĩa lạc quan luôn luôn gắn liền với lòng nhân ái và tình yêu thiên nhiên tha thiết của người chiến sĩ đồng thời cũng là một thi sĩ xuất sắc.

Về nghệ thuật, bút pháp gợi tả thiên nhiên tinh tế và giản dị, kết hợp với bút pháp tả cảnh ngụ tình, có sự kết hợp rất nhuần nhuyễn giữa tính cổ điển và hiện đại trong từng vần thơ, từng hình ảnh thơ, tất cả đã tạo nên một thi phẩm xuất sắc mang dấu ấn đậm nét của vị lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh.

SCR.VN chia sẽ 👉 20 Mẫu Kết Bài Chiều Tối 🌺 Hay Nhất

Chiều tối là một trong những bài thơ tức cảnh sinh tình tinh giản nhất mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại trong Nhật ký trong tù. Thơ của Bác thường là vậy, thoạt nhìn xem tưởng không có gì sáng tạo, vẫn chỉ là những hình ảnh ước lệ quen thuộc trong lối đường thi:

Thực ra, đó là hình ảnh tích cực trong mắt của người tu thi sĩ khi chiều tối nơi núi rừng.

Chiều tối là lúc mà ánh sáng ban ngày chưa tắt hẳn. Lúc ấy, giữa chốn núi rừng không có chân trời, chút ánh sáng còn sót lại của một ngày tàn chỉ có thể nhìn thấy thấp thoáng nơi đỉnh trời. Một cách tự nhiên, con mắt của nhà thơ ngước lên cao và nhận ra cánh chim mỏi mệt đi tìm chốn ngủ nơi vòm cây.

Cảnh vật cứ thế mà buồn, buồn man mác khi chiều tàn. Đây là giờ phút của sự sum họp, của mọi người sau ngày làm việc mệt mỏi quay quần bên gia đình nhưng, Bác lại chẳng thể có được cảm xúc ấm áp đó. Mang trong mình nỗi đau khổ sai, tù tội lại tha phương trên đất khách quê người nên chắc hẳn nỗi nhớ nhà da diết đang giày vò chủ thể trữ tình. Trong lòng Người, không lúc nào làm nguôi đi nỗi nhớ quê hương…

Tuy nhiên, thơ của Hồ Chí Minh vẫn có một điểm rất độc đáo: mạch thơ, hình ảnh thơ cũng như tư tưởng thơ ít khi tĩnh lại mà thường vận động một cách đầy khỏe khoắn và bất ngờ, hướng về sự sống và ánh sáng:

Nếu như nói về cảnh thì sự chuyển cảnh trong Câu thơ này cũng rất đỗi tự nhiên. Khi đêm đã buông xuống, tấm màn đen của nó đã bao trùm lên toàn cảnh vật thì nhà thơ chỉ có thể hướng tầm nhìn về phía có ánh sáng. Đó chính là ánh sáng soi tỏ hình ảnh một cô thôn nữ xay ngô để chuẩn bị bữa cơm chiều.

Ở câu thơ thứ ba, người dịch đã thêm chữ “tối” không có trong nguyên tác. Từ này không sai nhưng lại làm cái tinh tế của bài thơ mất mát đi ít nhiều. Nó vừa làm lộ ý thơ, vừa khiến cho nội dung kém đi sự gợi mở.

Lê Chí Viễn còn phát hiện ra thêm một điểm vô cùng tinh vi ở câu thơ này. Đảo ngữ “ma bao túc”, “bao túc ma hoàn” khiến cho câu thơ trở nên thật hấp dẫn và đặc biệt. Thời gian trôi tình theo cánh chim và làn mây, theo những vòng xoay ngô cuối của người thiếu nữ, quay mãi, quay mãi và đến khi cô ấy phải dừng lại thì lò than đã rực hồng, nó dịch lên một thứ ánh sáng tuyệt đẹp.

Thứ ánh sáng tỏa ra từ phía lò than kia không chỉ là thứ ánh sáng thắp lên trong đêm tối tăm, mịt mù mà còn là ánh sáng của niềm tin, của hy vọng mà Bác vẫn luôn luôn tin tưởng và gửi gắm. Đọc thơ Bác, buồn nhưng vẫn tràn ngập niềm tin và hy vọng có lẽ là vì vậy.

Hai câu thơ đầu là cảnh buồn, cảnh chiều muộn với hình ảnh cánh chim và con người đều mỏi mệt trước giờ khách tàn lụi nhưng hai câu thơ sau lại là một niềm vui, một niềm tin háo hức, mong chờ qua hình ảnh đúng lửa hồng. Chỉ một hình ảnh nhỏ nhưng lại có thể cân chỉnh cả bài thơ, khiến cho bài thơ sáng rực lên sự ấm áp. Sự sống, ánh sáng và niềm vui của con người được hiện lên ở trung tâm của bức tranh được nhà thơ vẽ ra đã tỏa sáng, xua tan cái cô quạnh, cái mệt mỏi của cảnh chiều nơi núi rừng.

Nguyễn Du đã từng nói: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Chân lý ấy khá ứng với hai câu thơ đầu tiên. Nhưng ở hai câu thơ này, ta phải nhấn mạnh rằng do cảnh buồn nên người cũng muốn buồn theo. Tuy vậy, ở hai câu thơ sau thì niềm vui đã quay trở lại. Sự hy vọng, niềm tin thông qua hình ảnh gọi lửa hồng đã khiến cho bài thơ trở nên vui tươi và rạo rực hơn hẳn…

Thế mới biết mọi niềm vui, nỗi buồn của Bác Hồ đều gắn bó với niềm vui, nỗi buồn của đất nước. Quyền hành nỗi bất hạnh của riêng mình, của tù ngục, khổ đau, Bác vẫn đau đầu lo cho nước nhà…

SCR.VN tặng bạn 💧 Nhận Thẻ Cào 50k Miễn Phí 💧 Kiếm Thẻ Cào Free

Gợi ý viết bài nghị luận Chiều tối đơn giản sau đây sẽ giúp các em học sinh ôn tập hiệu quả với những ý văn ngắn gọn và các luận điểm chính rõ ràng.

“Nhật kí trong tù” được xem là tập thơ thể hiện rõ nhất tâm hồn người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh. “Chiều tối” được Người sáng tác vào cuối thu năm 1942 khi bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giam giữ, bài thơ thể hiện được tình yêu thiên nhiên cùng ý chí, tinh thần thép của Bác ngay trong hoàn cảnh tù đày, xiềng xích mất tự do.

“Chiều tối” là bài thơ có sự kết hợp nhuần nhuyễn đến hài hòa giữa mang đậm phong vị cổ điển và tinh thần hiện đại. Mở đầu bài thơ, Hồ Chí Minh đã phác họa bức tranh thiên nhiên lúc chiều tà đầy sinh động, gợi cảm qua hình ảnh cánh chim mỏi mệt và đám mây cô đơn:

Dịch thơ:

Chiều tà là khoảng thời gian dễ khắc sâu vào lòng người nỗi cô đơn, trống trải nhất đặc biệt là đối với người nữ khách tha phương. Bức tranh thiên nhiên chiều tối được Bác gợi mở với hình ảnh cánh chim mỏi mệt đang tìm về chốn ngủ, là đám mây trắng đơn độc trôi vô định giữa tầng không rộng lớn của bầu trời.

Với một vài nét chấm phá, Bác đã mở ra trước mắt người đọc cả một khung cảnh rừng núi rộng lớn, choáng ngợp nhưng lại tịch mịch, quạnh quẽ khi hoàng hôn. Dường như thiên nhiên đã có sự đồng điệu, hòa quyện làm một với tâm trạng con người hay chính con người đã làm cho bức tranh thiên trở nên đượm buồn, tràn đầy cảm xúc như Nguyễn Du từng nói “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”?

Cánh chim mỏi mệt và đám mây cô đơn vốn là những hình ảnh quen thuộc trong thơ ca cổ điển, trong bài thơ Chiều tối, Bác Hồ đã sử dụng những thi liệu đậm màu sắc cổ điển ấy để làm cầu nối thể hiện nỗi buồn xa xứ, tâm trạng cô đơn của người cộng sản khi phải lưu lạc nơi đất khách. Hình ảnh cánh chim mỏi mệt như ẩn dụ cho những mỏi mệt về thể xác của người tù cộng sản khi phải thực hiện chuyển lao liên tục suốt một ngày dài, đám mây cô đơn lại liên tưởng đến tâm trạng cô đơn, lạc lõng của Bác nơi đất khách.

Hai câu thơ đầu là bức tranh thiên nhiên đẹp đẽ, thơ mộng nhưng vắng lặng, đượm buồn. Đến hai câu thơ sau Bác lại hướng ngòi bút của mình đến bức tranh của đời sống ấm áp, rực sáng giữa vùng sơn cước vắng lặng, cô đơn:

Dịch thơ:

Hình ảnh cô thôn nữ xay ngô không chỉ gợi ra cái khỏe khoắn của con người trong công việc lao động mà còn phản chiếu bức tranh đời sống bình dị mà ấm áp, yên vui. Trong cảm nhận của người tù cộng sản, ánh sáng của lò than, hơi ấm của cuộc sống vô cùng thiêng liêng, quý giá, nó mang đến hơi ấm cho người cộng sản nơi đất khách, hơn nữa chính sự sống giản đơn, bình dị ấy đã tiếp thêm sức mạnh, niềm tin để vượt qua xiềng xích của hiện tại và hướng đến một tương lai tươi sáng.

Chữ “hồng” được coi là nhãn tự của bài thơ bởi sự xuất hiện của lò than rực hồng đã xua đi bóng tối và sự lạnh lẽo của khung cảnh rừng núi trong hai câu thơ trước và thắp lên ngọn lửa của niềm tin, của hi vọng. Hai câu thơ cuối đã thể hiện được tình yêu cuộc đời và sự lạc quan của Bác ngay trong hoàn cảnh khắc nghiệt, thử thách nhất.

Qua bài thơ Chiều tối, người đọc không chỉ cảm nhận được bức tranh thiên nhiên, bức tranh sự sống sinh động, tràn đầy cảm xúc mà còn xúc động trước một tâm hồn đẹp, một nghị lực phi thường và một tình yêu cuộc sống tha thiết nơi Bác.

Tham khảo văn mẫu 💧 Bình Giảng Đất Nước 💧 15 Bài Văn Ngắn Gọn Hay Nhất

Tham khảo bài văn mẫu nghị luận xã hội bài Chiều tối với những góc nhìn sâu sắc về các giá trị nội sung và nghệ thuật của tác phẩm.

Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại đáng kính của cả dân tộc, ngôi sao Khuê soi sáng con đường cách mạng Việt Nam đi đến thành công thắng lợi. Không những thế, Người còn là danh nhân văn hóa với sự nghiệp văn học đồ sộ, thành công trên nhiều thể loại khác nhau.

Nổi tiếng và tiêu biểu nhất phải kể đến tập “Ngục trung nhật kí” (Nhật kí trong tù) hoàn thành từ mùa thu 1942 đến mùa thu 1943. Giữa chốn gông cùm xiềng xích những áng thơ vẫn cất lên ngời ngời tư tưởng cao đẹp của người chiến sĩ cách mạng. Trong đó “Mộ” (Chiều tối) chính là bài thơ mang giá trị nội dung và nghệ thuật độc đáo.

Mở đầu bài thơ là một bức tranh thiên nhiên yên bình, êm ả:

Bằng ngòi bút đặc tả của mình, Hồ Chí Minh đã tạo ra khung cảnh có sự chuyển động của cánh chim và chòm mây vào cái độ chiều tà dần buông. “Quyện điểu” nghĩa là “chim mỏi”, “tầm” nghĩa là “tìm”. Vào thời khắc mặt trời xuống núi, ngày dần tàn, mọi sự vật đều cần một nơi chốn nghỉ ngơi. Cánh chim sau một ngày mải miết rong ruổi kiếm ăn cũng không phải ngoại lệ. Đến loài vật cũng biết mệt mỏi để tìm chốn ngủ thì hẳn con người cũng đã kiệt quệ sức lực khi phải di chuyển cả một chặng đường tù đày dài liên tục.

Nhưng điểm khác biệt ở chỗ, chim cố gắng bay về với tổ ấm của nó, còn người tù chính trị mà chính là tác giả ở đây chỉ có thể đi từ nhà lao này đến nhà lao khác. Nếu chim có động lực thúc đẩy cất đôi cánh bay đi thì mỗi bước chân di chuyển của người tù ở đây gần như là vô nghĩa.

Con người chẳng thể tự do như cánh chim, ngước lên bầu trời mà bỗng thấy cô đơn, trống trải như “Cô vân mạn mạn độ thiên không” – “Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”. Trên bầu trời chiều cao và rộng ấy, có lẻ loi một áng mây chiều.

Từ xưa đến nay, “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, có lẽ trong lòng người thi nhân lúc bấy giờ có cái sầu, có cái bi nhưng tuyệt nhiên lại không thấy cất một lời nào ai oán than vãn. Tất cả chỉ có sự thả hồn tận hưởng khung cảnh như người nghệ sĩ ngắm nhìn bức tranh tuyệt mĩ tạo hóa đã dệt nên vào cuối ngày. Nó cho thấy một tình yêu thiên nhiên đến rạo rực. Chắc hẳn nhìn cánh “chim mỏi về rừng”, nhìn “chòm ấy trôi nhẹ”, trong tâm tưởng của Hồ Chí Minh ít nhiều cũng khao khát sự tự do, muốn được trở về với quê hương, đất nước.

Có mấy ai giữa cảnh lao từ vẫn có phong thái ung dung, tinh lần lạc quan thả hồn chắp nên những vần thơ tuyệt vời như vậy. Hai câu thơ tuy ngắn nhưng lại và sự kết hợp tổng hòa, nhuần nhuyễn giữa nét cổ điển và hiện đại. Ở đây, Hồ Chí Minh đã sử dụng bút pháp ước lệ tượng trưng, không có một chữ nào nhắc đến “chiều” nhưng người đọc vẫn có thể hình dung một cách rõ nét về không gian chiều tà cũng như nỗi lòng mà tác giả muốn gửi gắm.

Cánh chim hay mây vốn không phải đề tài xa lạ trong những tác phẩm thi cổ xưa. Tuy nhiên khi đưa vào thơ Hồ Chí Minh vẫn tràn đầy sức sống, một cánh chim nhỏ chao liệng đủ để làm chủ cả một không gian bao la rộng lớn.

Hai câu sau, hình ảnh con người xuất hiện bình dị và tràn đầy sức sống

Bức tranh thiên nhiên dần khép lại, nhường chỗ cho bức tranh sinh hoạt của con người nơi sơn cước. Không gian chiều tà giờ đây đã bị bóng tối đã lấp đầy phủ kín không gian.

Trên đoạn đường bị giải đi, Hồ Chí Minh bắt gặp hình ảnh “Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc”, không phải là giai nhân yểu điệu, mà là cô thôn nữ đang hăng say uyển chuyển với công việc của mình. Một vẻ đẹp trẻ trung, khỏe khoắn và tràn đầy sức sống trong lao động thường ngày. Hiếm có nhà thơ nào lại tinh tế để khám phá ra được sức hấp dẫn trong những điều bình dị nhất như vậy.

Nguyên tác, Hồ Chí Minh dùng từ “sơn thôn thiếu nữ” thể hiện sự tôn trọng, ngưỡng mộ vẻ đẹp của cô gái. Nhưng rất tiếc ở bản dịch đã bị chuyển thành “Cô em xóm núi”, ít nhiều bị mất đi tính hình tượng mà tác giả cố ý xây dựng. Cấu trúc điệp liên hoàn được sử dụng trong câu 3 và 4: “ma bao túc” – “bao túc ma hoàn” tạo ra sự nhịp nhàng, uyển chuyển khéo léo.

Đặc biệt cái hồn cả cả bài thơ đọng lại trong nhãn tự “hồng”. Hình ảnh “lô dĩ hồng” bừng lên thứ ánh sáng để xua tan đi bóng tối và sự mệt mỏi, sưởi ấm không gian vẫn đang hiu quạnh vắng vẻ ở hai câu thơ đầu tiên. Một chữ “hồng” ấy thôi cũng đủ để thổi bùng lên bao nhiêu ý chí, khát vọng và quyết tâm của người thi nhân – người chiến sĩ cách mạng trong cảnh cầm lao.

Hai câu thơ cuối của bài thơ “Chiều tối” đã tô điểm bức tranh trở nên hoàn hảo, có cảnh, có người. Con người hiện lên không nhỏ bé, cô lập mà thật kỳ vĩ, làm chủ cả không gian, thời gian, lấp đầy khoảng trống thiên nhiên đem đến. Ý thơ còn bộc lộ được sức sống mãnh liệt cũng như tinh thần sắt đá của tác giả Hồ Chí Minh.

“Mộ” (Chiều tối) tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh. Giữa gông cùm và xiềng xích, tâm hồn người thi nhân vẫn cất lên tiếng lòng tha thiết với cảnh vật, con người hữu tình. Bút pháp ước lệ tượng trưng, lấy động tả tĩnh, lấy mây điểm trăng cùng sự kết hợp cổ điển xen lẫn hiện đại đã tạo nên một bài thơ xuất sắc cả về nội dung và giá trị nghệ thuật.

Đừng bỏ qua 🔥 Bình Giảng Tây Tiến 🔥 15 Bài Văn Ngắn Gọn Hay Nhất

Chủ tịch Hồ Chí Minh – không chỉ là một người con vĩ đại của dân tộc mà khi nhắc đến cái tên ấy trong lòng mỗi người đều có những cảm xúc riêng. Bác không chỉ là một nhà chính trị tài ba lỗi lạc, một vị cha già giàu lòng nhân ái, yêu thương mà Bác còn nhà một nhà thơ, nhà văn lớn của dân tộc. Tố Hữu từng viết:

Thật vậy, thơ Bác là sự kết tinh tình cảm của một trái tim lớn thiết tha với dân tộc. Bài thơ “Chiều tối” là một bài thơ như thế, tiêu biểu cho phong cách thơ của Người. Phải đặt bài thơ trong hoàn cảnh khi Bác đang bị bắt và giải từ nhà lao Tĩnh Tây đến nhà lao Thiên Bảo mới thấy được hết giá trị của nó.

Những buổi hoàng hôn thường mang dư vị buồn, bởi vậy, những con người xa quê mang nỗi nhớ da diết khi chiều tối lại càng thêm nhớ thêm thương. Cánh chim trên bầu trời kia sau ngày dài kiếm ăn mỏi mệt, bay nặng nề trên không trung về tổ ấm của mình để nghỉ ngơi. Chòm mây cũng nhỏ bé vô định giữa khoảng không bao la rợn ngợp. Chòm mây lơ lửng trôi nhẹ nhàng, bình yên đến vậy mà sao gợi nỗi buồn mênh mang.

Phải chăng thiên nhiên ấy đang chất chứa nỗi lòng của người tù cách mạng đang một mình đơn độc giữa núi rừng bạt ngàn nơi đây, lấy cánh chim với đám mây kia làm người bạn tâm giao gửi gắm nỗi lòng. Thiên nhiên dường như mang hồn cốt nỗi lòng của thi nhân, có khi cũng mỏi mệt đó nhưng vượt lên trên tất cả vẫn là khát khao trở lại quê hương như cánh chim kia tự do bay về tổ ấm của mình sau hành trình dài mỏi mệt.

Nếu hai câu trên là khung cảnh thiên nhiên đượm buồn, cô đơn, lẻ loi, thì hai câu cuối mang dáng dấp của sự sống con người. Bức tranh ấy được trọn vẹn và sống động hơn bao giờ hết. Cảnh vật và con người hoà quyện vào nhau. Giữa núi rừng ấy là hình ảnh người con gái xay ngô tối đầy tập trung, siêng năng, miệt mài.

Bên ánh lửa giữa bầu trời đêm, cô gái hăng say làm việc. Một bức tranh sinh hoạt bình dị, đời thường mà khoẻ khoắn, gợi nét sinh động trong đời sống nhân dân. Giữa thiên nhiên bao la, cô em trở nên nổi bật và hấp dẫn lạ thường. Phải chăng đó là niềm mong ước của Bác gửi gắm vào những vần thơ về niềm tin vào một ngày đất nước hoà bình, nhân dân được bình yên, tự do lao động, tăng giá sản xuất chẳng còn nỗi lo mất nước.

“Xay hết lò than đã rực hồng”

Chữ “hồng” trở thành nhãn tự của bài thơ, chỉ một từ thôi mà nó chất chứa bao nhiêu ý nghĩa. Ánh than hồng xua tan đi màn đêm giá lạnh, xua tan nỗi cô độc của người tù nhân chốn xa xôi. Ánh than hồng là ánh sáng của cách mạng, là niềm tin vào tương lai, ánh than hồng chất chứa niềm hy vọng, sưởi ấm, thắp lên ngọn lửa tin yêu, lòng yêu nước thiết tha, hướng về sự sống, về ngày mai tốt đẹp. Ánh than hồng thật ấm áp, thân thương như tấm lòng Bác vậy.

Bài thơ chỉ bốn câu thôi mà sao nhiều ý vị đến vậy. Từ trong gông cùm, trong đau thương nhọc nhằn, Bác vẫn không hề bi quan, chán nản mà trái lại rất lạc quan, luôn hướng đến niềm vui, hướng đến sự sống với bao hy vọng. Bác không ngại vất vả gian nan, quên đi đau khổ của thực tại mà viết nên những vần thơ quá đỗi đẹp đẽ và thương yêu.

Nếu trong văn chính luận, văn phong Bác sắc sảo, chắc chắn, giàu sức thuyết phục với những lý lẽ chính xác, khách quan thì trong thơ Bác lay động lòng người bởi sự bình dị mà sâu sắc. Sự kết hợp vô cùng nhuần nhuyễn giữa vẻ đẹp cổ điển và nét hiện đại giúp thơ Bác mang một phong cách riêng, độc đáo, tài hoa.

Đọc bài thơ “Chiều tối”, thế hệ trẻ càng thêm khâm phục Bác, càng trân quý tự do và hoà bình hôm nay. Và tự hứa với lòng, dù trong khó khăn thử thách của cuộc sống vẫn không nản chí, giữ vững tinh thần lạc quan và niềm tin tất thắng ngày ngày phấn đấu nỗ lực hơn để xứng đáng là thế hệ trẻ bản lĩnh, tài năng như cách sống của Người.

Đừng bỏ lỡ cơ hội 🍀 Nhận Thẻ Cào 100k Miễn Phí 🍀 Card Viettel Mobifone

Nguyễn Ái Quốc không chỉ là một nhà văn hóa, một anh hùng dân tộc lỗi lạc mà còn là nhà văn, nhà thơ lớn. Người đã để lại một sự nghiệp văn chương phong phú về thể loại, đa dạng về phong cách và sâu sắc về tư tưởng. Trong đó bài thơ “Mộ” là một ví dụ. Bài thơ “Mộ” (“Chiều tối”) của Nguyễn Ái Quốc thể hiện được tình yêu thiên nhiên và tình yêu quê hương đất nước sâu sắc.

Bức tranh thiên nhiên được thể hiện trong bối cảnh không gian quen thuộc không gian rừng già mênh mông và bầu trời rộng lớn mà tác giả kiến mục trên con đường áp giải từ nhà ngục Tĩnh Tây sang nhà lao Thiên Bảo:

Tác giả đã sử dụng bút pháp pháp có tính chất chấm phá, điểm xuyết chứ không miêu tả cụ thể, tỉ mỉ khi miêu tả thiên nhiên, cảnh vật. Hình ảnh cánh chim trong lúc hoàng hôn cho thấy điều này. Tác giả đã lấy không gian để gọi thời gian bởi hình ảnh cánh chim bay về rừng già gợi ra thời điểm chiều muộn. Khi một ngày lao động vất vả kết thúc, cánh chim bay về rừng già tìm một chốn nghỉ ngơi. Mặt khác, tác giả đã thả hồn mình vào trong cánh chim vì thế mà cánh chim mới có tâm trạng “mỏi”. Điều này cũng tương tự như nhà thơ trên con đường dài.

Trong câu thơ thứ hai, hình ảnh tròn mây đơn độc chứng tỏ một tâm trạng khác của nhà thơ. Chữ “cô” trong câu văn được dịch thành “chòm” có vẻ như đã đánh mất sức biểu đạt tâm trạng. Nó không chỉ là một đám mây đơn thuần đang lững lờ trôi mà nó còn trơ trọi, cô độc trên bầu trời cao rộng. Con người cũng vậy thôi, khi đất nước còn đang nô lệ có ai lại thấy an yên, vui vầy, hạnh phúc. Với một tâm hồn yêu nước lớn lao như Hồ Chí Minh thì điều này càng khó hơn. Qua đây, ta thấy được sự hòa hợp tuyệt đối giữa con người với tiên thiên nhiên.

Hai câu thơ sau giọng thơ và hình ảnh thơ và sự thay đổi hoàn toàn. Không gian trở nên gần gũi hơn và thời gian bắt đầu về tối:

Bối cảnh chuyển về điểm nhìn của cuộc sống con người. Con người trở thành chủ thể. Hơn nữa ,chủ thể ấy còn là “sơn thôn thiếu nữ” – một hình ảnh rất quen thuộc đối với con người ở vùng núi. Khoảng thời gian về tối nhưng dường như nó không gọi nên sự hiu quạnh mà bức tranh thật ấm áp với hình ảnh lò than rực hồng ánh sáng. Ánh sáng ấy như xua tan bóng đêm, không khí lạnh, sự hiu quạnh của núi rừng mà ta bắt gặp trong 2 câu thơ trước đó.

Từ “ma bao túc” lặp lại ở cuối câu thơ thứ nhất và đấu câu thơ thứ hai tạo ra một vòng tuần hoàn liên tục giống như một chuỗi nhịp điệu đều đặn của người con gái. Cô gái bản như đang hăng say lao động vừa tràn đầy sức sống vừa tràn đầy niềm vui cống hiến. Nhãn tự “hồng” rất đặc biệt, nó thể hiện nét phong cách trong văn chương Nguyễn Ái Quốc – luôn luôn hướng về ánh sáng, về tương lai.

Bếp than hồng là cảnh thực nhưng lại mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Nó biểu tượng cho cuộc đấu tranh trường kỳ của dân tộc. Bếp than âm ỉ cháy mỗi đêm và đợi đến một lúc nào đó khi thời cơ chín muồi nó sẽ bùng lên thành ngọn lửa rực rỡ nhất. Nguyễn Ái Quốc gửi mọi niềm tin, sự lạc quan vào trong cuộc đấu tranh của dân tộc. Và điều này đã thực sự được chứng minh trong lịch sử sau đó.

Tóm lại, bài thơ “Mộ” của Hồ Chí Minh có nhiều đặc sắc nghệ thuật: giàu màu sắc cổ điển và tinh thần hiện đại, ngôn từ phong phú giàu sức gợi, nội dung mới mẻ, diễn đạt giản dị mà sâu sắc… Qua đó tác phẩm diễn tả bức tranh thiên nhiên, bức tranh tâm trạng và bức tranh lòng người của một bậc đại trí, đại dũng. Thơ Hồ Chí Minh vẫn luôn thể hiện được niềm tin vào công lý và khát vọng Chân – Thiện – Mỹ.

Giới thiệu cùng bạn 🍀 Nghị Luận Đây Thôn Vĩ Dạ 🍀 15 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Đón đọc bài văn nghị luận Chiều tối lớp 11 chi tiết với những phân tích và cảm nhận tác phẩm văn học chuyên sâu giúp các em học sinh nâng cao kỹ năng viết.

Bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh là bài thơ thể hiện bức tranh hoàng hôn và bức tranh miêu tả người thiếu nữ lao động vô cùng tươi đẹp. Bài thơ được tác giả Hồ Chí Minh viết trong những ngày tháng bị bắt giam tại nhà tù của chế độ Tưởng Giới Thạch khi bị áp giải chuyển từ nhà giam này tới nhà giam khác.

Bài thơ “Chiều tối” chỉ có vẻn vẹn bốn câu thơ nhưng lại miêu tả hai bức tranh hoàn toàn khác nhau. Đó là bức tranh thiên nhiên và bức tranh con người hoàn toàn đối lập. Thông qua bài thơ ta thấy dù trong hoàn cảnh khó khăn bị giam cầm, tù đày nhưng tác giả Hồ Chí Minh vẫn thể hiện tinh thần yêu thiên nhiên và tinh thần lạc quan, niềm tin vào cuộc sống của mình.

Trong hai câu thơ này tác giả Hồ Chí Minh đã miêu tả bức tranh cảnh chiều tà, hoàng hôn vô cùng buồn bã, thể hiện sự vội vã của những cánh chim muốn tìm về tổ ấm của mình sau một ngày mệt mỏi tìm kiếm thức ăn, mưu sinh. Những cánh chim nhỏ nhoi đối lập với bầu trời bao la, mênh mông thể hiện sự cô đơn của cảnh vật, thể hiện một nỗi buồn man mác trĩu nặng trong lòng.

Trên bầu trời xanh bao la đó những chòm mây đủng đỉnh trôi vô định, đối lập với sự vội vã của những cánh chim mệt mỏi kia. Cảnh thiên nhiên nơi núi rừng hoang sơ, hiểm trở, của vùng sơn cước vô cùng đẹp nên thơ lãng mạn, có chim, có mây, nhưng lại gợi lên một chút buồn khiến tâm trạng của người đọc cảm thấy cô liêu.

Trong hai câu thơ này tác giả Hồ Chí Minh đã tinh tế khi sử dụng bút pháp cổ điển vô cùng điêu luyện, lấy cánh chim làm biểu tượng cho cảnh chiều tà, hoàng hôn. Và lấy cảnh hoàng hôn thể hiện cho nỗi buồn trong lòng của mình. Bởi con người khi nhìn thấy cảnh hoàng hôn luôn gợi lên một nỗi buồn nhè nhẹ trước cảnh ngày sắp tàn, ánh nắng biến mất dần và màn đêm bao phủ gợi lên sự cô liêu.

Trong hoàn cảnh của tác giả Hồ Chí Minh lúc này thì khó lòng người có thể vui được bởi người đang chịu cảnh mất tự do, chân tay bị gông cùm, xiềng xích, bị áp giải đi đường cả một ngày trời mệt mỏi. Trong trái tim của tác giả còn nặng chứa những nỗi niềm không biết bày tỏ cùng ai một nỗi buồn mỗi khi nghĩ tới quê hương đất nước, khi quê hương còn đang chịu khiếp thuộc địa làm nô lệ lầm than.

Thiên nhiên và con người lúc này như có sự đồng cảm bởi thiên nhiên, cánh chim, chòm mây đều thể hiện một nỗi buồn sau một ngày dài mệt mỏi. Con người mất tự do không biết mình sẽ bị áp giải tới đâu và về đâu. Sự mệt mỏi về tinh thần và thể xác của một người tù.

Trong tâm trạng của tác giả còn thể hiện nỗi buồn vì phải rời xa quê hương tổ quốc thân yêu của mình. Trước cảnh đẹp của núi rừng sơn cước những người vẫn không thể nào vui vẻ thư giãn được. Tuy nhiên trong hai câu thơ tiếp theo, không gian bức tranh phong cảnh:

Hai câu thơ tiếp theo này thể hiện bút pháp “nhãn tự” của tác giả Hồ Chí Minh, khi nhà thơ dùng từ “hồng” để làm “nhãn tự” cho mình. Một hình ảnh cô thiếu nữ lao động miệt mài tới khi trời tối khuya những giọt mồ hôi lấm tấm trên khuôn mặt cô thể hiện một nét đẹp giản dị nhưng thu hút lòng người về người con gái chăm chỉ làm việc.

Cô gái xay ngô bên lò than hồng quên cả trời tối thể hiện một bức tranh vô cùng sinh động, tươi đẹp của cuộc sống gia đình ấm cúng, hạnh phúc, no đủ yên vui. Bức tranh đời sống này làm cho bài thơ trở nên sống động, mang màu sắc tươi vui rung động lòng người. Một bức tranh sinh hoạt ấm áp.

Hình ảnh lò lửa hồng chính là một hình ảnh trung tâm, là nhãn tự của bài thơ làm cho cô gái trở nên rõ ràng tươi nét hơn. Lò lửa hồng cũng sưởi ấm cả bài thơ với những nét vẽ trầm buồn trước đó, làm nên sự bứt phá mới trong thơ của Hồ Chí Minh.

Lò lửa hồng đỏ rực bên cạnh một cô thôn nữ đang chăm chỉ làm việc, lao động nhiệt tình hăng say làm cho bài thơ trở nên nổi bật trẻ trung hơn, nhiều sức sống hơn. Đồng thời qua đây thể hiện sự lạc quan của tác giả Hồ Chí Minh, dù trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn nhưng tác giả vẫn nhìn cuộc sống vô cùng tươi trẻ đầy tinh thần lạc quan vào tương lai.

Bài thơ “Chiều tối” của Hồ Chí Minh chính là một bài thơ kết hợp tài tình giữa hai phong cách cổ điển và hiện đại, giữa thiên nhiên và con người. Bài thơ đã xây dựng hai bức tranh thiên nhiên và con người vô cùng tươi đẹp hoàn toàn đối lập nhưng lại tương trợ lẫn nhau. Thông qua bài thơ ta thêm ngưỡng mộ tác giả bởi người có tinh thần vô cùng lạc quan, có một trái tim giàu cảm xúc với thiên nhiên và cuộc sống.

Mời bạn xem nhiều hơn 🌟 Nghị Luận Về Bài Thơ Nói Với Con 🌟 15 Bài Văn Ngắn Hay

Văn Mẫu Lớp 11: Nghị Luận Về Điểm Tựa Trong Cuộc Sống (Dàn Ý + 7 Mẫu) Những Bài Văn Hay Lớp 11

Dàn ý nghị luận về điểm tựa trong cuộc sống

1. Mở bài

Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: tầm quan trọng của “điểm tựa” trong cuộc sống của mỗi con người.

Lưu ý: Học sinh lựa chọn cách viết mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy theo năng lực của bản thân.

2. Thân bài

a. Giải thích

(Điểm tựa) là nơi để mỗi người nương tựa, là nơi tiếp cho họ sức mạnh, niềm tin, động lực sống, nơi mang lại cảm giác ấm áp, bình yên…. Tuy nhiên, ở khía cạnh tinh thần, cậu bé cũng là nơi dựa cho người phụ nữ, bà cụ cũng là nơi dựa cho người chiến sĩ

b. Phân tích

Không ai trong chúng ta có thể tồn tại một mình trên cõi đời này. Chúng ta luôn sống trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội: với gia đình, nhà trường, bè bạn. Những người có kết nối quanh ta có thể làm nơi dựa cho ta nếu đủ tin tưởng.

Trong cuộc sống, không ai có thể chắc chắn rằng cuộc đời mình thuận lợi mãi mãi. Ta rất cần tìm cho mình một nơi dựa làm điểm tựa trong đời, để được an ủi, che chở, giúp đỡ, vỗ về nâng bước.

Điểm tựa còn là động lực tiếp thêm sức mạnh để con người đứng lên, vững bước trên con đường của mình và chinh phục thành công, nơi dựa luôn là hậu phương vững chắc cho con người trên bước đường đời.

c. Chứng minh

Học sinh tự lấy dẫn chứng về nơi dựa của con người làm minh họa cho bài văn của mình.

Lưu ý: dẫn chứng phải nổi bật, tiêu biểu, xác thực và được nhiều người biết đến.

d. Phản biện

Trong cuộc sống có nhiều người vẫn còn ỷ lại, dựa dẫm vào người khác mà không chịu làm việc, tự chủ cho cuộc sống của chính mình. Lại có những người không biết trân trọng cuộc sống, không biết trân trọng nơi dựa, những người bên cạnh mình,… những người này đáng bị phê phán.

3. Kết bài

Khái quát lại vấn đề nghị luận: tầm quan trọng của “Điểm tựa” trong cuộc sống của mỗi con người; đồng thời rút ra bài học và liên hệ bản thân.

Nghị luận về điểm tựa trong cuộc sống – Mẫu 1

Hãy sống và yêu thật đơn giản, đơn giản như dòng sông xanh xanh, bàng bạc. Đừng mãi nhìn cuộc đời quá phức tạp, quá hoa mỹ, như thế bạn càng cảm thấy mệt mỏi. Không cần đến những con sóng dữ dội, vì những con sóng chỉ khiến người ta cảm thấy hơi vị bôn ba, không cần đến màu sắc rực rỡ, vì chỉ làm cho người ta mơ mộng chốn phồn hoa.

Người ta thường nói, thứ đơn giản và hồn nhiên nhất chính là tâm hồn non nớt của trẻ con, cái đơn giản đó mà cả thế giới cứ mãi tìm kiếm. Đúng vậy, khoảng thời gian tuổi thơ đẹp làm sao, cái tuổi với bao khát khao, bao hoài bão, lí tưởng, cái tuổi có những ước mơ bay cao, bay xa đến mức vượt tầm vũ trụ, cái tuổi đó đẹp, mơ màng nhưng dường như không thuộc về ta nữa.

Bây giờ khi trưởng thành, đứng trước quá nhiều lựa chọn, ta bắt đầu hoang mang, lo lắng, mình phải làm sao? Ai có thể giúp mình? Dần dần ta nhận ra ngay cả ước mơ, lí tưởng cũng cần có điểm tựa để ta dựa vào những lúc chênh vênh nhất, không biết lựa chọn nào là tốt nhất cho mình. Nhờ điểm tựa mà những lí tưởng không hóa ảo tưởng.

Người có lí tưởng là người hạnh phúc. Hạnh phúc là điểm đến không phải hành trình, hạnh phúc là nơi xuất phát, cũng là nơi để trở về, người hạnh phúc là người biết mình đi đâu và về đâu. Dù cuộc sống có bộn bề tấp nập đến đâu chăng nữa thì cũng cần một điểm tựa, một nơi để tìm về. Đúng thế điểm tựa chính là điểm xuất phát và điểm dừng chân, điều đó được ví như tòa lâu đài cao bao nhiêu cũng không thể đứng vững trên hư không, loài trai biển muốn xuất hiện, muốn sinh tồn thì cần có biển cả, và bãi cát che chở.

Trong cuộc đời mỗi con người, ai cũng phải từng trải qua ít nhất 1 lần thất bại, hụt hẫng, đau khổ, dằn vặt. Những lúc đó bạn cần gì nhất? đó chính là một điểm tựa, đó là điểm tựa niềm tin, niềm tin giúp ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách, mang đến mọi điều tốt đẹp.

Chỉ cần có niềm tin, dù phải đối diện với thử thách nghiệt ngã đến đâu chẳng nữa, bạn hãy tin rằng cuộc sống luôn còn những cơ hội cho bạn và khả năng của con người là không có giới hạn. Hơn nữa, bạn không đơn độc một mình. Bên cạnh bạn luôn có những bàn tay sẵn sàng nâng đỡ, còn có những tấm lòng chia sẻ và cả những ký ức đẹp của cuộc sống.

Niềm tin là điểm tựa quý giá đưa ta đến gần hơn sự thành công.

Archimedes từng nói:”Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nâng bổng cả trái đất” có sức mạnh là có cơ hội làm mọi thứ, chỉ cần có điểm tựa vững chắc thì khó khăn mấy cũng nâng lên được.

Con người cũng cần một điểm tựa, điểm tựa đó có thể mang đến cho bạn trí tuệ, sức mạnh, phương hướng và dung khí. Tìm được điểm tựa thuộc về mình, lúc đó có thể bạn sẽ phát hiện ra lí tưởng cách bạn không xa lắm.

Nghị luận về điểm tựa trong cuộc sống – Mẫu 2

Tôi thường xem những chương trình cảm động đến nghẹn lời của “Điều ước thứ bảy” trên sóng VTV3: câu chuyện về cô gái ung thư kiên cường Ngọc Nữ và người bạn trai thầm lặng thực hiện những ước mơ cuối đời của cô; cuộc sống nghèo khó của bà cụ bán hàng song với hàng trăm chú mèo bị bỏ rơi. Những mẩu chuyện ấy tựu chung một từ “chỗ dựa”: Ngọc Nữ tìm thấy tình yêu sống trong tình thương chân thành, bà cụ cô đơn hạnh phúc bên bầy mèo nhỏ.Thiết nghĩ, trong cuộc sống cần thiết lắm tìm được chỗ dựa cho mình, nhưng làm chỗ dựa cho người khác, phải chăng còn cao quý và cần thiết hơn?

Chỗ dựa là điểm tựa về tinh thần và vật chất của mỗi người, là bội con người có thể đặt trọn niềm tin, là động lực tiếp sức cho cá nhân, là nguồn cổ vũ động viên vô tận của con người.Nhưng nếu nói đến “chỗ dựa”, ta thường nghe “chỗ dựa tinh thần” bởi đó mới là nghĩa thật sự của chỗ dựa đời người.

Tìm chỗ dựa cho mình là điều đúng đắn trong cuộc sống, nhưng trở thành chỗ dựa cho người khác-đó mới là cách sống ở đời.

Nhưng có một thực tế rằng, muốn sống vì người khác trước hết phải biết sống cho chính mình:biết đi tìm một chỗ dựa cần thiết.

Con người tồn tại trong thế giới không phải là một thực tế tách biệt, trái lại luôn tổng hòa trong mối quan hệ xung quanh.Có những người rất kì lạ, họ cho rằng có thể sống độc lập không cần tiến hóa trên Trái Đất, biến máy móc phục vụ cho cuộc sống của mình, có thể điều khiển cả thời tiết.Con người mạnh mẽ nhất, cũng yếu mềm nhất bởi chính phần cảm xúc vô thức không thể chế ngự:lạnh đã có áo, mưa đã có ô che đầu, nhưng sự mơ hồ của tình thần liệu có mua được thuốc?

Thời nguyên thủy, loài người vượn cổ sống bầy đàn để cùng săn bắn hái lượm, cùng vượt qua mùa đông lạnh giá.Dường như vì thế, khi mọi người đều có thể tự động và hiện đại hóa, con người vội cho rằng mình có thể độc lập? Thử thách của cuộc sống khắc nghiệt tỉ lệ thuận với sự phát triển của thời đại, mà con người có nhược điểm sợ thay đổi và chậm thích nghi. Giữa những giây phút khó khăn ấy, có lẽ cần lắm một nguồn cổ vũ từ một “chỗ dựa”.

Đâu phải ai cũng là vận động viên chạy bền theo kịp mãi vòng quay không ngừng nghỉ của xã hội, đâu tránh khỏi cảm giác cô đơn, lạc lõng. Có những người con xa xứ thèm cái nắng phương Nam, nhớ những thảm đào hồng nơi phố Tết; có anh sinh viên nhớ giọng cười mẹ hiền, nhớ mắt em thơ trong veo ngọc biếc.Chỗ dựa thân thương – nơi gia đình, bạn bè, người thân là ngọn lửa thần kì tan chảy bao muộn phiền đóng băng trong lòng.

Hình như trong cuộc sống, dù mạnh mẽ cá tính đến đâu, con người cũng cần lắm một chỗ dựa.

Một con người có vô số bạn, bạn thân có đôi ba, nhưng “chỗ dựa” thực sự có lẽ cũng khó tìm như tri kỉ tri âm vậy, và đôi lúc con người không thực sự nhận ra “chỗ dựa” của mình.Vì thế, sự tình nguyện trở thành chỗ dựa cho người khác thật cao quý, vì quả thật.

Tình cảm cao đẹp ấy trước hết khơi nguồn từ đạo lí sống, có lẽ của toàn nhân loại, không chỉ riêng dân tộc Việt Nam “Lá lành đùm lá rách” đạo lí sống nhân ái ấy có lẽ cũng chính là ý nghĩa của “chỗ dựa”: sẵn sàng sẻ chia, giúp đỡ mọi người xung quanh.Ý nghĩa của sự sẻ chia đôi khi không nằm ở sự to lớn của điều cho đi mà là niềm hạnh phúc nhỏ bé nhận lại.”Chỗ dựa tinh thần” vố là khái niệm mơ hồ, nên niềm hạnh phúc ấy lại khó đoán biết; cũng giống như câu hỏi vì sao hoa lại nở, vì sao cầu vồng lại xuất hiện sau cơn mưa, vì sao đứa bé sơ sinh lại cườI vốn dĩ đều là những cảm xúc tự nhiên nhất.

Làm chỗ dựa cho người khác không chỉ là lòng nhân ái, không chỉ có niềm hạnh phúc sẻ chia mà còn là cơ hội để trở nên mạnh mẽ hơn, có trách nhiệm và trưởng thành hơn.Bất kì ai có thứ mình cần bảo vệ đều sẽ trở nên mạnh mẽ. Và cũng bởi khi trở thành chỗ dựa, ta chấp nhận thử thách gấp đôi:vừa giữ vững lòng mình, vừa an ủi, khích lệ người khác để xứng đáng với tin tưởng của người đó.

Có lẽ, cao quý thôi chưa đủ, cần thiết thôi chưa đủ, làm chỗ dựa cho người khác còn xứng đáng với hai chữ “can đảm”, Dù lòng nhân ái bao la, nhưng tâm lí đám đông vẫn mặc định “ốc không mang nổi mình ốc lại mang cọc cho rêu”.Cha mẹ tìm chỗ dựa nơi con cái là lẽ “hiếu”, vợ chồng nương tựa vào nhau là lẽ “phu thê”, bạn bè đồng cam cộng khổ là lẽ “bằng hữu”, nhưng những người xa lạ tìm nơi dựa lẫn nhau có lẽ chỉ vì một lẽ “người”.Như câu chuyện về “chú lính chì” Hồ Thiện Nhân và mẹ nuôi em – nhà báo Mai Anh.Thời điểm đó cô nhận nuôi Thiện Nhân khi gia cảnh khó khăn, hai đứa con nhỏ đau ốm liên miên, có người nói cô dại “đèo bòng’, bởi Thiện Nhân tật nguyền, sinh bệnh thoi thóp trên bàn phẫu thuật với chi phí hàng trăm triệu tiền Việt Nam.Nhưng bất chấp tất cả, cô vẫn cho em một mái ấm gia đình-một chỗ dựa đúng nghĩa. Nhà báo Mai Anh và hàng trăm những tấm lòng thiện đang giang tay cưu mang những số phận bất hạnh-những con người làm chỗ dựa cho người khác chẳng phải cao quý vô cùng mà cũng can đảm vô ngần hay sao?

Nghị luận về điểm tựa trong cuộc sống – Mẫu 3

Nhắc đến nhà thiên tài cổ Acsimet với những nghiên cứu, những nguyên lý, định đề có giá trị cho tri thức nhân loại sau này chắc hẳn ít ai không biết. Ông còn nổi tiếng với câu nói lưu truyền lừng lẫy trong lĩnh vực vật lý với định luật đòn bẩy của mình “hãy cho tôi một điểm tựa. Tôi sẽ nâng bổng cả Trái Đất lên“ không thể nói hết được giá trị như bài học đạo đức này với của mỗi người, chỉ biết rằng câu nói ấy có lẽ sẽ khiến ta phải ngồi lại, suy nghĩ về bản thân và nhận được nhiều điều!.

Là một nhà toán học, vật lý, thiên văn học Acsimet đã sáng tác ra một câu nói bất hủ để chứng minh cho định luật đòn bẩy mà chúng ta đã được học ở trang sách cấp 2 quen thuộc – chính là cánh tay đòn dài có độ bẩy tốt hơn, lực tác dụng tốt hơn. Để rồi câu nói này dường như ghi đậm ấn tượng vào trong lòng mỗi người nhưng dường như ít ai có thể hiểu hết được về nó toàn vẹn. Câu nói này bao hàm điều như một chân lý bất biến, cảm thấy có gì chơi khoa trương, hơi nói quá khi tác giả sử dụng từ ngữ “nâng cả trái đất” nhưng nó bao hàm nhiều ý nghĩa mà tác giả toàn tâm toàn ý đúc kết ra được qua những chiêm nghiệm của mình trong cuộc sống.

Thấy được tầm quan trọng của một “điểm tựa” trong văn học, với các hoàn cảnh đặc thù nó biểu hiện khác nhau, nhưng rõ nhất là trên nền của cuộc sống. Đã bao lần bước đi, con đường đến với những thành công nhất định luôn đầy rẫy những chông gai vô hình, hữu hình mà ta không thể lường trước được, nhưng vượt qua được khoảng thời gian đó bằng tự sức lực của mình bạn quả là mạnh mẽ, đáng ngưỡng mộ. Nhưng sẽ có không ít những con người họ cần sự sẻ chia từ những con người tin tưởng họ vì nó quá khó khăn để vượt qua, vì điều kiện không thể cho phép, đã ít nhất một lần gục ngã, sự thất vọng ê chề, tràn ngập trong đau đớn, mệt mỏi …Nhưng chỉ cần một điểm sáng lóe lên – một điểm tựa để cho ta mau lấy lại sức, đôi khi chỉ cần là một câu động viên ngắn ngủi mà đúng lúc còn hơn vạn lần những bài văn suông động viên, hay sự giúp đỡ một chút cũng đủ để người đó thấy an tâm, mau chóng lấy lại được động lực để bước đi tiếp trên con đường của mình.

Nghệ thuật mà một điểm tựa biểu lộ có vô vàn kiểu khác nhau: đôi lúc cần câu nói, đôi lúc là cử chỉ, đôi lúc là vật chất mang tính giúp đỡ, một ít tiền bạc nếu thực sự cần thiết, nhưng đôi khi những điều trên không thật sự cần thiết mà người đó mong mỏi ở “điểm tựa” của mình là sự lắng nghe, sự im lặng thấu hiểu, cho người ta được xả cơn muộn phiền, rồi họ lại có sức lực trở lại…

Thế giới là sự kết nối vô hình trong cộng đồng người với nhau, sống cô đơn, tự cô lập chính bản thân mình chẳng khác nào đang để tuột đi mất nguồn “điểm tựa” dĩ nhiên tồn tại trong cuộc sống mỗi người. Không ai chỉ có mỗi một điểm tựa, và có khi không phải một điểm tựa nào cũng vững bền và kéo dài mãi mãi cùng sự phát triển theo năm tháng. Đừng quá kỳ vọng vào điểm tựa xa vời, hoàn hảo để cho ta lúc cần nhất nhưng cũng đừng vì thế mà tuyệt vọng vì hãy cố gắng tìm kiếm, điểm tựa ấy sẽ hiện diện lên thật gần, tuy nó bình thường nhỏ bé nhưng là điều quý giá đúng lúc, thiện tâm. Ví dụ như xã hội hiện nay luôn ngập trong tình yêu thương, tinh thần” tương thân tương ái” xuất hiện ngày một phổ biến tự nguyện mà không đòi hỏi phí tổn quá lớn, những nhà hảo tâm sẵn sàng giang rộng cánh tay cứu giúp những hoàn cảnh khó khăn.

Vai trò quan trọng của những điểm tựa tinh thần là một điều không thể kể xiết, nó là vòng tay của mẹ của người thân yêu, những người bạn quanh ta, đôi khi có cả của người lạ hết thảy đều mang cho ta cảm giác yên bình, mong muốn ta có sức mạnh để vượt lên những khoảng thời gian trầm lắng của cuộc sống, dẫn bạn trở lại đúng con đường và cứ tiếp tục đi, và luôn vững tin vì luôn có mọi người ở bên cạnh.Ta khi đi ra ngoài xã hội, dường như thèm lắm cái cảm giác được trở về được bao bọc như ngày xưa bé, mọi thứ ngày một đổi khác tất cả ai cũng đều phải lớn lên, sống mạnh mẽ để mong muốn đạt được những thành công to lớn, nhưng đừng quên rằng khi ta cô đơn lạc lõng, khi ta chùn bước không phải vì quá sợ sệt yếu đuối mà là vì ta quá mệt mỏi, đừng để bản thân phải sống trong bơ vơ với bức tường, những trống rỗng, những suy nghĩ u uẩn đày đọa tâm hồn, liệu nó có xứng đáng không? Bạn dễ dàng để mọi thứ buông xuôi như vậy à!.

Hãy ra ngoài tạo nhiều mối quan hệ, thắt chặt tình thân với mọi người thân, bạn bè trước kia, giữ liên lạc với họ, để tạo những kỷ niệm vốn dĩ đã trở thành tiềm thức, nhưng hãy để nó phát huy giá trị ở hiện tại với bạn….Ai cũng cần một điểm tựa, để ta sẽ tạo nên những kì tích vĩ đại trong cuộc sống. Nhưng nếu bạn biết một điều rằng dù sao đến cuối cùng bạn cũng cần trưởng thành, đủ mạnh mẽ để làm điểm tựa cho chính mình, và cho người khác thì bạn mới hiểu được cuộc đời đáng quý hơn biết bao nhiêu và tự suy nghĩ, làm việc vì tiến bộ của bản thân, thì mới mong sẽ có ích cho gia đình, xã hội.

Câu nói trên có vai trò cực kỳ lớn của “điểm tựa- đòn bẩy” có thể biến những điều tưởng chừng như không thể thành có thể tạo nên cho ta một niềm tin, một ý tưởng vĩnh viễn đúng dù thực tế khắc nghiệt nhưng vẫn cho phép ta được mong ước, được hy vọng vào những điều tuyệt vời sẽ đến. Sẽ không bao giờ là thừa khi để tình thương của mình chia sẻ đúng lúc, đúng chỗ, cho nhiều người vì cho đi là nhận lại, đôi khi chỉ cần một hành động nhỏ lại mang lại những hành động mang ý nghĩa tích cực, nhân văn cao cả, giúp con người ta vững niềm tin vào cuộc sống. Nhưng điều quan trọng là cần tạo niềm tin vững chắc cho chính bản thân mình, biết tìm ra câu trả lời tốt nhất để giải quyết trong khó khăn thì chính lúc đó điểm tựa ấy sẽ được gọi với cái tên kiêu hãnh “trưởng thành toàn diện”.

Nghị luận về điểm tựa trong cuộc sống – Mẫu 4

Một nhà vật lý nổi tiếng đã từng nói: “Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nâng cả thế giới”. Câu nói này của ông khiến ta thấy rằng trong cuộc sống con người luôn cần cho mình một điểm tựa để thực hiện những ước mơ, hoài bão hay vượt qua những khó khăn, trở ngại. Chính vì vậy, bài thơ Nơi dựa của Nguyễn Đình Thi gợi lên cho chúng ta rất nhiều suy nghĩ.

“Nơi dựa” (điểm tựa) là nơi để mỗi người nương tựa, là nơi tiếp cho họ sức mạnh, niềm tin, động lực sống, nơi mang lại cảm giác ấm áp, bình yên…. Tuy nhiên, ở khía cạnh tinh thần, cậu bé cũng là nơi dựa cho người phụ nữ, bà cụ cũng là nơi dựa cho người chiến sĩ.

Không ai trong chúng ta có thể tồn tại một mình trên cõi đời này. Chúng ta luôn sống trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội: với gia đình, nhà trường, bè bạn. Chính trong những mối quan hệ đó, con người học tập, làm việc, dần định hình và phát triển nhân cách của mình. Trong cuộc sống, không ai có thể chắc chắn rằng cuộc đời mình thuận lợi mãi mãi. Có thể đến một lúc nào đó công việc của chúng ta sẽ gặp bất trắc, trở ngại. Chính những lúc ấy, ta rất cần tìm cho mình một nơi dựa làm điểm tựa trong đời, để được an ủi, che chở, giúp đỡ, vỗ về nâng bước. Từ đó những thất bại, rủi ro vấp phải sẽ nhanh chóng được vượt qua, con người sẽ có thêm tự tin để bước tiếp.

Như đã nói, bao giờ cũng bắt đầu từ chỗ dựa vững chắc: gia đình. Tình cảm thân thương ruột thịt, sự che chở nâng đỡ cho từng thành viên là điều gia đình không hề thiếu. Cha mẹ luôn ở bên con cái dẫu khi bé thơ đến lúc trưởng thành, động viên con vững bước trên đường đời và có khó khăn gì ta cũng về với cha mẹ đầu tiên. Ngược lại con cái cũng là nơi dựa của cha mẹ, niềm vui của con thể hiện ở nụ cười, nét mặt, ước mong cho con có một cuộc sống tốt đẹp hơn quãng đời mình đã sống là chỗ dựa vững chắc cho cha mẹ vượt qua những trở lực trong công việc. Điểm tựa tiếp theo cho con người chính là nhà trường, bạn bè, chúng ta hoàn toàn có thể yên tâm khi xung quanh ta còn thầy cô luôn dìu dắt, chăm sóc từng ngày, quanh ta vẫn còn bạn bè chia sẻ niềm vui trong học tập, đời sống. Những gì ta khó ngỏ lời cùng cha mẹ, khó cùng bố mẹ trò chuyện có thể trao đổi với thầy cô, bè bạn. Một môi trường học đường thân thiện, tích cực luôn là một không gian lý tưởng cho học sinh phát triển. Điểm tựa trong đời ta đôi khi là những tấm gương sáng, thậm chí những con người bình thường trong xã hội. Thấy những anh xe ôm dám bắt cướp, thấy những suất cơm từ thiện, những tấm lòng dành cho đồng bào nghèo, cơ nhỡ hoặc gặp phải thiên tai, ta có nơi dựa để tin rằng cuộc đời còn nhiều người tử tế. Gặp một hoàn cảnh khuyết tật, gia cảnh khó khăn nhưng biết vươn lên ta biết rằng mình còn là một điểm tựa mà thấy rằng mình còn hạnh phúc hơn bao người khác, vững tin với khả năng chịu đựng và vượt qua mọi thử thách của con người để từ đó phải cố gắng hơn.

Lí trí vĩ đại – cuốn sách được thương nhân và chính trị gia xuất sắc nhất của Mĩ đánh giá là cuốn sách đưa quốc này tiến vào thế kỉ XX – đã từng viết như sau: “Nếu mỗi lần vấp ngã, bạn lại bật lên như một quả bóng, khi mọi người đều từ bỏ mà bạn vẫn kiên trì hướng về phía trước thì làm sao bạn có thể thất bại được”. Cuối cùng, nơi dựa vững chắc nhất cho mỗi người vẫn là chính bản thân chúng ta. Nếu con người tự tin, có năng lực, biết tận dụng tốt nhất những gì mình có thì việc khó nhất cũng có thể vượt qua, từ đó đi lên thành công trong cuộc sống.

Nghị luận về điểm tựa trong cuộc sống – Mẫu 5

Trong cuộc sống có rất nhiều khó khăn mà con người chúng ta không thể nào có thể một mình chống chọi lại được. Và trong những lúc khó khăn đó thì con người chúng ta cần có một điểm tựa, điểm tựa nó sẽ giúp cho mỗi con người chúng ta có thêm những sức mạnh vượt qua mọi bão giông. Chính vì tầm quan trọng của những điểm tựa mà nhà bác học Acsimet từng nói: “Hãy cho tôi một điểm tựa. Tôi sẽ nâng bổng cả Trái Đất lên”. Vậy thì chúng ta hiểu như thế nào về câu nói của nhà bác học?

Chúng ta như thấy được “Tôi” và “Trái Đất” được xem chính là một tương quan không cân xứng bởi một bên nhỏ bé, một bên vĩ đại. Nhưng dường như ta biết được khi điểm tựa xuất hiện thì nó lại làm thay đổi tương quan ấy. Một con người nhỏ bé lại có được sức mạnh kì vĩ biết nhường nào, và chính điểm tựa đó giúp cho con người có thể xoay diện cục diện để có thể chiến thắng được những hoàn cảnh khó khăn kia. Và “Điểm tựa” theo vật lí cơ học là một vật thể cố định nơi người ta đặt đòn nhỏ bé có thể có được sức mạnh vượt trội. Điểm tựa mà Acsimet nói tới là trong vật lý nhưng còn có những điểm tựa trong cuộc đời vậy. Điểm tựa như đã có thể hiện được những ngụ ý của câu nói, điểm tựa tuy thật nhỏ bé là thế nhưng nó lại đã tiếp thêm sức mạnh cho cái cá nhân có thể chiến thắng được sức mạnh của vũ trụ như thật lớn lao biết bao nhiêu kia.

Nếu nói về điểm tựa thì trong cuộc sống lại có vô vàn các điểm tựa khác nhau. Các loại điểm tựa trong cuộc sống ta có thể dễ dàng nhận thấy đó chính là những điểm tựa bên ngoài: người thân, thầy cô, bạn bè, những người quanh mình. Những người thân yêu luôn luôn là điểm tựa vững chắc nhất cho bạn. Bởi khi gặp khó khăn bạn có thể tìm những người bạn tin tưởng, những người thân ruột thịt những người bạn tốt, có thể chia sẻ và giúp bạn có những định hướng có được những lời khuyên bổ ích để có thể giúp cho bạn đi qua bão giông một cách tự tin nhất.

Và vì sao mà con người chúng ta đều nên cần phải có điểm tựa? Có thể nói lý do đầu tiên đó chính là khi con người ta có điểm tựa thì điểm tựa giúp chúng ta trưởng thành hơn rất nhiều. Bởi khi bạn muốn làm một việc gì đó nhận được sự hỗ trợ giúp sức của mọi người bạn như cảm thấy mình cần phải cố gắng hơn để có thể hoàn thành nhiệm vụ. Và hơn hết đó chính là bạn như tự cảm thấy mình có trách nhiệm hơn để không phụ lòng những người đã tin bạn, những người đã sẵn lòng làm “điểm tựa” cho bạn. Trong cuộc sống, chúng ta luôn có những khát vọng, những mục đích vươn tới. Chúng ta cần điểm tựa để thực hiện ý nghĩa cuộc đời mình.

Ngay cả bản thân chúng ta khi học hành vất vả không thể tránh khỏi những phút sao nhãng và không muốn học. Và trong lúc đó những lời động viên của thầy cô, và của cả bạn bè thì bạn đã vượt qua được, bạn như cũng đã tìm thấy được mục đích sống của bạn và có thể hoàn thành nó. Dẫu biết rằng có rất nhiều khó khăn và thử thách và chúng ta cần phải có một niềm hi vọng cũng như những người xung quanh giúp đỡ chính chúng ta

Ta như có thể thấy được bài học được rút ra đó chính là điểm tựa trong vật lý cơ học là có sẵn. Còn điểm tựa trong cuộc đời không chỉ có sẵn mà phải được kiến tạo nên. Dường như sự kiến tạo ấy phải bắt đầu từ chính sự tin yêu của chúng ta đối với cuộc sống.

Mỗi người trong cuộc sống luôn luôn có những điểm tựa để có thể chia sẻ cũng như động viên. Qua đó bạn có thể lật ngược tình thế để mà chiến thắng. Đạt được những ước mơ của mình. “Điểm tựa” thật là một điều diệu kỳ trong cuộc sống mà chúng ta nên có.

Nghị luận về điểm tựa trong cuộc sống – Mẫu 6

Trong cuốn nhật kí cảm động của mình Đặng Thùy Trâm đã có lần viết: “đời phải trải qua giông tố nhưng không được cúi đầu trước giông tố”, cuộc đời mỗi con người phải có những thăng trầm, những điểm rơi để mỗi con người trở nên dày dạn hơn, trưởng thành hơn. Nhưng làm thế nào để vượt qua những điểm rơi ấy? Có thể là bằng chính bản lĩnh của mỗi con người nhưng cũng có thể cần lắm một nơi dựa. Bài thơ “NƠI DỰA” của Nguyễn Đình Thi cho chúng ta hiểu rõ hơn về nơi dựa của cuộc sống. Bài thơ có hai câu chuyện nhỏ, câu chuyện thứ nhất là câu chuyện của một người đàn bà trẻ tuổi và một đứa bé. “Người đàn bà với khuôn mặt trẻ đẹp chìm vào những miền xa nào”, có lẽ người đàn bà đã trải qua những khó khăn, những đau đớn, những bất hạnh trong cuộc sống. Còn đứa bé mới chỉ ” lẫm chẫm” đi chưa vững, miệng nói líu lo chưa rõ, nó còn quá nhỏ. Những tưởng người đàn bà sẽ là nơi dựa cho đứa trẻ nhưng thực ra đứa trẻ kia mới là “nơi dựa” cho người đàn bà kia sống.

Câu chuyện nhỏ thứ hai là của anh chiến sĩ và bà cụ. Anh chiến sĩ có cái nhìn “đã nhiều lần nhìn vào cái chết” nghĩa là anh đã từng phải đối mặt với ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, đã phải trải qua bao đau thương nghiệt ngã của cuộc đời. Còn bà cụ, tuổi đã cao, sức đã yếu, bước đi không còn vững nữa. Những tưởng người chiến sĩ sẽ phải là “nơi dựa” cho bà cụ nhưng thực tế thì hoàn toàn ngược lại, bà cụ chính là “nơi dựa” cho người chiến sĩ đi qua những thử thách.

Như vậy bài thơ đề cập đến vấn đề “nơi dựa” của mỗi con người trong cuộc sống, đó là những người thân yêu, những người có vai trò vô cùng quan trọng, những người có khả năng mang lại cho ta nguồn cảm hứng sống, mang cho ta lẽ sống, niềm tin, hi vọng vào cuộc đời. Hay “nơi dựa” chính là những nơi tạo ra động lực để ta sống tiếp một cuộc sống tốt đẹp hơn, nơi dựa tinh thần.

Với việc sử dụng thể thơ văn xuôi, với ngôn từ giản dị, mỗi câu thơ như một lời nói nhẹ nhàng và sâu sắc, Nguyễn Đình Thi đã cho chúng ta nhận thấy ý nghĩa của nơi dựa tinh thần. Quả thực, với mỗi một con người, nơi dựa về tinh thần là vô cùng quan trọng và nó đặc biệt quan trọng khi mỗi chúng ta phải đối mặt với những khó khăn, thử thách, rơi vào những điểm rơi trong cuộc sống.

Trong cuộc sống hàng ngày, Nơi dựa tinh thần của bạn có thể là cha, mẹ, là những người thân yêu, là quê hương, tổ quốc. Nơi dựa tinh thần của tôi có thể chính là những mục tiêu tôi đặt ra, có thể là một lời hứa với bản thân từ quá khứ và tất cả đều tạo động lực cho bạn và cho tôi có thể tiến lên.

Advertisement

*Trong dòng chảy trôi bình thường của cuộc sống, nơi dựa tinh thần cũng có vai trò quan trọng, nó giúp chúng ta không đi lệch đường, lệch hướng, không bị chững lại và thậm chí là không bị tụt lùi về phía sau trong dòng chảy trôi của cuộc đời

*Khi chúng ta phải đối mặt với khó khăn, với thử thách trong cuộc sống thì nơi dựa sẽ tạo ra động lực, sẽ thúc đẩy, sẽ động viên và thậm chí là định hướng cho ta cách để ta vượt qua khó khăn, thử thách (lấy dẫn chứng).

*Khi chúng ta gặp phải thất bại, nơi dựa sẽ xoa dịu đi những nỗi buồn, giúp chúng ta đứng lên, bước tiếp những bước vững vàng hơn

Bên cạnh nơi dựa về tinh thần trong cuộc sống còn có nơi dựa về vật chất. Nơi dựa là điểm tựa cần thiết để giúp cuộc sống mỗi con người trở nên dễ dàng, thuận lợi hơn. Tuy nhiên nếu ai đó lạm dụng nơi dựa sẽ có khả năng trở thành những con người phụ thuộc, trở thành ỷ lại, dựa dẫm. Biết mình có nơi dựa vững vàng cho nên không cố gắng, không nỗ lực. Như vậy, nơi dựa chỉ thực sự có tác dụng đối với tinh thần tự lập, ý thức tự giác của mỗi con người.

Nghị luận về điểm tựa trong cuộc sống – Mẫu 7

Tôi đã từng rất tâm đắc câu nói của s. Exupéry: “ Nếu trái đất hình vuông thì chúng ta sẽ có các góc cạnh để ẩn náu nhưng vì nó hình cầu nên chúng ta lại phải đối mặt với cuộc đời”. Phải, cuộc sống xung quanh ta có bao giờ luôn đi qua mà không vướng phải những sóng gió, những gian nan, thử thách. Con người có bao giờ sống mà chỉ luôn đi qua những giây phút bình yên. Và vì vậy, có những khi chúng ta cảm thấy mình thật nhỏ bé và yếu đuối trước thế giới rộng lớn này. Ấy là lúc ta cần tìm cho mình một “nơi dựa”, một điểm tựa trong cuộc sống. Hiểu được chân lí giản dị mà sâu sắc ấy, mỗi người sẽ tự rút ra cho mình những chiêm nghiệm riêng khi đọc bài thơ Nơi dựa của Nguyễn Đình Thi.

Giản dị thôi, bài thơ vẽ ra hai cảnh trái ngược: một người đàn bà trẻ đẹp “ dắt đứa con thơ trên đường, đứa con chân “ lẫm chẫm”, tay “ hoa hoa một điệu múa kì lạ”, bé chưa nói rõ tiếng vậy mà “ đứa bé còn bước chưa vững chãi lại chính là nơi dựa cho người đàn bà kia”. Thời gian tính bằng đời người trôi qua, em bé lớn lên, thành người chiến sĩ. Người chiến sĩ đã trải qua những cuộc trường chinh, đã đối mặt với cái chết, anh “ đỡ bà cụ già lưng còng”, “bước run rẩy , khuôn mặt già nua”, đã chịu “nỗi cực nhọc gắng gỏi một đời” thế nhưng “ bà cụ bước không còn vững lại chính là nơi dựa cho người chiến sĩ kia đi qua những thử thách”.

Câu chuyện nhỏ nhưng ngụ ý nhiều chiêm nghiệm sâu xa. Một đứa trẻ vô tư, yếu ớt, một bà cụ lưng còng, sức yếu lại trở thành chỗ dựa cho người lớn, cho người chiến sĩ – những con người tưởng như phải mạnh mẽ, vững vàng hơn. Phải chăng, con đường mà họ đang đi chính là con đường đời mỗi chúng ta phải bước, và những “chỗ dựa” không phải mang ý nghĩa vật chất mà toát lên ý nghĩa tinh thần. Thì ra, “ nơi dựa” nhiều khi chẳng phải cái gì lớn lao, to tát mà có khi ở ngay bên cạnh, song hành cùng cuộc đời ta. Đó là những người thân thương, bình dị như cha mẹ, như bè bạn, thầy cô,… Đó là những người sống cùng ta, chia sẻ ngọt bùi, thấu hiểu tâm hồn ta, biết ta muốn gì, cần gì và luôn vun đắp cho hạnh phúc của ta. Nhân vật Nhĩ (Bến quê, Nguyễn Minh Châu) sau một đòi gian truân phiêu bạt mới nhận ra cái “ bến” của cuộc đời mình là Liên, người vợ lặng thầm, tần tảo. Điểm tựa không phải nơi nào xa lạ mà chính là những người thân thuộc bên ta, chứ không phải anh hùng hay vĩ nhân nào khác, họ là người sẵn sàng ghé vai cho ta sự vững tâm, bình yên trong tâm hồn. Triết lí giản dị mà thiêng liêng ấy lại càng trở nên thấm thía và sâu sắc vì nó mang đậm tâm sự, suy ngẫm của đời người.

rong cuộc sống, có những lúc con người lâm vào bế tắc, có khi rơi vào tuyệt vọng và “nơi dựa” lúc ấy chính là động lực cho con người tiếp tục sống. Sau những đổ vỡ, cơ cục, những thất bại đắng cay, “chỗ dựa” là nơi ta lắng lại tâm hồn mình, nhận ra mục đích cuộc sống của mình thực sự là gì. Đứa trẻ nhỏ là chỗ dựa cho người thiếu phụ không chỉ vì đó là một phần của chị, mà còn bởi nhìn vào đứa trẻ, chị nhìn thấy tương lai của mình, thấy đứa con lớn lên, đẹp đẽ, trưởng thành, thấy dòng máu của mình được tái sinh trọn vẹn. Thì ra, chỗ dựa của chúng ta đâu chỉ là nơi ta đến khi mỏi mệt, nó còn tiếp thêm sức mạnh để ta tiếp tục sống, tiếp tục yêu thương và dâng hiến cho đời. Câu chuyện trong bài thơ của Nguyễn Đình Thi gợi ta nhớ đến mảnh đời của người anh hùng châu Á Phạm Thị Huệ ( Hải Phòng). Căn bệnh HIV/AIDS bị nhiễm (từ một phút giây lầm lỡ của người chồng) tưởng như đã cướp đi sức sống, tuổi xuân đầy ý nghĩa của chị. Nhưng không, chính nhờ mầm sống đang hình thành trong chị mà chị có thêm niềm tin, nghị lực sống để vượt qua nghịch cảnh. Nếu không có một điểm tựa tinh thần bền vững như thế, liệu con người ấy có thể tiếp tục sống và sống có ích trong khi xã hội vẫn còn chưa hết kì thị với căn bệnh thế kỉ này?

Đọc bài thơ của Nguyễn Đình Thi, người đọc còn thấy ấm lòng về hình ảnh của bà cụ, chính là “nơi dựa” cho người chiến sĩ vượt qua thử thách. Vậy phải chăng, chỗ dựa, điểm tựa trong cuộc sống chính là nguồn sức mạnh, là niềm tin để mỗi người đương đầu với bao gian nan, khó khăn? Trong số chúng ta hẳn không ít người biết đến câu chuyện của Helen Keller- diễn giả Mĩ có tầm ảnh hưởng sâu rộng trên toàn thế giới. Chúng ta cũng biết bà là người không có khả năng thính giác và thị giác.

Nhưng với sự động viên, khích lệ, giúp đỡ của cô giáo Anne Sullivan, cùng là một người khuyết tật, Helen đã vượt lên trên mọi thử thách của cuộc đời, vượt qua bao khó khăn vì khiếm khuyết cơ thể để sống và thành công tột đỉnh. Đó không phải là một minh chứng tuyệt vời cho ý nghĩa của “nơi dựa” trong cuộc đời hay sao? Nhiều người đã rất xúc động khi xem chương trình “Những trái tim nhân ái” trên truyền hình VTV1. Ở đó từng có một câu chuyện cổ tích giữa đời thường về ông Trần Thiên Minh – chủ nhân của ngôi nhà bảo trợ những người khuyết tật ở thủ đô Hà Nội. Chẳng ruột rà máu mủ nhưng ông đã tình nguyện trở thành chỗ dựa tinh thần cho hơn ba mươi cô gái sinh ta không may mắn suốt hơn hai mươi năm qua. Và điểm tựa vô giá ấy đã giúp đỡ các cô vượt lên số phận, hòa nhập với cộng đồng, xã hội hôm nay.

Có một chỗ dựa trong cuộc sống để mà sẻ chia, đồng cảm những lúc khó khăn, mỏi mệt sẽ là điều vô giá. Nhưng cuộc sống vẫn luôn cần ta phải tự đứng vững trên đôi chân của chính mình. Nơi dựa chỉ nên là điểm dừng chân của con người để tìm lấy một bến bờ bình yên trong tâm hồn, “chỗ dựa” không thể là nơi ta hoàn toàn dựa vào để lệ thuộc hay thoái lui trước cuộc sống vốn rất nhiều gian nan.

Trong cuộc sống hiện đại, nhiều lúc con người sống cô độc khép chặt mình trong những nhà hộp kín mít, sống mà không cần đến nhau, chỉ cần một chiếc máy tính, máy nghe nhạc là con người có thể tách ra khỏi cộng đồng. Trẻ con ưa “ chat” hơn nói chuyện với cha mẹ, gia đình chỉ đông đủ lúc bữa cơm tối… Phải chăng, con người đang bị cầm tù trong sự cô đơn của chính mình? Và vì thế, các vụ tự tử, cuộc sống chơi bời, thác loạn của nhiều thanh niên ngày càng tăng lên… Rõ ràng, thiếu đi sự sẻ chia, thiếu đi chỗ dựa trong cuộc đời, con người sẽ rơi vào trạng thái chông chênh, vô định, không biết làm thế nào để tiếp tục sống.

Tôi luôn mong mọi người được hạnh phúc như tôi, có một tổ ấm để đi về có một người mẹ luôn động viên và thấu hiểu mình, có những người thầy mất ngủ vì sự tiến bộ của tôi,… Chỗ dựa chỉ giản dị thế thôi, mà thiếu nó, tôi chẳng thể thành người.

Nghị Luận Về Lòng Bao Dung Siêu Hay (7 Mẫu) – Văn 11

Dàn ý nghị luận xã hội về Lòng bao dung

Dẫn dắt vấn đề: Tạo hóa luôn ban tặng cho con người biết bao đức tính tốt đẹp

Nêu vấn đề nghị luận: Lòng bao dung là một đức tính quý giá mà mỗi người cần có để hoàn thiện nhân cách bản thân

1. Giải thích thế nào là bao dung?

Bao dung là có tấm lòng rộng mở, đại lượng, luôn tha thứ cho lỗi lầm của người khác

Mỗi người ai cũng từng mắc sai lầm và chính vì lẽ đó chúng ta mới phải học cách bao dung

Bao dung khiến cho mối quan hệ xã hội trở nên tốt đẹp

Bao dung còn là cách để an ủi động viên người khác và bản thân sau mỗi lần vấp ngã

Bao dung khơi gợi bao phẩm chất tốt đẹp khác

3. Biểu hiện của bao dung

Pháp luật luôn có sự khoan hồng đối với phạm nhân khi họ cải thiện tốt và nhận ra sai lầm để sửa chữa

Bạn bè luôn tha thứ cho nhau khi giận hờn

Hằng năm nhà nước luôn có chính sách khoan hồng, ân xá cho những tù nhân tuy phạm sai lầm nhưng luôn có ý thức cải tạo, nỗ lực trở lại thành một con người lương thiện của đất nước

4. Làm gì để có lòng bao dung

Suy nghĩ mọi thứ theo hướng tích cực,nhìn cuộc đời một cách lạc quan

Luôn lắng nghe người khác, thấu hiểu và cảm thông với họ

III. Kết bài

Khẳng định lại vấn đề: bao dung là một đức tính cao thượng là cách mỗi người nâng tâm hồn mình cao đẹp hơn

Nghị luận về lòng bao dung – Mẫu 1

Trước tiên ta phải hiểu lòng bao dung là gì? Đó là cách ứng xử độ lượng, là biết nhường nhịn thậm chí là hi sinh cho người khác, cao hơn nữa là bao dung là tha thứ cảm thông trước những sai trái mà người khác gây ra cho mình, cho xã hội.

Vậy tại sao phải có lòng bao dung? Vì lòng bao dung là một phẩm chất cao đẹp một cách ứng xử cao thượng đã trở thành một trong những truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam. Ta đã bắt gặp sự bao dung của Vũ Nương với Trương Sinh, người đã đẩy nàng vào cái chết oan nghiệt nhưng cuối cùng nàng vẫn tha thứ cho lỗi lầm của Trương Sinh, rồi áng thiên cổ hùng văn: ” Bình ngô đại cáo”, là những trang văn đẹp về lòng bao dung độ lượng khi nói về việc ta đã tha chết cho giặc Minh tàn bạo…

Có thể thấy rằng khi ta tha thứ cho người khác, chẳng hạn những người lầm lỗi có cơ hội thay đổi mình trở thành người tốt hơn và ngay cả khi bản thân mình cũng cảm thấy thanh thản để tình cảm con người ngày càng được thắt chặt, xã hội vì thế mà trở nên thanh bình. Người có lòng bao dung bao giờ cũng có cảm giác thư thái, nhẹ nhõm trong tâm hồn luôn nhìn những biểu hiện sai trái của mọi người bằng cái nhìn đồng cảm chia sẻ.

Tuy nhiên, lòng bao dung không có nghĩa là bao che dung túng cho những việc làm cố tình gây tổn hại đến những chuẩn mực đạo đức của con người. Bên cạnh rất nhiều người có tấm lòng bao dung vẫn còn những kẻ sống vô cảm không quan tâm tới những người xung quanh, rồi những kẻ lợi dụng lòng bao dung của mọi người để thực hiện những mưu đồ đen tối nguy hiểm, những kẻ đó Xã hội cần phải lên ái, trừng trị.

Nghị luận về lòng bao dung – Mẫu 2

Tyler Perry đã từng nói rằng: “Khi bạn không tha thứ cho một ai đó, tức là bạn đang quay lưng lại với tương lai của mình. Khi bạn bao dung, điều đó có nghĩa bạn đang tiến về phía trước”. Quả thật đúng như vậy, trong cuộc sống bộn bề những lo toan, với biết bao điều có thể xảy đến, bao cảm xúc phải trải qua sợ hãi, tức giận, điên cuồng,… thì lòng bao dung là điều vô cùng cần thiết để chúng ta cân bằng cuộc sống, để cho tâm hồn thanh thản và dễ chịu hơn.

Bao dung là khi biết tha thứ những lỗi lầm của người khác với mình; bao dung là bỏ qua những sai phạm, là cho họ một cơ hội để sửa sai; bao dung không chỉ đối với người khác, mà bao dung còn đối với chính bản thân mình. Bao dung là điều cần thiết trong cuộc sống của mỗi chúng ta.

Vậy tại sao trong cuộc sống chúng ta cần phải bao dung với mọi người? Mỗi chúng ta là một thực thể vô cùng đa dạng, phức tạp với vô số những xấu tốt, đúng sai. Chẳng ai mãi mãi đúng và cũng không ai mãi mãi sai. Có những lúc ta sai lầm, ta vấp ngã và người khác cũng như vậy. Khoan dung với người khác cũng chính là đang khoan dung với chính mình. Bao dung với người khác còn thể hiện là một người ứng xử có văn hóa, biết nhìn nhận mọi sự việc, vấn đề trong cuộc sống. Bao dung với người khác còn cho thấy bạn là người có trái tim ấm áp, nhân hậu, rộng mở với những người xung quanh. Bởi chỉ khi con người biết mở rộng tấm lòng, nhân ái, bao dung với người khác thì khi ấy bạn mới có thể quên đi những tổn thất, thiệt hại mà người khác gây ra cho chính mình.

Sống bằng sự bao dung với mọi người xung quanh, sẽ đem lại cho bạn một cuộc sống thoải mái, thanh thản, bởi không phải suy nghĩ về những lầm lỗi của người khác với chính mình. Khi sống trong trạng thái cảm xúc đó nó chẳng khác nào liều thuốc độc giết bạn một cách từ từ mà bạn không hề hay biết. Sống bao dung vị tha còn khiến những người xung quanh luôn yêu quý, kính trọng bạn. Lối sống lành mạnh, tích cực này sẽ lan tỏa đến những người xung quanh. Nếu cả xã hội sống trong sự bao dung vậy thì sẽ tốt biết bao, sẽ không còn chiến tranh, bạo loạn, cãi vã, chỉ còn cuộc sống thanh bình phủ kín khắp mọi nơi.

Nhưng bao dung ở đây không đồng nghĩa là chúng ta bỏ qua cho cái xấu, cái ác, để chúng mặc sức hoành hành. Khi nhìn thấy cái xấu ở xung quanh chúng ta phải ra tay trừng trị, để chúng không ảnh hưởng đến những người xung quanh và sự an toàn của xã hội.

Trong cuộc sống đầy bộn bề, lo âu này, hơn lúc nào hết chúng ta cần sống trong sự bao dung của tất cả những người xung quanh. Bao dung như một liều thuốc tinh thần quý giá giúp hàn gắn vết thương, các mối quan hệ, giúp chúng ta sống người hơn, và sống bao dung cũng là cơ hội để ta được sống một cuộc đời thanh thản, thư thái.

Nghị luận về lòng bao dung – Mẫu 3

Khoan dung là một phẩm chất đáng trân trọng của con người. Khoan dung là biết tha thứ, bỏ qua cho những sai lầm thiếu sót của người khác; là biết chấp nhận những yếu đuối sai phạm của người khác và giúp họ đứng lên sau vấp ngã. Khoan dung, còn nghĩa là tự tha thứ cho chính mình…

Khoan dung – ấy là khi bạn bỏ qua cho người lạ vừa vô tình dẫm lên chân bạn trên xe buýt. Khoan dung – ấy là khi tôi chân thành đón nhận lời xin lỗi của người bạn vừa khiến tôi buồn. Khoan dung – là khi người mẹ giang rộng vòng tay ôm lấy đứa con trai sau những chuỗi ngày lang thang, nay đã ân hận trở về. Khoan dung, nhiều cách biểu hiện, chung một trái tim: Nhân ái!!!

Mã Kì, Phương Chính cấp cho 500 chiếc thuyền

Vương Thông, Mã Anh cấp cho hàng nghìn cỗ ngựa.

Hẳn là khi viết lại những hành động khoan dung, nhân đạo ấy của dân tộc ta, các tác giả phải tự hào biết bao!

Không chỉ là biểu hiện của một tấm lòng nhân ái cao đẹp, lòng nhân ái đã thấm đượm tình người, khoan dung còn là phẩm chất của một con người biết mình biết ta. Không ai là không phạm sai lầm. Chính khi khoan dung với người khác là bạn đang chuẩn bị cho mình “một lối đi về”… Bởi cũng sẽ đến lượt bạn sa ngã, bạn phạm lỗi. Ai sẽ tha thứ cho bạn nếu bạn không từng biết tha thứ? Ai sẽ chấp nhận bạn nếu bạn từng không đoái hoài đến sự ăn năn hối lỗi của người khác? Và ai sẽ khoan dung với bạn nếu bạn chưa từng khoan dung với kẻ khác đây?

Tôi cực kì lên án thái độ thờ ơ lạnh nhạt của một số thanh niên hiện nay. Đối với những người đã từng phạm sai lầm giờ đang mang trong mình căn bệnh thế kỷ, mòn mỏi sống trong sự ghẻ lạnh của không ít người. Chính sự thờ ơ, lạnh nhạt, chính lòng ích kỷ thiếu khoan dung ấy đang gián tiếp tiếp tay cho tội ác lan rộng. Như thế là đúng sao? Là văn minh, tiến bộ sao?

Những ánh mắt ghẻ lạnh ấy, những con người vô cảm ấy đang khiến xã hội này ngày càng thêm lạnh! Thiếu thốn tình cảm, thiếu thốn vị tha, lòng khoan dung,… tất cả sẽ chỉ còn là một xã hội vô tri, vô giác, lạnh lùng, vô cảm… Nhưng, vẫn còn đó những tấm lòng nhân ái, sống vì mọi người, biết tha thứ biết khoan dung góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, phát triển hơn, nhân ái hơn,…

Khoan dung với người khác, rất cần thiết, nhưng chưa đủ! Tôi đau lòng khi không ít người tự dằn vặt mình, hành hạ tâm hồn và thể xác mình… vì họ cho rằng mình đã làm sai, mình không đáng được tha thứ. Đừng như thế. Biết nhận ra lỗi lầm là điều tốt, nhưng cứ sống mãi trong hoài niệm thế có tốt không? Tại sao không tự tha thứ và bắt đầu lại… một sự khởi đầu mới tốt đẹp hơn…?

Tuy nhiên cần biết phân biệt giữa khoan dung và bao che. Thật đáng buồn khi nhiều người tiếp tay cho tội ác mà cứ nghĩ là khoan dung. Nhìn thấy người bạn thân quay cóp bài, một lần, hai lần, rồi ba lần… làm ngơ bỏ qua, hi vọng bạn tự biết sửa chữa. Khoan dung đây ư?

Vâng! Tôi cũng không phải là một người hoàn hảo. Bản thân tôi cũng từng mắc sai lầm… đó là khi tôi không học bài và bị điểm kém…. tôi đã vô tình khiến bố mẹ và thầy cô thất vọng… Là khi tôi trách nhầm đứa bạn… là khi tôi đã dửng dưng trước những ánh mắt thơ ngây cầu xin sự giúp đỡ của những em bé đánh giày tội nghiệp…

Nhưng nhờ đó tôi cũng rút ra bài học cho bản thân mình… đó là khi nhìn thấy ánh mắt buồn của mẹ, tôi biết mình cần cố gắng. Là khi nhận được lời giải thích, cái ôm siết chặt của nhỏ bạn, tôi biết mình cần suy nghĩ chín chắn hơn. Là khi tôi nhận được sự giúp đỡ của những em nhỏ đánh giày nhặt giúp tôi chiếc ví mà tôi đã vô ý đánh rơi, tôi biết mình cần rộng lượng… Sau những vấp ngã, tôi vẫn được đón nhận, được yêu thương.

Chính vì vậy, để cuộc sống tươi đẹp và giàu tình người hơn. Mỗi chúng ta hãy sống một cách chân thành, luôn bao dung và độ lượng với những người xung quanh. Khi đó, bạn sẽ cảm thấy cuộc sống thật đẹp và ý nghĩa.

Nghị luận xã hội về lòng bao dung – Mẫu 4

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã từng nói: “Mỗi đêm tôi nhìn trời đất để học về lòng bao dung, nhìn đường đi của kiến để biết về sự nhẫn nhục. Sông vẫn chảy đời sông. Suối vẫn chảy đời suối. Đời người cũng để sống và thả trôi đi những tị hiềm”. Đúng vậy, trong cuộc sống của chúng ta rất cần đến lòng bao dung của mọi người. Lòng bao dung là một phẩm chất, một truyền thống đáng quý của người Việt Nam. Lòng bao dung có ý nghĩa thiết thực trong đời sống, nhưng ngày nay không ít người thiếu đi tấm lòng bao dung ấy.

Người có lòng bao dung là luôn sống bằng tình yêu thương, sự sẻ chia với mọi người, sẵn sàng tha thứ cho lỗi lầm, sai phạm của người khác. Điều đó được thể hiện rõ nét nhất trong pháp luật của nước Việt Nam có sự khoan hồng với tội phạm. Con người ta ai cũng có thể mắc sai lầm không lúc này thì lúc khác, ta chẳng biết được ngày mai nên hãy mở rộng tấm lòng bao dung khi họ biết sai, biết hối lỗi để họ có được cơ hội thay đổi và làm lại cuộc đời, hướng họ đến sự tốt đẹp.

Bao dung có ở mọi lúc mọi nơi trong mọi hoàn cảnh. Bao dung đối với người thân yêu trong gia đình, khi con cái mắc lỗi người làm cha làm mẹ luôn bao dung tha thứ cho lỗi lầm của con, chỉ lỗi sai và hướng cho con làm đúng. Thầy cô luôn bao dung cho sự nghịch ngợm, quậy phá của lũ nhỏ bởi “Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”, sự bồng bột, hay vi phạm nội quy thầy cô luôn công minh xử phạt để hình thành và phát triển nhân cách đúng hướng cho học sinh. Bao dung là điều không thể thiếu trong tình yêu bởi đó là “điều tuyệt vời nhất của tình yêu. Nó tạo nên một người mạnh mẽ để có thể nói lời xin lỗi và một người mạnh mẽ hơn cả để có thể tha thứ.” Một người luôn hờn dỗi sẽ phải phải có một người bao dung cho tính cách của người ấy, một người có chút vô tâm thì một người phải hiểu và nói để họ sửa. “Sẽ không có tình yêu khi không có sự bao dung, sẽ không có sự tha thứ khi không có tình yêu đích thực”. Bao dung không phải là chỉ có khi bên nhau mà khi đã không còn là gì của nhau cũng cần bao dung tha thứ cho sai lầm của người đã từng thương, không oán trách, không đớn đau có được như vậy mới có thể bước tiến về phía trước bởi “Sự tha thứ không thể làm thay đổi quá khứ nhưng nó có thể mở rộng tương lai”.

Tuy nhiên, trong xã hội ngày lòng bao dung bị giá trị của đồng tiền và lối sống thực dụng bào mòn và thế chỗ. Con người ta sống ích kỉ, nhỏ nhen, vô cảm hơn khi thấy người khác gặp nạn vẫn ngó mắt làm ngơ vì sợ “Mua dây buộc mình”, im lặng chấp nhận giương mắt nhìn kẻ xấu làm việc xấu mà không tố giác, hay đơn giản là kì thị với người khác vùng miền đặc biệt là người Thanh Hóa. Một số người trong xã hội họ không có thiện cảm với người Thanh Hóa chỉ vì một vài thành phần chưa tốt, ở đâu cũng có người xấu người tốt chẳng riêng đất Thanh Hóa nên đừng phân biệt đối xử bởi chúng ta cùng là người Việt Nam, cùng chung sống trên dải đất hình chữ S yêu thương.

Người không có lòng bao dung sẽ khó có thể được hạnh phúc bởi vị kỷ cá nhân luôn trú ngụ không có lối cho bao dung tồn tại. Điều đó ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống, nếu trong một xã hội toàn những con người như vậy thì xã hội ấy sớm muộn cũng bị hủy diệt.

Nghị luận xã hội về Lòng bao dung – Mẫu 5

Hãy luôn bao dung cho những người đã làm cho cho bạn bị tổn thương. Bởi nóng giận hay bực tức nghĩa là tự trừng phạt mình bằng lỗi lầm của người khác. Khoan thứ, độ lượng là cách duy nhất để tìm kiếm một cuộc sống yên bình và vui vẻ.

bao dung là rộng lòng tha thứ, tôn trọng và thông cảm với người khác, biết tha thứ cho người khác khi họ hối hận và sửa chữa lỗi lầm. Người có sống bao dung luôn biết lắng nghe để hiểu, biết tha thứ cho người khác. Họ luôn tôn trọng, thông cảm và chấp nhận ý kiến của người khác, không hẹp hòi khi nhận xét về người khác.

Sống ở trên đời ai cũng có những lầm lỗi. Lòng bao dung giúp con người mắc lỗi nhận ra lỗi lầm và sửa chữa. Lòng bao dung giúp mối quan hệ giữa người với người thêm tốt đẹp cuộc sống càng có ý nghĩa hơn. bao dung chính là thước đo phẩm chất của mỗi người.

Nhờ có lòng bao dung, cuộc sống và quan hệ giữa mọi người trở nên lành mạnh, thân ái, dễ chịu. Lòng bao dung có sức mạnh tạo động lực và niềm tin giúp người khác nhận rõ sai lầm và sửa đổi, khắc phục lỗi lầm và làm những điều tốt đẹp cho cuộc sống này.

Trách móc là một bản năng còn bao dung là một năng lực cần phải rèn luyện từng ngày. Nhiệm vụ quan trọng nhất của học sinh là học tập, bởi thế, trước hết, mỗi học sinh phải chăm lo học tập thật tốt. không ngừng bồi dưỡng và rèn luyện nhân cách nhân phẩm, hoàn thiện bản thân, trở thành người có tri thức vững mạnh, nhân phẩm tốt đẹp.

Biết tha thứ, động viên, khuyên bảo, nhắc nhở khi bạn gây ra lỗi lầm và giúp đỡ bạn bè khắc phục lỗi lầm. Sống cởi mở, gần gũi với mọi người. Kính trọng, lịch sự, lễ phép với thầy cô giáo và người lớn tuổi. Cư xử chân thành, rộng lượng, tôn trọng, chấp nhận cá tính, sở thích, thói quen của người khác. Sống trung thực, khiêm tốn và không ngừng nỗ lực vươn lên.

Kết quả cao nhất của giáo dục là sự bao dung. Hiểu được điều đó, mỗi chúng ta hãy luôn tự rèn luyện đức tính bao dung và xem nó như là hành trang không thể thiếu khi bước vào đời.

Nghị luận xã hội về Lòng bao dung – Mẫu 6

Trong cuộc sống thứ tha là bài học mà mỗi người chúng ta cần phải học hỏi và không ngừng rèn luyện. Ai cũng có lúc mắc sai lầm, quan trọng là bản thân biết hối lỗi, sửa sai. Những lúc như vậy, lòng bao dung, rộng lượng đối với những sai lầm đó là điều đáng làm.

Xã hội chúng ta ngày càng phát triển, con người ngày dường như bị lôi kéo vào guồng quay của cuộc sống, bị những thứ phù du làm mờ mắt. Sai lầm cũng từ đó mà thành, mà nên. Tuy nhiên nếu như họ thực sự hối lỗi, thực sự cải tà quy chính thì chúng ta cũng nên rộng lượng hơn để thứ tha. Người xưa có câu đánh kẻ chạy đi không ai đánh kẻ chạy lại. Nếu chúng ta biết quan tâm, biết bao dung và rộng lượng hơn với lỗi lầm của người khác thì bản thân mình cũng ngày càng hoàn thiện hơn.

Hẳn bạn đã từng đọc tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao thì sẽ nhớ đến nhân vật Chí Phèo. Chí Phèo là người có bản tính lương thiện, tuy nhiên chính xã hội, chính con người đã đẩy hắn vào con đường cùng. Câu cuối cùng mà Chí Phèo nói trước khi chết chính là “Ai cho tao làm người lương thiện”. Như vậy vì xã hội và con người không bao dung, không rộng lượng, không thứ tha cho lỗi lầm của Chí Phèo nên hắn mới rơi vào tình trạng bi thảm như vậy.

“Nhân vô thập toàn”, ý câu nói này chính là không ai là hoàn hảo hết, ai cũng có lúc mắc sai lầm. Nhưng quan trọng bạn biết lỗi, sửa lỗi thì bạn sẽ thấy được rằng mình đang ngày càng thanh thản, ngày càng thấy được rằng bản thân đã bao dung hơn nhiều.

Cuộc sống này sẽ ngày càng tốt đẹp hơn nếu như chúng ta biết bao dung, bỏ qua cho nhau lỗi lầm để cùng hoàn thiện nhau hơn. Mỗi người cố gắng một ít, thì chắc chắn rằng xã hội này sẽ văn minh hơn nhiều.

Thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước, chúng ta cần có một cái nhìn bao dung, độ lượng và biết thứ tha đối với người xung quanh. Có như vậy bản thân mới thấy được rằng tha thứ không phải là không thể, dù lỗi lầm đó có lớn thế nào, vì qua đó bản thân sẽ thấy thanh thản hơn rất nhiều.

Quả vậy, lòng bao dung, độ lượng đối với mỗi người trong cuộc sống là điều cần thiết phải có. Hãy rèn luyện nó hằng ngày để hoàn thiện bản thân mình.

Nghị luận xã hội về Lòng bao dung – Mẫu 7

Vậy bao dung có nghĩa là gì? Lòng bao dung có nghĩa là rộng lượng, tha thứ cho người mắc phải lỗi lầm. Người có tấm lòng bao dung thường là những người luôn tôn trọng và sẵn sàng tha thứ cho người mắc phải lỗi lầm nhưng biết ăn năn, hối hận và chịu sửa chữa lỗi lầm đó. Ví dụ như, trong lớp học, ta phát hiện được một bạn ăn cắp tiền của một bạn học khác trong lớp, chúng ta phát hiện bắt tận tay. Nếu bạn biết ăn năn, hối hận, và trả lại số tiền đó, hứa rằng sẽ không tái phạm nữa thì đóng vai trò là một giáo viên thì chúng ta cũng nên bao dung mà tha thứ cho em học sinh vi phạm ấy nhưng đồng thời cũng phải nhắc nhở em không được làm như thế nữa.

Hiểu một cách khái quát hơn thì lòng bao dung chính là tấm lòng yêu thương con người, là sự chia sẻ, quan tâm đến những khó khăn của người khác. Để tha thứ cho một người mắc sai lầm mà ảnh hưởng đến ta quả thật rất khó khăn nhưng khi ta làm được điều đó sẽ giúp cho việc hàn gắn tình cảm giữa con người và con người với nhau. Khi ta tha thứ được cho một người phạm lỗi lầm, trong lòng ta chắc chắn sẽ dâng lên một niềm vui và hạnh phúc vì mình vừa làm được một việc tốt. Trong lịch sử xa xưa, dân tộc ta đã phải chịu biết bao hậu quả nặng nề do quân Minh xâm lược để lại, vậy mà sau khi giặc đầu hàng, ta còn mở rộng tấm lòng bao dung cung cấp cho chúng phương tiện và lương thực để trở về nước hay như trong trường lớp ta cũng cần tha thứ cho những người bạn đã làm những điều xấu xa, tồi tệ đối với mình như đánh mình, nghi oan mình là kẻ ăn cắp,… Những việc vừa nêu trên có thể nói đã minh chứng rất rõ cho lòng bao dung có ý nghĩa như thế nào đối với chúng ta.

Lòng bao dung là một trong những đức tính tốt, rất cần thiết cho con người. Ta cần tập luyện lòng bao dung bằng cách mở rộng tấm lòng của mình với mọi người xung quanh.

Nghị Luận Biến Đổi Khí Hậu ❤️️ 15 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Nghị Luận Biến Đổi Khí Hậu ❤️️ 15 Bài Văn Ngắn Hay Nhất ✅ Tuyển Tập Văn Đặc Sắc Về Một Chủ Đề Đang Rất Hot Hiện Nay Trong Xã Hội.

Chia sẻ đến bạn đọc mẫu Dàn Ý Nghị Luận Biến Đổi Khí Hậu được nhiều bạn đọc quan tâm và tìm kiếm sau đây.

Mở bài: Giới thiệu về vấn đề cần nghị luận : biến đổi khí hậu

Thân bài

Giải thích: Đó là sự thay đổi về khí hậu về môi trường tự nhiên diễn ra trong một khoảng thời gian dài. Ví dụ: hiệu ứng nhà kính, bão cát, băng tan,…

Hiện trạng:

Đang diễn ra trên toàn thế giới ở bất cứ nơi đâu khu vực nào

Trái đất đang ngày một nóng dần lên

Thời tiết thay đổi đột ngột

Những thiên tai luôn xảy ra gây thiệt hại nhiều

Ở Việt Nam: mùa đông lạnh hơn, mùa hè nóng hơn, nhiều mưa bão, sự xâm lấn của nước mặn vào đồng bằng sông Cửu Long.

Hậu quả: Gây ảnh hưởng đến đời sống con người, tất cả các lĩnh vực từ văn hóa xã hội, kinh tế..

Nguyên nhân: chủ quan( do con người), khách quan ( do quy luật của tự nhiên)

Biện pháp khắc phục: Nâng cao nhận thức của con người về tầm quan trọng của môi trường, sự nguy hiểm của biến đổi khí hậu từ đó chung tay, góp sức bảo vệ môi trường

Kết bài

Kết luận, mở rộng vấn đề: Biến đổi khí hậu là vấn đề không thể tránh được nhưng cần tìm cách để giảm thiểu nó tốt nhất, thế hệ trẻ cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường…

https://youtu.be/IYb4xe0v0Y4

Tham Khảo 🌼 Cách Làm Bài Nghị Luận Về Một Sự Việc Hiện Tượng Đời Sống ❤️️ Ngắn

Đoạn Văn Nghị Luận Về Biến Đổi Khí Hậu giúp các em có thêm tài liệu tham khảo hữu ích để chuẩn bị cho kì thi của mình.

Hiện nay vấn đề biến đổi khí hậu đang diễn ra rất nghiêm trọng. Vậy biến đổi khí hậu là gì ?Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu trong một khoảng thời gian dài, tác động đến môi trường sống của nhiều sinh vật trên Trái Đất. Hiện nay,sự biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Biểu hiện rõ nhất là sự nóng lên của trái đất, là băng tan, nước biển dâng cao, bão lũ, sóng thần, động đất, hạn hán và giá rét kéo dài.

Nguyên nhân dẫn tới việc biến đổi khí hậu là do có sự thay đổi của môi trường thiên nhiên. Tuy nhiên nguyên nhân có tác động lớn nhất chính là do con người. Vì mật độ dân số gia tăng nhanh chóng, nhu cầu nhà ở, lương thực tăng cao, các nhà máy xí nghiệp. Sự mất cân bằng trong hệ sinh thái đã dẫn đến những thay đổi trong khí hậu trên toàn cầu.

Từ vài năm trở lại đây nhân loại phải đứng trước những đe dọa của thiên nhiên. Gây tình trạng hạn hán kéo dài ảnh hưởng tới vấn đề cây trồng vật nuôi. Nó còn gây nên tình trạng lũ lụt, thiên tai. Ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, thiếu nước sinh hoạt hoặc ô nhiễm nguồn nước kinh tế, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của nông dân. Vậy nên chúng ta cần chủ động nâng cao ý thức bảo vệ môi trường. Trồng nhiều cây xanh, tuyên truyền mọi người có ý thức bảo vệ môi trường.

Chia Sẻ Bài 💦 Nghị Luận Về Một Hiện Tượng Đời Sống ❤️️ 15 Bài Hay Nhất

Nhân loại đang đứng trước nguy cơ bị diệt vong do tác động của nạn ô nhiễm môi trường dẫn đến “sự biến đổi khí hậu và những thiên tai gần đây như động đất, sóng thần, núi lửa… đang gây nên những hiểm họa khôn lường cho nhân loại”. Từ vài năm trở lại đây nhân loại phải đứng trước những đe dọa của thiên nhiên, thiên tai và dịch bệnh gây nguy hại cho đời sống con người. Còn nhớ năm 2005, sóng thần đã cuốn trôi hàng chục ngàn người ở Thái Lan và Indonesia.

Năm 2008, động đất làm tan hoang Tứ Xuyên (Trung Quốc). Ngày càng nhiều làng “ung thư” xuất hiện ở Việt Nam và thế giới… đây là những con số đáng báo động, cho thấy sự nổi giận của thiên nhiên trước những sai lầm của con người.

Nguyên nhân dẫn đến những hậu quả trên là do: Sự tác động của con người tới thiên nhiên như: chặt phá rừng mất cân bằng sinh thái, sử dụng hóa chất như thuốc sâu, thuốc diệt cỏ thiếu khoa học. Rồi khói thải công nghiệp, khói thải đô thị làm thủng tầng ô zôn gây nên hiệu ứng nhà kính và tình trạng nóng dần lên của trái đất. Con người không ngừng xây dựng, đục khoét trái đất, xây hầm, khai thác mỏ làm biến dạng lớp vỏ trái đất.

Con người với những hận thù, tham vọng bá chủ thế giới, không ngừng chạy đua vũ trang, sản xuất vũ khí hóa học, bom đạn, gây chiến tranh liên miên… Tất cả sẽ dẫn đến sự giận dữ của thiên nhiên và báo hiệu sự diệt vong của trái đất. Theo lịch của người Maya năm 2012 là năm tận thế, nhà tiên tri Vanga dự đoán: sau năm 2010 sẽ là động đất, núi lửa và sóng thần… nay đang trở thành sự thật.

Hãy chung tay bảo vệ môi trường bằng những hành động thiết thực: Không được đốt phá rừng, khai thác khoáng sản một cách bừa bãi, gây huỷ hoại môi trường, làm mất cân bằng sinh thái. Không thải dầu, mỡ, hoá chất độc hại, chất phóng xạ quá giới hạn cho phép, các chất thải, xác động vật, thực vật, vi khuẩn, siêu vi khuẩn độc hại và gây dịch bệnh vào nguồn nước; không chôn vùi, thải vào đất các chất độc hại quá giới hạn cho phép.

Các quốc gia cam kết không sử dụng và sản xuất vũ khí hóa học, không gây chiến tranh; nếu dùng điện hạt nhân phải có quy trình chặt chẽ để bảo quản tránh sự cố khủng khiếp như vụ nổ lò phản ứng hạt nhân ở Nhật (2011), vụ nổ lò hạt nhân Checmobưn ở Nga (1986) gây bao đau thương cho con người.

Có thể bạn sẽ thích bài 🌼Nghị Luận Ô Nhiễm Không Khí ❤️️10 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Nghị Luận Biến Đổi Khí Hậu Ngắn Gọn và súc tích thể hiện qua từng câu văn, cách dùng từ ngữ linh hoạt và sáng tạo.

Biến đổi khí hậu là một hiện tượng đang thu hút được sự chú ý của đông đảo người dân Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. Quan sát thực tế chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, khí hậu ngày càng biến đổi rõ rệt. Ở nước ta, hiện tượng mùa hè ngày một gia tăng trong khi mùa đông như chẳng hề xuất hiện. Vậy nguyên nhân do đâu làm xuất hiện tình trạng này?

Trước hết là do sự tác động quá lớn của con người lên môi trường sống. Chúng ta đang không ngừng thải các chất độc ra môi trường biển, đất, hay đốt rác thải. Chính những việc làm đó đã làm khí hậu chịu tác động đáng kể. Hơn thế nữa, nguyên nhân còn là do sự ấm lên toàn cầu và hiện tượng nhà kính. Trước những nguyên nhân to lớn đó, biến đổi khí hậu đã gây ra vô số hệ quả to lường. Trước hết là hiện tượng băng tan và nước biển ngày một dâng cao.

Tiêu biểu như ở đất mũi Cà Mau, biển ngày một lấn vào đất liền, khiến cuộc sống của người dân bị đảo lộn đáng kể. Bên cạnh đó, nó còn ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và động vật. Với những hệ lụy to lớn đó, chúng ta phải ra sức ngăn chặn tình trạng này bằng nhiều biện pháp thiết thực khác nhau, tiêu biểu như, không đốt rừng làm nương rẫy, không xả chất thải ra môi trường khi chưa qua xử lý.

Đọc nhiều hơn với 🔥 Nghị Luận Về Ô Nhiễm Môi Trường 🔥 15 Bài Văn Hay Nhất

Khi xã hội ngày càng phát triển, điều con người quan tâm không chỉ là vấn đề tiền bạc, kinh tế mà còn là môi trường khí hậu. Ở nhiều quốc gia vấn đề này được đặt lên hàng đầu. Nhiều nơi đã vang lên tiếng chuông cảnh báo về vấn đề biến đổi khí hậu có ảnh hưởng sâu sắc tới cuộc sống con người.

Biến đổi khí hậu Trái Đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm. Nó có thể là sự nóng lên của trái đất, sự dâng cao mực nước biển do tan băng, sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên hay các hiện tượng như nóng lên toàn cầu, hiệu ứng nhà kính,…

Lý giải cho nguyên nhân của biến đổi khí hậu. Một phần nhỏ do sự thay đổi của tự nhiên. Tuy nhiên phần lớn và chủ yếu do con người chúng ta gây nên biến đổi khí hậu. Nhu cầu nhà ở tăng cao do dân số đông, nhu cầu sử dụng gỗ cũng cần thiết, con người khai thác gỗ bừa bãi, chặt phá rừng quý hiếm.

Các nhà máy xí nghiệp vì lợi nhuận mà ngang nhiên xả thải nước chưa qua xử lí trực tiếp xuống biển khiến biển ô nhiễm nặng nề như vụ xả nước thải của xí nghiệp Furmosa, Hà T, Hà Tĩnh. Khói bụi của xe máy, của các công nghiệp thải ra môi trường gây ô nhiễm không khí trầm trọng,… Con người chính là nguyên nhân chủ yếu của biến đổi khí hậu.

Việc thay đổi khí hậu gây ra rất nhiều tác hại xấu. Rừng bị khai thác quá đà gây ra lụt lội, nhiều động vật mất nơi sống, nhiều loại cây quý hiếm gần như tuyệt chủng. Lũ lụt quá nhiều khiến đời sống người dân vô cùng cực khổ. Băng tan ở hai cực gây ra sóng thần, đời sống người dân cực khổ.

Tầng ozon bị thủng khiến tia cực tím chiếu thẳng xuống dễ dàng gây các bệnh ung thư về da. Khói bụi nhiều khiến sức khoẻ con người bị ảnh hưởng xấu, họ mắc nhiều bệnh hơn đặc biệt các bệnh truyền nhiễm,… Hơn thế biến đổi khí hậu khiến đất nước khó khăn phát triển vì phải bỏ ra số tiền lớn ngăn chặn và phòng ngừa hậu quả của biến đổi khí hậu.

Chúng ta đều muốn sống trong môi trường sinh thái lành mạnh bởi vậy cần phải đưa ra những biện pháp ngăn chặn hiện tượng biến đổi khí hậu này. Mỗi chúng ta phải tự bản thân nâng cao ý thức bảo vệ môi trường: không vứt rác bừa bãi, trồng nhiều cây xanh, tham gia các hoạt động vệ sinh làm đẹp môi trường,…Chính phủ phải đưa ra những chính sách khai thác phù hợp. Và đặc biệt phải biết kêu gọi mọi người trên toàn thế giới chung tay góp sức bảo vệ trái đất, bảo vệ ngôi nhà chung.

Trái đất là ngôi nhà của chúng ta, vì thế bảo vệ trái đất không bị ảnh hưởng xấu bởi biến đổi khí hậu ta phải ngăn chặn những hành vi xấu tác động đến môi trường. Có như vậy ngôi nhà của chúng ta mãi xanh tươi và trường tồn.

SCR.VN Giới Thiệu Bài 💧 Nghị Luận Về Bảo Vệ Môi Trường 💧 15 Bài Văn Ngắn Hay

Hiện nay khi cuộc sống của con người ngày càng phát triển, những hoạt động của con người tác động đến môi trường, đến khí hậu dẫn đến tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu. Biến đổi khí hậu là vấn đề của cả thế giới, và đó là thách thức lớn đối với loại người. Vậy biến đổi khí hậu là gì? Diễn biến của nó như thế nào?

Biến đổi khi hậu chính là quá trình thay đổi của thời tiết, khí hậu, có thể là do con người hoặc thiên nhiên gây ra. Những biểu hiện cụ thể mà chúng ta vẫn thường nghe đến chính là hiện tượng trái đất không ngừng nóng lên, hiệu ứng nhà kính, hiện tượng băng tan… Biến đổi khí hậu đang ngày càng trở thành vấn đề “nóng” ở mỗi quốc gia. Hằng năm chúng ta vẫn nhận ra từng dấu hiệu nhỏ của nó qua việc trái đất nóng lên, sức nóng đến ngột ngạt.

Vậy nguyên nhân do đâu. Ngày nay con người với những phát minh khoa học kĩ thuật hiện đại, có nhiều cống hiến cho nhân loại nhưng chính những điều đó đã ảnh hưởng hưởng nhỏ đến môi trường như ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước, ô nhiễm tiếng ồn… Chính con người đang lặng lẽ thay đổi khí hậu mà không biết. Hằng năm ở mỗi quốc gia có rất nhiều cảnh báo có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự biến đổi khí hậu như tỉ lệ gia tăng dân số một cách khủng khiếp, dịch bệnh tràn lan, môi trường bị suy thoái trầm trọng.

Tất cả đều nằm ở ý thức của con người. Họ đang phá hủy chính cuộc sống mà họ tốn công xây dựng một cách “giấu mặt” như vậy. Thực trạng này thật đáng buồn nhưng mà chưa thể có phương án giải quyết cụ thể. Biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của con người. Những năm trở lại đây trên thế giới xuất hiện nhiều thiên tai như bão lũ, sóng thần, động đất, phun trào núi lửa một cách dày đặc. Những hiện tượng đó đã gây ra bao nhiêu đau thương và mất mát cho con người.

Hơn hết có một điều mà có lẽ ai cũng nhận ra chính là sự xuất hiện của nhiều căn bệnh lạ. Đó cũng là do thời tiết đã và đang chuyển biến khiến dịch bệnh phát sinh. Có lẽ nhiều người nghĩ rằng chuyện biến đổi khí hậu là chuyện của quốc gia, chúng ta không thể giải quyết được. Nhưng điều đó hoàn toàn sai lầm, vì hành động của mỗi cá nhân cụ thể sẽ quyết định đến việc ảnh hưởng biến đổi khí hậu.

Nhận ra được tác hại vô cùng to lớn của biến đổi khí hậu, các cơ quan chức năng cần có trách nhiệm tuyên truyền, vận động mọi người có ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ chính cuộc sống của mình ngày càng tốt đẹp.

Giới thiệu cùng bạn 🍀 Nghị Luận Ô Nhiễm Môi Trường Biển 🍀 15 Bài Văn Hay

Trong những năm gần đây môi trường sống của con người ngày càng ngày càng khốc liệt bởi thiên tai, bão lụt, hạn hán ngày càng xuất hiện nhiều hơn. Nguồn nước ngọt nước biển bị ô nhiễm nghiêm trọng. Nguyên nhân xảy ra những hiện tượng này là do sự biến đổi khí hậu trên trái đất. Biến đổi khí hậu đang trở thành vấn nạn đáng báo động của cả thế giới.

Biến đổi khí hậu chính là quá trình thay đổi về thời tiết, mưa, gió nắng nhiệt độ, độ ẩm trên trái đất. Biểu hiện của nó là sự nóng lên của trái đất, trong tương lai không xa vùng bắc cực những tảng băng lớn sẽ bị tan chảy gây nên hiện tượng lũ lụt và nước sẽ làm xóa sổ nhiều tỉnh thành, nhiều vùng miền trên trái đất, trong đó có vùng Quảng Ninh của nước ta.

Nếu như cách đây khoảng 20 năm nhiệt độ cao nhất của mùa hè ở nước ta chỉ rơi vào ngưỡng 35-36 độ C, thì nay nhiệt độ mùa hè của nước ta lên tới 40- 41 độ C, nắng nóng làm nhiều người mệt mỏi, giảm năng suất lao động. Ở những vùng nhiệt đới như Ấn Độ nhiệt độ tăng cao khiến cho nhiều người thiệt mạng…

Nhiều vùng ở nước ta như đồng bằng sông Cửu Long ruộng đất nứt nẻ, khô hạn kéo dài khiến những cánh đồng lúa của chúng ta không có nước tưới đã chết khô, thiệt hại kinh tế nặng nề. Người nông dân thì phải mua từng thùng nước ngọt từ nơi khác chuyển đến với giá cắt cổ thì mới có nước sinh hoạt.…Biến đổi khí hậu đang từng ngày từng giờ giết chết người dân chúng ta trên toàn trái đất.

Nguyên nhân dẫn tới việc biến đổi khí hậu làm do con người ngày càng đẩy mạnh phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa những nhà máy xí nghiệp mọc lên như nấm, nguồn khí thải thải ra không khí gây ô nhiễm tầng khí quyển. Nước thải và rác thải công nghiệp thải ra sông ra biển gây ô nhiễm nguồn nước.

Chính những điều đó làm ô nhiễm trái đất dẫn tới sự biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, việc con người thường tàn phá rừng không thương tiếc đã gây nên biến đổi khí hậu. Bởi rừng giúp chúng ta thanh lọc bầu khí quyển. Để khắc phục tình trạng biến đổi khí hậu này chúng ta cần chung tay góp sức xây dựng lại hệ thống rừng, nhằm thanh lọc bầu không khí, cần có chính sách tích cực để nghiêm trị bọn lâm tặc luôn tìm cách phá rừng để trục lợi cho cá nhân mình.

Bên cạnh đó cùng nhau trồng thêm những cánh rừng mới. Đối với các nhà máy xí nghiệp chúng ta cần yêu cầu họ có phương pháp lọc rác thải công nghiệp trước khi thải ra không khí. Những doanh nghiệp nào vi phạm cần phải nghiêm trị đích đáng. Biến đổi khí hậu không phải chuyện riêng của quốc gia nào mà chung của toàn thể nhân loại vì vậy con người trên toàn nhân loại cần cần chung tay cùng nhau bảo vệ môi trường chống biến đổi khí hậu.

Các cơ quan chức năng cần tuyên truyền nói rõ vai trò của con người trong việc phòng chống biến đổi khí hậu. Chúng ta hãy chung tay bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu bằng cách không xả rác bừa bãi, cùng nhau dọn vệ sinh môi trường nơi mình sống, trường học của mình.

Là một người Việt trẻ tôi hay các bạn chúng ta cần chung nhau chung sức góp sức nhỏ bé của mình trong việc bảo vệ môi trường sống của chúng ta trong tương lai.

Mời bạn khám phá thêm 💕 Nghị Luận Rác Thải Nhựa Gây Ô Nhiễm Môi Trường 💕 15 Bài Hay Nhất

Văn Nghị Luận Về Hiện Tượng Biến Đổi Khí Hậu Hay Nhất giúp ích rất nhiều trong việc trau dồi kiến thức và rèn luyện thêm kĩ năng viết của mình.

Thế giới đang trên đà phát triển không ngừng, tạo ra những cơ hội mới nhưng đồng thời kéo theo không ít những thách thức cần phải trải qua. Một trong những thách thức mà con người cần phải đối mặt đó là biến đổi khí hậu. Biến đổi khí hậu đã trở thành một vấn đề vô cùng cấp bách và được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm bởi nó tác động trực tiếp đến đời sống của con người.

Những biến chuyển tiêu cực của khí hậu ngày càng được thể hiện rõ hơn trong những năm gần đây. Nó diễn ra trên toàn thế giới ở bất cứ khu vực nào từ đất liền đến hải đảo. Sự nóng lên của Trái Đất đang ở mức báo động và gây ra nhiều hệ lụy kèm theo.

Như ta đã biết, khí hậu đang ngày càng thay đổi: Hiện tượng sa mạc hóa đang diễn ra trên diện rộng, hay băng tuyết ở hai cực đang tan làm cho mực nước biển dâng cao. Thời tiết thường xuyên thay đổi đột ngột, xuất hiện ngày càng nhiều thiên tai. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây chúng ta đang phải đối mặt với vấn đề này một cách cấp bách.

Sự biến đổi khí hậu đã tạo thành một chuỗi hậu quả khôn lường trên tất cả các lĩnh vực, đời sống, kinh tế xã hội. Sau những trận mưa bão, lũ quét hay sóng thần động đất, những con số thiệt hại được công bố, đó là những con số lớn về thiệt hại cả người lẫn tài sản. Bởi con người sẽ phải mất công gây dựng lại cơ sở vật chất hạ tầng. Là người nông dân, họ phải đối mặt với sự mất mùa, dịch bệnh, cuộc sống khó càng khó hơn. Nền kinh tế, hay sự phát triển của một đất nước cũng bị kéo xuống theo…

Vậy nguyên nhân từ đâu dẫn đến hiện tượng này? Đầu tiên ta xét về yếu tố khách quan. Môi trường tự nhiên trên trái đất luôn thay đổi và sự thay đổi là một yếu tố không thể tránh khỏi, nó sẽ vẫn mãi tiếp tục luân hoàn xảy ra. Tuy nhiên ta phải xét đến mặt chủ quan, đó chính là nguyên nhân hàng đầu hiện nay gây nên sự biến đổi khí hậu.

Con người chính là nguồn tác động nhiều nhất đối với sự biến đổi khí hậu. Hiệu ứng nhà kính xảy ra là vì có quá nhiều lượng khí CO2 được thải ra không khí, mà lượng khí đó từ đâu mà ra, đó là từ con người, khói bụi từ các nhà máy, xí nghiệp, các phương tiện giao thông… Nhiều người thiếu ý thức xả rác bừa bãi, trên đường, trong ao hồ, trên bờ biển… tràn ngập đầy rác là rác, hay nạn chặt phá rừng làm mất cân bằng, rồi dẫn đến xói mời đất, lũ quét, sạt lở đất,…

Nguyên nhân chính là đến từ con người vì vậy các biện pháp được đề ra cũng phải xuất phát từ con người. Mọi người dân cần phải nâng cao ý thức, có trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường từ những việc làm đơn giản như không xả rác bừa bãi hoặc trồng thêm nhiều cây xanh… Các tổ chức chính phủ, nhà nước cần phải đưa ra các biện pháp, không ngừng nỗ lực tìm cách khắc phục, làm giảm thiểu tối đa sự biến đổi khí hậu cũng như những hậu quả mà nó gây ra.

Chia sẻ cùng bạn 🌹 Nghị Luận Về Covid 🌹 15 Bài Văn Hay

Đề Văn Nghị Luận Biến Đổi Khí Hậu Ấn Tượng, đây là một trong những đề văn rất thường hay gặp trong các kì thi quan trọng.

Hiện nay ta như có thể cảm nhận à thấy được khi cuộc sống của con người ngày càng phát triển, thì chính những hoạt động của con người tác động đến môi trường tự nhiên xung quanh, tác động đến khí hậu dẫn đến tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu. Ta có thể khẳng định rằng biến đổi khí hậu là vấn đề của cả thế giới, và đó là thách thức lớn đối với loại người. Vậy ta hiểu biến đổi khí hậu là gì? Diễn biến của nó như thế nào? Và nó có những tác động và ảnh hưởng như thế nào?

Biến đổi khí hậu được xem chính là quá trình thay đổi của thời tiết, khí hậu và nó dường như có thể là do con người hoặc thiên nhiên gây ra. Tất cả những biểu hiện cụ thể mà ngày nay có lẽ chúng ta vẫn thường nghe đến chính là hiện tượng trái đất không ngừng nóng lên, hiệu ứng nhà kính, hiện tượng băng tan…đang diễn ra trên hành tinh của chúng ta.

Biến đổi khí hậu là một vấn đề lớn như đang ngày càng trở thành vấn đề “nóng” ở mỗi quốc gia. Hằng năm con người chúng ta vẫn nhận ra từng dấu hiệu nhỏ của nó qua việc trái đất nóng lên, sức nóng đến ngột ngạt và khó chịu. Vậy nguyên nhân do đâu?

Ngày nay, khi mà con người với những phát minh khoa học kĩ thuật hiện đại, và cũng đã có rất nhiều những cống hiến cho nhân loại nhưng chính những điều đó đã ảnh hưởng hưởng nhỏ đến ngay chính môi trường như ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước, ô nhiễm tiếng ồn…Có lẽ rằng chính con người đang lặng lẽ thay đổi khí hậu mà không hề hay biết.

Ta như có thể thấy được rằng hằng năm ở mỗi quốc gia có rất nhiều cảnh báo có thể ảnh hưởng trực tiếp đến những dấu hiệu đến sự biến đổi khí hậu như tỉ lệ gia tăng dân số một cách khủng khiếp. Đó chính là những dịch bệnh tràn lan, môi trường bị suy thoái trầm trọng. Tất cả dường như đều nằm ở ý thức của con người. Họ ngày, hàng giờ như đang phá hủy chính cuộc sống mà họ tốn công xây dựng một cách “giấu mặt” như vậy. Chính những thực trạng này thật đáng buồn nhưng mà chưa thể có phương án giải quyết cụ thể nào được đặt ra cả.

Biến đổi khí hậu đã có một sức ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của con người. Trong những năm trở lại đây, ta như thấy được trên thế giới xuất hiện nhiều thiên tai như bão lũ, sóng thần, động đất, phun trào núi lửa,…như đang xảy ra một cách dày đặc. những hiện tượng đó đã gây ra bao nhiêu đau thương và mất mát cho con người. Hơn hết, ta như thấy được có một điều mà có lẽ ai cũng nhận ra chính là sự xuất hiện của nhiều căn bệnh lạ. Và đó phần lớn cũng là do thời tiết đã và đang chuyển biến khiến dịch bệnh phát sinh.

Có lẽ nhiều người chúng ta đã có những suy nghĩ rằng chuyện biến đổi khí hậu là chuyện của quốc gia, chúng ta không thể giải quyết được. Nhưng lại không hề hay biết điều đó hoàn toàn sai lầm, vì hành động của mỗi cá nhân cụ thể sẽ quyết định đến việc ảnh hưởng biến đổi khí hậu của trái đất này.

Khi mà chúng ta nhận ra được tác hại vô cùng to lớn của biến đổi khí hậu, các cơ quan chức năng cần phải vào cuộc và có trách nhiệm tuyên truyền. Phải vận động mọi người có ý thức bảo vệ môi trường đồng thời cũng chính là bảo vệ chính cuộc sống của mình ngày càng tốt đẹp hơn.

Gợi ý cho bạn 🌿 Nghị Luận Về An Toàn Thực Phẩm 🌿 15 Bài Văn Hay Nhất

Văn Mẫu Nghị Luận Biến Đổi Khí Hậu Chọn Lọc là tài liệu tham khảo hay để chuẩn bị tốt nhất cho kì thi của mình đạt hiệu quả tốt nhất.

Một trong những vấn đề nóng đang được xã hội quan tâm nhất hiện nay, đó chính là biến đổi khí hậu. Khi cuộc sống của con người ngày càng phát triển, sự tác động đến môi trường ngày càng lớn, dẫn đến khí hậu sẽ bị biến đổi trên toàn cầu. Đây đang là vấn đề đáng lo ngại không chỉ của riêng một quốc gia nào mà là của toàn nhân loại.

Biến đổi khí hậu có thể hiểu đó là sự thay đổi của khí hậu, âm thầm ngày ngày diễn ra trong một khoảng thời gian, tác động trực tiếp đến khí hậu, đến môi trường sống của loài người cũng như hàng nghìn sinh vật khác trên trái đất. Biến đổi khí hậu có thể là sự nóng lên của trái đất, nước biển dâng cao do hiện tượng băng tan, hay đó là sự thay đổi hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển…

Và những thiên tai mà nhân loại đang phải hứng chịu trước mắt đó chính là những thiên tai như động đất, núi lửa, sóng thần… dẫn đến sự thiệt hại vô cùng lớn cho nhân loại.

Vậy nguyên nhân do đâu, vì đâu dẫn đến biến đổi khí hậu? Đầu tiên phải kể đến chính là do sự tác động của con người đến thiên nhiên như chặt phá rừng dẫn đến hệ sinh thái bị mất cân bằng; sử dụng bừa bãi các loại hóa chất, thuốc trừ sâu có hại cho môi trường… rồi chất thải công nghiệp được thải ra từ những nhà máy sản xuất công nghiệp, khói thải ra từ đô thị, giao thông… dẫn đến hiệu ứng nhà kính và sự nóng dần lên của trái đất.

Chính con người đang ngày đêm đục khoét, khai thác những nguồn tài nguyên quý giá, làm biến dạng lớp vỏ trái đất. Không chỉ thế, chiến tranh nổ ra liên miên với bom đạn, vũ khí hạt nhân.., cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sống của chúng ta. Tất cả sẽ như một ngòi nổ dẫn đến sự giận dữ của thiên nhiên, dẫn đến sự diệt vong của trái đất và loài người trong một tương lai không xa.

Biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của những sinh vật trên trái đất, bao gồm cả loài người. Những hiện tượng xảy ra liên tiếp gần đây như bão lũ, sóng thần, động đất, núi lửa… đã làm cho chúng ta phải gánh chịu biết bao đau thương. Chưa kể đến sự xuất hiện ngày càng nhiều của những căn bệnh lạ mà y học thế giới chưa tìm ra nguyên nhân cũng như phương án chữa trị, tất cả đều do biến đổi khí hậu, biến đổi môi trường sống mà ra.

Để ngăn chặn cũng như làm chậm hơn quá trình biến đổi khí hậu, mỗi người chúng ta cần phải có ý thức bảo vệ trái đất, bảo vệ môi trường sống xung quanh. Mỗi một người chỉ cần có ý thức, sẽ giúp cho trái đất hàng ngày không phải gánh chịu những tổn hại nặng nề thêm nữa.

Ngoài ra nhà nước, các cơ quan chức năng, ban ngành cần phải có biện pháp cứng rắn, trừng phạt thích đáng những kẻ chuyên chặt phá rừng, xả chất thải gây hại cho môi trường không khí, môi trường nước. Tuyên truyền, vận động mỗi cá nhân tích cực hơn, có ý thức bảo vệ môi trường sống, để giảm thiểu tối đa những tác hại đến thiên nhiên.

Có thể bạn sẽ thích bài 🌼Nghị Luận Về Cây ATM Gạo ❤️️ 10 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Bài Văn Nghị Luận Biến Đổi Khí Hậu Xuất Sắc sẽ giúp các em học sinh nắm được cách diễn đạt ý văn nghị luận xã hội một cách logic và chặt chẽ.

Cùng với nhu cầu phát triển, sản xuất và sinh hoạt ngày càng tăng cao của con người hiện đại kéo theo rất nhiều các vấn đề nguy hiểm đối với môi trường sống. Một trong những hệ lụy nguy hiểm ấy là nguy cơ biến đổi khí hậu mà hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng, sách vở vẫn luôn nhắc tới.

Biến đổi khí hậu là gì ? Chính là sự thay đổi thời tiết, nhiệt độ khác thường so với tự nhiên, có thể là do con người hoặc thiên nhiên gây ra. Sự biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Đặc biệt là sự nóng lên toàn cầu, gây nên băng tan, nước biển dâng cao, các hiện tượng thời tiết như mưa bão, lũ lụt, động đất xuất hiện ngày càng nhiều hơn và với mức độ nghiêm trọng cao hơn .

Nhìn đến thành phố Hồ Chí Minh , khi mỗi lúc trời mưa hay đến khi chiều về, cả thành phố lại chìm trong biển nước vì hiện tượng thủy triều lên. Đây là một minh chứng cụ thể cho vấn nạn biến đổi khí hậu ở nước ta.

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến biến đổi khí hậu. Có thể là do sự thay đổi của môi trường tự nhiên, các lớp hóa thạch, đất đá bị rạn nứt hay hiện tượng núi lửa phun trào cũng làm tác động nên phù sa của các con sông. Tuy nhiên, nguyên nhân chính vẫn là do các hoạt động của con người. Với nhu cầu ăn ở, tiêu dùng nhà cửa tăng nhanh, con người sẵn sàng phá hủy rừng xanh để làm nơi cư trú.

Khối lượng các nhà máy, khu công nghiệp nở rộ đồng nghĩa với lượng khí CO2, N20 thải vào trong không khí nhiều lên mỗi ngày làm cho tầng ozon của chúng ta dần bị thủng to hơn, dẫn đến nền nhiệt không khí tăng lên. Hiện trạng lượng rác thải sinh hoạt, sử dụng túi bóng nilon cả năm bị chôn vùi dưới đất cũng không bị phân hủy cũng là nguyên nhân dẫn đến biến đổi khí hậu.

Chính vì những hậu quả nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, chúng ta cần chung tay bảo vệ môi trường sống của chúng ta ngay từ bây giờ. Tích cực trồng cây xanh, phủ xanh đồi trọc, ngăn cấm chặt phá rừng đầu nguồn cần được triển khai nhanh chóng. Trừng phạt nghiêm minh đối với những trường hợp săn bắn động vật trái phép, làm mất cân bằng hệ sinh thái.

Giảm thiểu sử dụng túi bóng nilon, các vật dụng khó tái chế, phân loại. Hiện nay, các nước tiên tiến đang tập trung sử dụng và phát triển nguồn năng lượng từ tự nhiên để bảo vệ tài nguyên , khoáng sản cũng là một cách tích cực. Quan trọng nhất vẫn phải nâng cao nhận thức của mọi người về biến đổi khí hậu, đồng thời tuyên truyền rộng rãi để cải thiện, bảo vệ môi trường sống.

Gửi đến bạn bài 🍃 Nghị Luận An Toàn Giao Thông ❤️️ 15 Bài Văn Hay Nhất

Thời gian gần đây, biến đổi khí hậu (BĐKH) đã và đang có những ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của Việt Nam. Đặc biệt là hiện tượng thời tiết tiêu cực như: hạn hán, xâm nhập mặn tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long vừa qua đang ảnh hưởng nghiêm trọng tới nền kinh tế vốn đã phụ thuộc nhiều vào nền sản xuất nông nghiệp của nước ta.

Theo những dự đoán về tác động của biến đổi khí hậu, trong một vài thập niên tới, Việt Nam có thể là một trong những quốc gia sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ việc biến đổi khí hậu, như mực nước biển dâng, đặc biệt tại các vùng ven biển. Do vậy, việc nghiên cứu ứng dụng các giải pháp thích ứng kịp thời ở Việt Nam là vấn đề cần thiết hiện nay.

Việt Nam nằm trong 10 nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH trong vòng 20 năm qua vì bão, lũ và sạt lở đất. Theo Chỉ số Rủi ro Khí hậu do tổ chức Germanwatch (Đức) công bố vào hồi tháng 12/2024. Theo đó, ĐBSCL là 1 trong 3 đồng bằng trên thế giới dễ bị tổn thương nhất do các tác động thiên nhiên mang lại. Đây có thể coi là vùng chịu nhiều ảnh hưởng nhất trên mảnh đất hình chữ S.

Tác động của BĐKH đến Việt Nam là rất rõ ràng, rất nghiêm trọng. Đây cũng là nguy cơ hiện hữu đối với mục tiêu xoá đói giảm nghèo của chương trình hành động thường niên của chính phủ. Những con số biết nói có thể kể đến: khi nước biển dâng cao 1m, ước chừng 5,3% diện tích tự nhiên, 10,8% dân số, 10,2% GDP, 10,9% vùng đô thị, 7,2% diện tích nông nghiệp và 28,9% vùng đất thấp sẽ bị ảnh hưởng.

Ngoài ra, BĐKH còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới tài nguyên rừng, gây ra nguy cơ như cháy rừng, gây thiệt hại tới nguồn tài nguyên, tăng lượng khí thải nhà kính; tác động tới chất lượng của cơ sở hạ tầng, làm giảm chất lượng của những công trình xây dựng. Tác động từ sự thay đổi khí hậu làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn tài nguyên đất qua quá trình gia tăng hiện tượng xói mòn đất, rửa trôi, sạt lở bờ sông, bờ biển…Chính những thay đổi đó làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng cuộc sống: bệnh tật, đói nghèo luôn thường trực.

Để đưa ra những giải pháp chống biến đổi khí hậu trong thời gian ngắn rõ ràng là điều không thể thực hiện. Thay vào đó, cách làm hiệu quả nhất là sử dụng truyền thông làm công cụ truyền tải nội dung rõ ràng nhất về tầm quan trọng của BDKH. Từ đó tăng nhận thức của người dân trong việc gìn giữ và bảo vệ môi trường.

Xem Thêm 🌼 Nghị Luận Về Sống Đẹp ❤️️ 15 Bài Văn Ngắn Gọn Hay Nhất

Bài Văn Nghị Luận Biến Đổi Khí Hậu Đặc Sắc giúp các em có thể trau dồi thêm cho mình nhiều kiến thức hay.

Các chuyên gia nghiên cứu khí hậu và những nhà khoa học khác đang rất quan tâm tới những thay đổi diễn ra đối với khí hậu của chúng ta. Một điều phải thừa nhận là trước đây, những thay đổi khí hậu đã diễn ra trên hành tinh của chúng ta. Chẳng hạn như đã có một số thời đại băng hà, còn gọi là kỷ băng hà.

Tuy nhiên, những biến đổi về mặt khí hậu này khác với những thay đổi hiện tại ở chỗ chúng xảy ra từ từ và như chúng ta đã biết, chúng cũng xảy ra một cách tự nhiên. Những thay đổi hiện đang được giám sát được cho là không phải kết quả của nguyên nhân tự nhiên, mà là do hoạt động con người. Hơn nữa, tốc độ thay đổi ngày càng trở nên nhanh hơn một cách đáng báo động.

Vấn đề chính là việc hành tinh của chúng ta dường như nóng lên. Theo một số chuyên gia, quá trình nóng lên này, còn gọi là sự ấm lên toàn cầu, đang diễn ra với tốc độ chưa từng có trong 10.000 năm qua. Những hệ quả xảy ra cho trái đất là rất nghiêm trọng. Nhiệt độ toàn cầu ngày càng tăng có thể làm tăng thêm các thảm họa sinh thái như sự gia tăng tột bậc về khả năng xảy ra nạn lũ lụt và hạn hán. Lần lượt những thiên tai này có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với nông nghiệp.

Người ta nghĩ rằng hiện tượng ấm lên bất thường này của trái đất là do cái gọi là khí nhà kính gây ra, chẳng hạn như khí các-bô-nit do động cơ xe hơi và các quá trình công nghiệp hiện đại thải ra bầu khí quyển. Những khí này không những góp phần gây ô nhiễm bầu khí quyển mà còn tạo ra hiệu ứng nhà kính, trong đó sức nóng của mặt trời bị giữ lại. Hiệu ứng này dẫn đến việc hành tinh ấm lên.

Các đại biểu dự hội nghị cũng đã đề nghị việc trồng rừng nhiều hơn để tạo cái gọi là nơi hấp thu khí nhà kính. Ít nhất thì một phần vấn đề thay đổi khí hậu nhanh chóng là do nạn phá rừng quá trầm trọng.

Đáng buồn thay, các mục tiêu trên vẫn chưa đạt được. Và điều đáng buồn hơn nữa là những cảnh bảo toàn cầu về sự biến đổi khí hậu vẫn thường xuyên bị coi là nạn phao tin thất thiệt.

Đón Đọc Bài 💦Nghị Luận Xã Hội Về Tình Yêu Quê Hương ❤️️ 15 Bài Hay

Văn Nghị Luận Biến Đổi Khí Hậu Ngắn Hay sẽ mang đến những thông điệp ý nghĩa và có ý thức bảo vệ môi trường.

Nói một cách đơn giản hơn, ô nhiễm môi trường là những gì đang bủa vây chúng ta hằng ngày. Khói bụi từ các phương tiện giao thông, tiếng ồn, rác thải trên đường phố, những dòng sông bốc mùi chính là ô nhiễm. Có rất nhiều dạng ô nhiễm như ô nhiễm môi trường không khí, đất, nước, ô nhiễm ánh sáng hoặc tiếng ồn.

Chúng ta sống trong sự ô nhiễm và quen với nó đến mức chúng ta không còn nhận ra nó. Việc này không chỉ gây ra ảnh hưởng chung đến Trái đất, mà nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của chúng ta. Khí thải luôn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra các bệnh về đường hô hấp, và việc biến đổi khí hậu đang gián tiếp gây ra những thảm họa thiên nhiên ở khắp mọi nơi.

Các nước phát triển đang triển khai rất nhiều kế hoạch để kiểm soát mức độ nghiêm trọng của ô nhiễm môi trường, nhưng điều quan trọng nhất vẫn là ý thức của mỗi cá nhân. Mỗi người trong chúng ta đều có thể góp phần giảm thiểu sự ô nhiễm bằng chính những hoạt động hằng ngày. Nếu chúng ta có ý thức bảo vệ môi trường sống của mình thì chúng ta vẫn có để phát triển mà không tàn phá Trái đất này.

Gợi ý cho bạn 💧 Viết Đoạn Văn Về Cách Ứng Xử Trong Cuộc Sống 💧 15 Bài Hay

Bài Văn Nghị Luận Biến Đổi Khí Hậu Đạt Điểm Cao để lại nhiều ấn tượng cho các bạn đọc với cách diễn đạt câu văn hấp dẫn, cách dùng từ ngữ đa dạng và phong phú.

Có một câu nói được khá phổ biến thế này: Con người đối xử với thiên nhiên như thế nào thì thiên nhiên sẽ đối xử với con người như thế ấy. Với tốc độ tăng trưởng chóng mặt của các nền kinh tế, sự xuất hiện tràn lan của các khu công nghiệp và số lương ngày càng tăng lên của phương tiện giao thông, mặt trái của sự phát triển đang ngày càng đặt ra những thách thức khó giải quyết về môi trường đối với tất cả loài người trên địa cầu. Một trong những vấn đề nhức nhối nhất chính là biến đổi khí hậu.

Có rất nhiều biểu hiện của việc khí hậu bị biến đổi. Đặc trưng nhất là sự nóng lên toàn cầu. Sự nóng lên toàn cầu được thể hiện rất rõ ràng với việc nhiệt độ trái đất ngày càng nóng lên gây hiện tượng El-nino, sự tan băng trên diện rộng và mực nước biển dâng cao bất bình thường. Điều này gây nên những hậu quả không thể lường trước được đến chính đời sống con người trên mọi quốc gia hay vùng lãnh thổ.

Nguyên nhân trực tiếp gây nên những điều đó là hiệu ứng nhà kính. Theo các nghiên cứu, hiệu ứng nhà kính tự nhiên giúp duy trì và phát triển sự sống ở trái đất. Nhưng dưới tác động của khí thải xả ra môi trường trong hoạt động sản xuất, phát triển công nghiệp, hiệu ứng nhà kính có diễn biến phức tạp và biến đổi theo hướng tiêu cực.

Vậy nhưng đó chỉ là nguyên nhân trên bề mặt. Nguyên nhân sâu xa, là nguồn cơn của mọi chuyện lại chính là do con người. Sự tác động của con người tới thiên nhiên như: chặt phá rừng mất cân bằng sinh thái, sử dụng hóa chất như thuốc sâu, thuốc cỏ thiếu khoa học, rồi khói và chất thải công nghiệp, chất thải đô thị xả trực tiếp ra môi trường bên ngoài mà không qua xử lí đã làm thủng tầng ozon gây nên hiệu ứng nhà kính và tình trạng nóng dần lên của trái đất.

Tất cả việc làm của con người sẽ dẫn đến sự giận dữ của thiên nhiên và báo hiệu sự diệt vong của trái đất. Rồi đến một ngày nào đó, nhân loại sẽ bị diệt vong do chính những việc làm mà mình gây ra. Và điều đó đang xảy ra ngay trong chính cuộc sống của chúng ta, diễn ra hàng ngày, hàng giờ.

Trong khi đang chờ đợi những quyết sách ở các cuộc họp bàn của các nhà khoa học, các nguyên thủ quốc gia, mỗi người trong chúng ta hãy tự cứu lấy mình bằng cách chung tay bảo vệ môi trường thông qua những hành động thiết thực: Không đốt phá rừng, khai thác khoáng sản một cách bừa bãi, gây huỷ hoại môi trường, làm mất cân bằng sinh thái. Không thải dầu, mỡ, hoá chất độc hại, chất phóng xạ quá giới hạn cho phép, các chất thải, xác động vật, thực vật, vi khuân, siêu vi khuẩn độc hại và gây dịch bệnh vào nguồn nước.

Để có một tương lai tươi sáng, việc khắc phục và cải tạo thiên nhiên cần đặt lên hàng đầu. Con người nên nhớ chỉ một hành động rất nhỏ của mình cũng có thể đẩy trái đất đi đến ngày tận thế. Đồng thời cả nhân loại phải cùng chung tay giải quyết biến đổi khí hậu – một vấn đề toàn cầu chứ không phải vấn đề của riêng quốc gia hay cá nhân nào khác.

Giới thiệu tuyển tập 🌹 Nghị Luận Sống Có Trách Nhiệm ❤️️ 15 Bài Văn Hay Nhất

Với đà phát triển của công nghệ hiện đại ngày nay, rất nhiều người cho rằng mức sống của con người đang tăng lên, con người trở nen sung sướng hơn so với cha ông ta quá khứ. Vấn đề đặt ra, liệu cuộc sống con người có thật sự tốt hơn so với quá khứ, hay lại phải đối mặt với những vấn đề mới còn nghiêm trọng hơn. Một trong những vấn đề cấp bách hiện tại đó là biến đổi khí hậu, vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn của con người.

Trước hết, chúng ta phải hiểu, thế nào là biến đổi khi hậu. Trước hết, chúng ta cần phải hiểu, sự sống tồn tại được trên Trái Đất đều cần phải có một hệ sinh thái đặc biệt, trong đó thời tiết, khí hậu đóng một vai trò rất quan trọng. Khí hậu biến đổi tức là những quy luật thường của khí hậu bị phá vỡ, thay vào đó là những biến động gây rối loạn hệ thời tiết, khiến cho thiên tai xảy ra thường xuyên và khó đoán hơn. Hiện nay, biến đổi khí hậu không chỉ ở một vùng mà trải dì khắp các vùng miền trên Trái Đất.

Biến đổi khí hậu rất dễ nhận biết. bằng những cảm nhận thường ngày, bằng mắt nhìn, tai nghe ta đều dễ dàng cảm nhận được. Một trong những hiện tượng của biến đổi khí hậu là hiện tượng nóng lên của Trái Đất. Khắp nơi, mùa hè như trải dài thêm ra đến cả tháng, nắng nóng gay gắt và độc hại, mùa đông thì ngắn lại, ít lạnh hơn.

Biến đổi khí hậu nguy hiểm như vậy, vậy nguyên nhân vì sao gây ra biến đổi khí hậu. Các nhà khao học đã tìm ra câu trả lời cho vấn đề này. Biến đổi khí hậu xảy ra phần lớn bởi tác hại của ô nhiễm môi trường và hiệu ứng nhà kính. Hiệu ứng nhà kính tác động đến tầng ozon, khiến tầng sinh quyển này bị mỏng đi và rách.

Tầng ozon có tác dụng như lớp áo giáp bảo vệ Trái Đất khỏi những tia bức xạ có hại của mặt trời. Mất đi tầng ozon, đồng nghĩa với lượng nhiệt tỏa xuống trái Đất sẽ nhiều hơn, mạnh hơn và hại hơn. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu còn do những biến đổi bên trong lòng Trái Đất, do sự xê dịch của các ngọn núi, các thềm lục địa. tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu là do tác động của con người đang gây nguy hại rất lớn.

Những nhà máy, xí nghiệp và các hoạt động công nghiệp cần đến sự tham gia của máy móc đang hàng ngày thải vào môi trường một lượng chất thải rất lớn làm hại đến môi trường. Đây là tác nhân lớn nhất khiến cho biến đỏi khí hậu càng ngày càng trở nên trầm trọng

Câu hỏi đặt ra khẩn cấp là có biện pháp gì để ngăn chặn và củng cố, phục hồi khí hậu như ban đầu. Rất nhiều các nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa ra các phương pháp tuy khá hiệu quả, song vẫn chưa thông dụng trong cuộc sống. Điều quan trọng phải thay đổi ý thức con người, để mọi người cùng chung tay bảo vệ môi trường sống của mình.

Bảo vệ môi trường, bảo vệ trái đất khỏi biến đổi khí hậu là vân đề rát cấp thiết bởi nó ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống tương lai. Muốn phát triển, tước hết phải sống đã, phải có môi trường sống tốt, con người mới phát triển đi lên. Hãy bảo vệ Trái Đất vì tương lai của chính chúng ta.

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Cập nhật thông tin chi tiết về 5 Bài Soạn Một Số Thể Loại Văn Học: Kịch, Nghị Luận (Ngữ Văn 11) Hay Nhất trên website Fsey.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!