Xu Hướng 2/2024 # 6 Bài Soạn “Tập Làm Thơ Bốn Chữ” Lớp 6 Hay Nhất # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết 6 Bài Soạn “Tập Làm Thơ Bốn Chữ” Lớp 6 Hay Nhất được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Fsey.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Bài soạn “Tập làm thơ bốn chữ” số 6

I. Chuẩn bị ở nhà bài tập làm thơ bốn chữ

Câu 1 trang 84 SGK văn 6 tập 2

Đoạn thơ bốn chữ khác ngoài bài “Lượm”:

Câu 2 trang 84 SGK văn 6 tập 2

Vần chân và vần lưng trong đoạn thơ:

Câu 3 trang 85 SGK văn 6 tập 2

Đoạn thơ gieo vần liền:

Câu 4 trang 85 SGK văn 6 tập 2

Thay chữ “sưởi” thành chữ “cạnh”:

Câu 5 trang 86 SGK văn 6 tập 2

Tập làm một bài thơ (hoặc một đoạn thơ) bốn chữ có nội dung kể chuyện hoặc miêu tả về một sự việc hay một con người theo vần tự chọn:

II. Tập làm thơ bốn chữ trên lớp

Câu 1 trang 86 SGK văn 6 tập 2

Đoạn thơ đã chuẩn bị ở nhà:

Nhịp của đoạn thơ: 2/2

Câu 2 trang 86 SGK văn 6 tập 2

Nhận xét ưu khuyết điểm của bài làm

Câu 3 trang 86 SGK văn 6 tập 2

Góp ý, sửa chữa bài làm

Câu 4 trang 86 SGK văn 6 tập 2

Đánh giá và xếp loại bài làm

Bài soạn “Tập làm thơ bốn chữ” số 5

Bài soạn “Tập làm thơ bốn chữ” số 6

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Thể thơ bốn tiếng có nguồn gốc Việt Nam, xuất hiện từ xa xưa và được sử dụng nhiều trong tục ngữ, ca dao và đặc biệt là vè, do thích hợp với lối kể chuyện (Theo Bùi Văn Nguyên – Hà Minh Đức, Thơ ca Việt Nam, hình thức và thể loại, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971).

2. Đặc điểm về nghệ thuật

Thơ bốn tiếng thường có cả vần lưng và vần chân xen kẽ, gieo vần liền hay cách, nhịp phổ biến là nhịp hai.

a. Vần chân là vần được gieo vào cuối dòng thơ; vần lưng là vần được gieo ở giữa dòng thơ.

b. Vần liền là vần được gieo liên tiếp ở các dòng thơ; vần cách là vần không gieo liên tiếp mà thường cách ra một dòng thơ.

II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

Câu 1. Nêu một bài thơ hay một đoạn thơ bốn chữ. Chỉ ra những chữ cùng vần với nhau trong bài thơ hay đoạn thơ đó.

…“Hạt gạo làng ta

Có bão tháng bảy

Có mưa tháng ba

Giọt mồ hôi sa

Những trưa tháng sáu

Nước như ai nấu

Chết cả cá cờ

Cua ngoi lên bờ

Mẹ em xuống cấy…”

(Trần Đăng Khoa)

Các từ cùng vần với nhau là: ta – ba – sa, sáu – nấu, cờ – bờ.

Câu 2. Chỉ ra đâu là vần chân, đâu là vần lưng trong đoạn thơ sau:

Mây lưng chừng hàng

Về ngang lưng núi

Ngàn cây nghiêm trang

Mơ màng theo bụi.

(Xuân Diệu)

– Các cặp vần lưng: hàng – ngang, trang – màng.

– Cặp vần chân: núi – bụi.

Câu 3. Trong hai đoạn thơ sau, đoạn nào gieo vần liền, đoạn nào gieo vần cách:

Cháu đi đường cháu

Chú đi đường ra

Đến nay tháng sáu

Chợt nghe tin nhà.

(Tố Hữu)

Nghé hành nghé hẹ

Nghé chẳng theo mẹ

Thì nghé theo đàn

Nghé chớ đi càn

Kẻ gian nó bắt

(Đồng dao)

Câu 4. Thay hai từ sông, cạnh vào hai chỗ chép sai trong đoạn thơ sau (trích trong bài Chị em của Lưu Trọng Lư):

Em bước vào đây

Gió hôm nay lạnh

Chị đốt than lên

Để em ngồi sưởi

Nay chị lấy chồng

Ở mãi Giang Đông

Dưới làn mây trắng

Cách mấy con đò.

Câu 5. Dựa vào những kiến thức vừa được học hãy tập làm một bài thơ (hoặc đoạn thơ) bốn chữ có nội dung kể chuyện hoặc miêu tả về một sự việc hay một con người theo vần tự chọn.

Bài soạn “Tập làm thơ bốn chữ” số 5

Bài soạn “Tập làm thơ bốn chữ” số 4

Bài soạn “Tập làm thơ bốn chữ” số 5

Kiến thức cần nắm vững

– Khái niệm: Thơ bốn chữ là gì ?

Thơ bốn chữ là thơ có bốn tiếng ở mỗi câu thơ, thường sử dụng vần chân, vần lưng, vần cách, vần liền.

– Đặc điểm của thể thơ bốn chữ:

+ Số chữ: Mỗi dòng có bốn chữ.

+ Khổ: Thường chia khổ, mỗi khổ có 4 dòng.

+ Vần: thường có vần lưng và vần chân xen kẽ nhau, gieo vần liền vần cách hay vần hỗn hợp.

+ Nhịp: 2/2 thích hợp với kể và tả.

– Một số cách gieo vần thường dùng trong thơ bốn chữ:

+ Vần lưng : tiếng đứng cuối câu trước vần với chữ đứng giữa câu sau.

+ Vần chân : tiếng đứng cuối của các câu thơ vần với nhau.

+ Vần liền : tiếng cuối của hai câu liên tiếp vần với nhau.

+ Vần cách : tiếng cuối của hai câu cách nhau vần với nhau.

Hướng dẫn soạn bài Tập làm thơ bốn chữ chi tiết

I. Chuбє©n bб»‹ б»џ nhГ

1 – Trang 84 SGK

Ngoài bài thơ Lượm, em còn biết thêm bài thơ, đoạn thơ bốn chữ nào khác? Hãy nêu lên và chỉ ra những chữ cùng vần với nhau trong bài thơ đó.

Trả lời:

Ngoài bài thơ Lượm, còn có các bài thơ 4 chữ:

Mùa thu của em

Là vàng hoa cúc

Như nghìn con mắt

Mở nhìn trời êm

Lá xanh cốm mới

Mùi hương như gọi

Từ màu lá sen

(Mùa thu của em – Quang Huy)

Những chữ cùng vần: em – êm, em – en

2 – Trang 84 SGK

Vần chân là vần được gieo vào cuối dòng thơ, vần lưng là vần được gieo ở giữa dòng thơ. Hãy chỉ ra đâu là vần chân và đâu là vần lưng trong đoạn thơ sau:

– Vần chân: hàng – trang

– Vần lưng: lưng – lưng, ngang – màng.

3 – Trang 85 SGK

Vần liền là vần được gieo liên tiếp ở các dòng thơ; vần cách là vần không gieo liên tiếp mà thường cách ra một dòng thơ. Trong hai đoạn thơ sau, đoạn nào gieo vần liền và đoạn nào gieo vần cách:

Chú lên đường xa

Chб»Јt nghe tin nhГ

Kẻ gian nó bắt.

– Vần liền được gieo liên tiếp ở các vần thơ

– Vần cách không được gieo liên tiếp, thường bị cách quãng

– Vбє§n liб»Ѓn: chГЎu- sГЎu, ra- nhГ

– Vần cách: hẹ- mẹ, đàn- càn

4 – Trang 85 SGK

Đoạn thơ sau đây trích trong bài Chị em của Lưu Trọng Lư, một bạn chép sai hai chữ có vần, em hãy chỉ ra hai chữ đó và thay vào bằng hai chữ sông, cạnh sao cho phù hợp.

– Sửa: Để em ngồi cạnh (thay cho Để em ngồi sưởi)

– Sửa: Cách mấy con sông (thay cho Cách mấy con đò).

5 – Trang 85 SGK

Tập làm một bài thơ (hoặc đoạn thơ) bốn chữ có nội dung kể chuyện hoặc miêu tả về một sự việc hay một con người theo vần tự chọn.

Tham khảo bài thơ sau:

Em yêu màu đỏ

Như máu con tim

Lá cờ tổ quốc

Khăn quàng đội viên

Em yêu màu xanh

Đồng bằng, rừng núi

Biển đầy cá tôm

Bầu trời cao vợi

Em yêu màu vàng

Lúa đồng chín rộ

Hoa cúc mùa thu

Nắng trời rực rỡ

(Sắc màu em yêu – Phạm Đình Ân)

II. Soạn bài Tập làm thơ bốn chữ trên lớp

1 -Trang 86 SGK

Trình bày bài (đoạn) thơ bốn chữ đã chuẩn bị ở nhà; chỉ ra nội dung, đặc điểm (vần, nhịp) của bài (đoạn) thơ ấy.

Ví dụ đoạn thơ bốn chữ:

Hạt nắng mênh mang

Thắp lửa hai hàng

Lòng như gió bay

Một màu phượng cháy.

Vần chân: mang – hàng; bay – cháy

2 -Trang 86 SGK

Cả lớp nhận xét những điểm được và chưa được của bài làm.

3 -Trang 86 SGK

Cả lớp góp ý, từng học sinh sửa chữa bài làm của mình.

Bài soạn “Tập làm thơ bốn chữ” số 3

Bài soạn “Tập làm thơ bốn chữ” số 4

CHUẨN BỊ Ở NHÀ

Câu 1. Ngoài bài Lượm, ta còn có kể thêm những bài thơ bốn chữ khác, ví dụ bài:

Tiếng võng kêu (Trần Đăng Khoa)

Kẽo cà kẽo kẹt

Tay em đưa đều

Đầy tiếng võng kêu.

Mênh mang trưa hè

Chim co chân ngủ

Lim dim cành tre.

Cây na thiu thiu

Mắt na hé mở

Nhìn trời trong veo.

Võng em chao đều

Chim ngoài cửa sổ

Mổ tiếng võng kêu…

(Trích)

Những chữ cùng vần với nhau trong đoạn thơ trên là: đều – kêu; hè – tre; đều – kêu.

Câu 2. Đoạn thơ:

Có vần lưng: hàng – ngang; trang – màng

Có vần chân: hàng – trang; núi – bụi

Câu 3.

– Đoạn thơ sau đây gieo vần liền:

– Đoạn thơ sau gieo vần cách:

Câu 4. Đoạn thơ sau đây trích trong bài Chị em của Lưu Trọng Lư, một bạn chép sai hai chữ có vần, em hãy chỉ ra hai chữ đó và thay vào bằng hai chữ sông, cạnh sao cho phù hợp.

Cách mấy con đò

Sửa lại:

Để em ngồi cạnh

Cách mấy con sông.

Câu 5. Tập làm một bài thơ 4 chữ.

Bài tham khảo

KỂ CHUỐI MIỀN NAM

Ngàn cây như hội

Đất mặt quê mình

Kể sao hết chuối

Ngát một màu xanh.

Từ trời rơi xuống

Lá chuối Nàng Tiên

Chuối Cau sao mượn

Tên của láng giềng?

Già Hương đã lạ

Lại có Già Lùn

Già cui lắm quả

Góp vị thơm chung

Từ đâu chuối tới

Mọc giữa đất này

Mà ai quen gọi

Chuối Xiêm chuối Tây.

Vua các thứ chuối

Chuối Ngự phải không?

Chuối Tiêu chín bói

Biết có cay nồng.

Chuối Cơm chuối lá

Thân thuộc ai bằng

Chuối Sáp thực lạ

Phải luộc mới ăn.

Tìm hoài chuối Mật

Theo cánh ong bay

Gặp quày chuối Hột

Sau lớp lá dày

Chuối chi làm cảnh

Bắp trổ hình Sen

Chuối Nước nhấp nhánh

Hoa đỏ rực lên…

Bao nhiêu thứ chuối

Ta bứng ta trồng

Vườn xanh mát rượi

Quê mình mênh mông.

(Trần Ngọc Hưởng)

Bài soạn “Tập làm thơ bốn chữ” số 2

Bài soạn “Tập làm thơ bốn chữ” số 3

I. Kiến thức cơ bản

Câu 1. Ngoài bài thơ Lượm, em còn biết thêm bài thơ, đoạn thơ bốn chữ nào khác ? Hãy nêu lên và chỉ ra những chữ cùng vần với nhau trong bài thơ đó.

Mùa thu của emLà vàng hoa cúcNhư nghìn con mắtMở nhìn trời êmMùa thu của emLá xanh cốm mớiMùi hương như gọiTừ màu lá sen

(Mùa thu của em- Quang Huy)

Những chữ cùng vần: em – êm, em – en

Câu 2. Vần chân là vần được gieo vào cuối dòng thơ, vần lưng là vần được gieo ở giữa dòng thơ. Hãy chỉ ra đâu là vần chân và đâu là vần lưng trong đoạn thơ sau :

Mây lưng chừng hàngVề ngang lưng núiNgàn cây nghiêm trangMơ màng theo bụi.

Vần chân và vần lưng trong đoạn thơ trên là :

– Vần chân: hàng – trang, núi – bụi.

– Vần lưng: chừng – lưng, ngang – màng.

Câu 3. Vần liền là vần được gieo liên tiếp ở các dòng thơ ; vần cách là vần không gieo liên tiếp mà thường cách ra một dòng thơ. Trong hai đoạn thơ sau, đoạn nào gieo vần liền và đoạn nào gieo vần cách :

Chú lên đường ra

Đến ngày tháng sáu

Sửa: Để em ngồi cạnh (thay cho Để em ngồi sưởi)

Sửa: Cách mấy con sông (thay cho Cách mấy con đò)

Câu 5. Tập làm một bài thơ (hoặc đoạn thơ) bốn chữ có nội dung kể chuyện hoặc miêu tả về một sự việc hay một con người theo vần tự chọn.

Bài soạn “Tập làm thơ bốn chữ” số 2

Bài soạn “Tập làm thơ bốn chữ” số 1

Bài soạn “Tập làm thơ bốn chữ” số 2

Câu 1 (Trang 84 sgk ngữ văn 6 tập 2):

Câu 2 (trang 83 sgk ngữ văn 6 tập 2):

– Vần chân: hàng – trang

– Vần lưng: lưng – lưng, ngang – màng

Câu 3 (trang 84 sgk ngữ văn 6 tập 2):

– Vần liền được giep liên tiếp ở các vần thơ

– Vần cách không được gieo liên tiếp, thường bị cách quãng

– Vбє§n liб»Ѓn: chГЎu- sГЎu, ra- nhГ

– Vần cách: hẹ- mẹ, đàn- càn

Câu 4 (trang 85 sgk ngữ văn 6 tập 2):

Câu 5 (trang 86 sgk ngữ văn 6 tập 2):

Các bạn có thể tham khảo đoạn thơ sưu tầm sau:

(Sắc màu em yêu – Phạm Đình Ân)

Bài 1 (trang 85 sgk ngữ văn 6 tập 2):

Một màu phượng cháy

Vần chân: mang – hàng; bay – cháy

Đăng bởi: Lê Mạnh Huy

Từ khoá: 6 Bài soạn “Tập làm thơ bốn chữ” lớp 6 hay nhất

Top 6 Bài Soạn “Chỉ Từ” Lớp 6 Hay Nhất

Bài soạn “Chỉ từ” số 4

I. Chỉ từ là gì?

1. Các từ được in đậm trong những câu sau bổ sung ý nghĩa cho từ nào?

– Nọ: ông vua

– kia: làng

– nọ: hai cha con nhà.

2. So sánh các từ và cụm từ sau, từ đó rút ra ý nghĩa của những từ in đậm:

Các từ nọ, ấy, kia làm cho cụm danh từ trở nên xác định hơn, cụ thể hơn.

3. Nghĩa các từ ấy, nọ trong những câu sau có điểm nào giống và điểm nào khác với các trường hợp đã phân tích?

Giống nhau: cùng xác định vị trí của sự vật.

Khác nhau:

– Ở bài tập 1, 2: định vị trong không gian.

– Ở bài tập 3: định vị trong thời gian (hồi ấy, đêm nọ).

II. Hoạt động của chỉ từ trong câu

1. Các từ ấy, kia, nọ… đều làm phụ ngữ bổ nghĩa cho danh từ, lập thành cụm danh từ.

2. Tìm chỉ từ và xác định chức vụ:

a. Đó: chủ ngữ.

b. Đấy: trạng ngữ.

III. LUYỆN TẬP:

1. Tìm chỉ từ, xác định ý nghĩa và chức vụ:

a. “ấy”:

– Định vị sự vật trong không gian.

– Làm phụ ngữ của cụm danh từ.

b. “đấy”, “đây”

– Định vị sự vật trong không gian

– Làm chủ ngữ trong câu

c. “nay”

– Định vị trong thời gian

– Làm trạng ngữ.

d. “đó”

a. Thay “chân núi Sóc” bằng “đó”

– Định vị về không gian.

b. Thay “bị lửa thiêu cháy” bằng “ấy”

Không thể thay các chỉ từ “ấy, đó” bằng những cụm từ khác bởi vì trong truyện cổ dân gian, không thể xác định được cụ thể thời gian năm ấy, hôm đó là năm nào, hôm nào?

Rút ra nhận xét:

Chỉ từ có vai trò quan trọng trong câu vì chúng có thể chỉ ra những sự vật, những thời điểm khó gọi thành tên giúp người nghe, người đọc định vị được các sự vật, thời điểm trong chuỗi sự vật hay dòng thời gian vô tận.

Bài soạn “Chỉ từ” số 2

Bài soạn “Chỉ từ” số 4

I. CHỈ TỪ LÀ GÌ?

Trả lời câu 1 (trang 136 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

Các từ được in đậm trong nhưng câu sau bổ sung ý nghĩa cho từ nào?

(Em bé thông minh)

Trả lời:

Các từ in đậm bổ sung ý nghĩa cho các từ:

– Nọ: Ông vua

– Kia: Làng

– Nọ: Cha con nhà.

Trả lời câu 2 (trang 137 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

So sánh các từ và cụm từ sau đây, từ đó rút ra ý nghĩa của những từ được in đậm.

– ông vua / ông vua nọ

– làng / làng kia

– nhà / nhà nọ

Trả lời câu 3 (trang 137 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

Nghĩa của các từ ấy, nọ trong những câu sau có điểm nào giống và điểm khác với các trường hợp đã phân tích.

Hồi ấy, ở Thanh Hoá có một người đánh cá tên là Lê Thận. Một đêm nọ, Thận thả lưới ở một bến vắng như thường lệ.

So sánh các từ ấy (hồi ấy), nọ (đêm nọ) với các từ đã phân tích ở trên, ta thấy:

– Giống nhau:

Cùng xác định vị trí của sự vật.

– Khác nhau:

+ các từ hồi ấy, đêm nọ ⟶ định vị sự vật về thời gian.

II. HOẠT ĐỘNG CỦA CHỈ TỪ TRONG CÂU

Trả lời câu 1 (trang 137 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

Các chỉ từ nọ, kia, ấy đảm nhiệm chức vụ gì?

a) Cuộc chống Mĩ cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hi sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.

Đó là một điều chắc chắn.

b) Từ đấy, nước ta chăm nghề trồng trọt chăn nuôi và có tục ngày Tết làm bánh chưng, bánh giày.

Chỉ từ trong mồi câu và chức vụ của chúng:

a) Đó: làm chủ ngữ

b) Đấy: làm trạng ngữ

III. LUYỆN TẬP

Trả lời câu 1 (trang 138 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

Tìm chỉ từ trong những câu sau đây. Xác định ý nghĩa và chức vụ của các chỉ từ ấy.

a) Vua cha xem qua một lượt rồi dừng lại trước chồng bánh của Lang Liêu, rất vừa ý, bèn gọi lên hỏi. Lang Liêu đem giấc mộng gặp thần ra kể lại. Vua cha ngẫm nghĩ rất lâu rồi chọn hai thứ bánh ấy đem tế Trời, Đất cùng Tiên vương.

(Bánh chưng, bánh giầy)

b) Đấy vàng, đây cũng đồng đen

Đấy hoa thiên lí, đây sen Tây Hồ.

(Ca dao)

c) Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương.

(Con Rồng cháu Tiên)

d) Từ đó nhuệ khí của nghĩa quân ngày một tăng.

(Sự tích Hồ Gươm)

Lời giải chi tiết:

Các chỉ từ có trong các câu và ý nghĩa, chức vụ của chúng là:

a) hai thứ bánh ấy:

– Định vị sự vật trong không gian

– Làm phụ ngữ sau trong cụm danh từ.

b) đấy, đây

– Làm chủ ngữ

c) nay

– Định vị sự vật trong thời gian

– Làm trạng ngữ

d) đó:

– Làm trạng ngữ

Trả lời câu 2 (trang 138 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

a) Giặc tan vỡ. Đám tàn quân giẫm đạp lên nhau chạy trốn, tráng sĩ đuổi đến chân núi Sóc (Sóc Sơn). Đến chân núi Sóc, một mình một ngựa, tráng sĩ lên đỉnh núi, cởi giáp sắt bỏ lại, rồi cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời.

(Theo Thánh Gióng)

b) Người ta còn nói, khi ngựa thét ra lửa, lửa đã thiêu cháy một làng, cho nên làng bị lửa thiêu cháy về sau gọi là làng Cháy.

Có thể thay như sau:

a) đến chân núi Sóc = đến đấy

b) làng bị lửa thiêu cháy = làng ấy

Thay như vậy để khỏi lặp từ.

Trả lời câu 3 (trang 139 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

Năm ấy, đến lượt Lí Thông nộp mình. Mẹ con hắn nghĩ kế lừa Thạch Sanh chết thay. Chiều hôm đó, chờ Thạch Sanh kiếm củi về, Lí Thông dọn một mâm rượu thịt ê hề mời ăn, rồi bảo:

– Đêm nay, đến phiên anh canh miếu thờ, ngặt vì dở cất mẻ rượu, em chịu khó thay anh, đến sáng thì về.

(Thạch Sanh)

Không thể thay các chỉ từ: Năm ấy, chiều hôm đó, đêm nay trong đoạn văn được.

Chỉ từ có vai trò rất quan trọng. Chúng có thể chỉ ra những sự vật, thời điểm khó gọi thành tên, giúp người nghe, người đọc định vị được các sự vật, thời điểm ấy trong chuỗi sự vật hay trong dòng thời gian vô hạn.

Bài soạn “Chỉ từ” số 2

Bài soạn “Chỉ từ” số 3

Bài soạn “Chỉ từ” số 2

A. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

Bài soạn “Chỉ từ” số 5

Bài soạn “Chỉ từ” số 3

Giải câu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 trang 67 Sách bài tập (SBT) Ngữ văn 6 tập 1. 4. Đặt các câu có chỉ từ này, kia và phân biệt cách dùng chúng. (Khi nào thì dùng từ này, khi nào thì dùng từ kia ?)

Bài tập

1. Bài tập 1, trang 138, SGK.

2. Bài tập 2, trang 138 -139, SGK.

3. Bài tập 3, trang 139, SGK.

4. Đặt các câu có chỉ từ này, kia và phân biệt cách dùng chúng. (Khi nào thì dùng từ này, khi nào thì dùng từ kia ?)

5. Chỉ từ ấy có thể trở về thời gian hay không gian, hay cả hai ? Đặt câu với từng ý nghĩa của từ ấy.

6. Đặt ba câu có chỉ từ, trong đó :

– Một câu có chỉ từ làm chủ ngữ ;

– Một câu có chỉ từ làm trạng ngữ ;

– Một câu có chỉ từ làm phụ ngữ của cụm danh từ.

7. Xác định ý nghĩa thời gian (có trỏ thời gian hiện nay không ?) và chức vụ ngữ pháp của từ nay trong đoạn sau :

Cậu Chân, cậu Tay cũng nói :

– Phải đấy ! Chúng ta phải đi nói cho lão Miệng biết để lão tự lo lấy. Chúng ta vất vả nhiều rồi. Nay đã đến lúc lão phải tự mình tìm lấy thức ăn, xem lão có làm nổi không.

(Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng)

Gợi ý làm bài

Câu 1. Trước hết, HS tìm các chỉ từ có trong các câu đã cho. Ví dụ :

a) (Hai thứ bánh) ấy

HS xác định ý nghĩa của từng chỉ từ trong mỗi câu (trỏ không gian, thời gian hay trỏ người, trỏ sự việc). Sau đó xác định chức vụ ngữ pháp (chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, phụ ngữ,…) của từng chỉ từ. Ví dụ :

ấy:

– Trỏ vị trí của vật (hai cái bánh của Lang Liêu) trong không gian ;

– Làm phụ ngữ sau trong cụm danh từ.

Câu 2. Cần xét quan hệ giữa câu có chứa các cụm từ in đậm với những câu trước đó, từ đó tìm các chỉ từ thích hợp để thay thế. Ví dụ :

Câu 3. Ba chỉ từ trong các cụm từ chỉ thời gian ở đoạn trích (năm ấy, chiều hôm đó, đêm nay) đều có ý nghĩa phiếm chỉ, vì vậy, không thay bằng từ hay cụm từ nào được. Từ đây, có thể thấy chỉ từ có vai trò rất quan trọng, nhiều khi không thay thế được.

Câu 4. HS đặt các câu có chứa chỉ từ này, kia để thấy vị trí trong không gian của các vật được nói đến so với vị trí của người nói xa hay gần.

Câu 5. Chỉ từ ấy có thể vừa trỏ không gian vừa trỏ thời gian. Ví dụ :

– Làng ấy ;

– Hồi ấy.

Câu 6. Chỉ từ có thể giữ nhiều chức vụ ngữ pháp khác nhau trong câu. Ví dụ :

– Đó là niềm tự hào của chúng tôi. (chủ ngữ)

– Nay, tôi phải đi rồi. (trạng ngữ)

– Tôi rất thích điều đó. (phụ ngữ của cụm danh từ)

Câu 7. Chú ý tìm hiểu xem từ nay có trỏ thời gian hiện nay không hay là trỏ thời điểm nào.

Căn cứ vào cấu tạo ngữ pháp của câu để xác định chức vụ ngữ pháp cho từ nay.

Bài soạn “Chỉ từ” số 1

Bài soạn “Chỉ từ” số 5

Câu 1. Chỉ từ:

– Tб»« nб»Ќ bб»• sung ГЅ nghД©a cho tб»« Гґng vua, nhГ

– Từ kia bổ sung ý nghĩa cho từ làng

Câu 2. Tác dụng

Các chỉ từ nọ, ấy, kia xác định không gian cụ thể cho sự vật được biểu thị là danh từ mà nó đi kèm.

Câu 3. Các từ “ấy”, “nọ” trong câu 3 có tác dụng xác định thời gian trong không gian. Khác với các chỉ từ phía trên xác định sự vật (danh từ) trong không gian.

Câu 1. Chỉ từ trong câu đã dẫn ở phần I, đảm nhiệm chức năng xác định vị trí của sự vật trong không gian và thời gian.

Câu 2. Các chỉ từ

a, Chỉ từ: đó, giữ vai trò là chủ ngữ, diễn đạt toàn bộ nội dung của câu trước đó. (Đó ở đây có vai trò như từ liên kết trong phép thế)

b, Chỉ từ: đấy, là thành phần trạng ngữ của câu, xác định thời điểm diễn ra chuỗi hành động tiếp theo

Bài 1 (trang 138 sgk ngữ văn 6 tập 1)

Bài 2 (Trang 138 sgk ngữ văn 6 tập 1)

a, Thay cụm “chân núi Sóc Sơn” bằng chỉ từ: đấy, đó…

b, Thay cụm bị lửa thiêu cháy bằng chỉ từ: ấy, đó, này…

Bài 3 (trang 138 sgk ngữ văn 6 tập 1)

Các cụm từ có sử dụng chỉ từ: năm ấy, chiều hôm đó, đêm nay

– Không thể sử dụng các từ, hoặc cụm từ khác để thay thế bởi: truyện cổ tích không thể xác định chính xác thời gian diễn ra sự việc.

→ Như vậy chỉ từ có vai trò vô cùng quan trọng, nhiều khi không thể thay thế được.

Bài soạn “Chỉ từ” số 1

Bài soạn “Chỉ từ” số 6

Bài soạn “Chỉ từ” số 1

I- Chỉ từ là gì?

Câu 1 trang 136 SGK văn 6 tập 1:

Câu 2 trang 137 SGK văn 6 tập 1:

So sánh ý nghĩa các từ và cụm từ:

Câu 3 trang 117 SGK văn 6 tập 1:

Giống nhau: xác định vị trí của danh từ

II- Hoạt động của chỉ từ trong câu

Câu 1 trang 117 SGK văn 6 tập 1:

Trong các câu đã dẫn ở phần I, chỉ từ đảm nhận chức vụ xác định vị trí của sự vật

Câu 2 trang 117 SGK văn 6 tập 1:

Chức vụ của các chỉ từ trong câu:

a. Đó: có vai trò như chủ ngữ trong câu

b. Đấy: giữ vai trò làm chỉ từ xác định về thời gian

III- Luyện tập bài chỉ từ

Câu 1 trang 138 SGK văn 6 tập 1:

a. Chỉ từ “ấy”: định vị sự vật trong không gian, làm phụ ngữ sau trong cụm danh từ

b. Chỉ từ “đấy”, “đây”: định vị sự vật trong không gian, làm chủ ngữ

c. Chỉ từ “nay”: định vị sự vật trong thời gian, làm trạng ngữ

d. Chỉ từ “đó”: định vị sự vật trong thời gian, làm trạng ngữ

Câu 2 trang 138 SGK văn 6 tập 1:

Câu 3 trang 138 SGK văn 6 tập 1:

Không thể thay các chỉ từ trong đoạn văn bằng những từ hoặc cụm từ khác

Nhận xét về tác dụng của chỉ từ:

Đăng bởi: Nguyễn Đức

Từ khoá: Top 6 Bài soạn “Chỉ từ” lớp 6 hay nhất

Soạn Sử 9 Bài 6: Các Nước Châu Phi Soạn Lịch Sử 9 Trang 28

– Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, các nước châu Phi đều là thuộc địa của tư bản phương Tây.

– Sau Chiến tranh, phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, đòi độc lập diễn ra sôi nổi.

Khởi đầu là phong trào đấu tranh của nhân dân ở Bắc Phi. Cuộc binh biến ở Ai Cập (7-1952), cuộc dấu tranh vũ trang kéo dài 8 năm của nhân dân An- giê-ri (1954-1962).

Tiếp theo là phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân ở khắp châu Phi chống lại sự thống trị của các nước đế quốc.

– Năm 1960 được gọi là “Năm châu Phi” với 17 nước tuyên bố độc lập.

– Năm 1975, hệ thống thuộc địa của Bồ Đào Nha tan rã, ra đời các quốc gia độc lập: Ăng-gô-la, Mô-dăm-bích… và xóa bỏ chế độ phân biệt chủng tộc (A-pác-thai) ở cộng hoà Nam Phi (1993).

– Sau khi giành độc lập, các nước châu Phi bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước, nhưng chưa thay đổi được tình trạng đói nghèo, lạc hậu.

– Từ cuối những năm 80, tình hình châu Phi ngày càng khó khăn và không ổn định như:

Xung đột, nội chiến, đói nghèo, nợ nần và bệnh tật…

Chia rẽ và xung đột, nội chiến đã và đang làm cho các nước châu Phi ngày càng khó khăn, lâm vào những thảm hoạ đau.

– Đã hình thành tổ chức khu vực – tổ chức thống nhất châu Phi, nay gọi là Liên minh châu Phi (AU)

– Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, Liên bang Nam Phi nằm trong khối Liên hiệp Anh.

– Năm 1961, trước áp lực đấu tranh của nhân dân, Liên bang Nam Phi rút khỏi khối Liên hiệp Anh và tuyên bố là nước Cộng hòa Nam Phi.

– Thực dân da trắng đã thi hành chính sách phân biệt chủng tộc (chủ nghĩa A-pác-thai) trong hơn 3 thế kỉ ở Nam Phi.

– Tháng 12-1993, chính quyền của người da trắng tuyên bố bãi bỏ chế độ A-pác-thai, trả tự do cho lãnh tụ ANC sau 27 năm bị cầm tù. Tổ chức ANC và Đảng Cộng sản Nam Phi được thừa nhận là tổ chức hợp pháp.

– Tháng 4-1994, sau cuộc bầu cử đa chủng tộc đầu tiên ở Nam Phi, Nen-Xơn Man-đê-la đã trở thành Tổng thống người da đen đầu tiên ở đây.

– Chính quyền mới ở Nam Phi đã đưa ra Chiến lược kinh tế vĩ mô để phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện mức sống của người da đen.

– Hiện nay các nước châu Phi đang gặp những khó khăn gì trong công cuộc phát triển kinh tế, xã hội đất nước?

Gợi ý đáp án

– Xung đột, nội chiến, đói nghèo, nợ nần chồng chất và bệnh tật (từ năm 1987 đến năm 1997 có tới 14 cuộc xung đột và nội chiến ở Run-an-đa có tới 800 nghìn người chết và 1,2 triệu người phải lang thang, chiếm 1/10 dân số).

– Hiện nay châu Phi có 57 quốc gia, nhưng 32 nước xếp vào nhóm nghèo nhất thế giới, 2/3 dân số châu Phi không đủ ăn, 1/4 dân số đói kinh niên (150 triệu người).

– Tỉ lệ tăng dân số cao nhất thế giới.

– Tỉ lệ người mù chữ cao nhất thế giới.

– Đầu thập kỉ 90, châu Phi nợ chồng chất: 300 tỉ USD.

Cuộc đấu tranh chống chế độ phân biệt chủng tộc ở Cộng hòa Nam Phi đã đạt được những thắng lợi nào có ý nghĩa lịch sử to lớn?

Gợi ý đáp án

– Kết quả: buộc chính quyền của người da trắng phải tuyên bố xoá bỏ chế độ Apacthai năm 1993. Nen-xơn Man-đê la – lãnh tụ của ANC đã được thả tự do và được bầu làm Tổng thống người da đen đầu tiên trong lịch sử nước Cộng hoà Nam Phi. Chế độ phân biệt chủng tộc vĩnh viễn bị xoá bỏ.

Hãy trình bày những nét chính về sự phát triển kinh tế, xã hội của các nước châu Phi sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

Gợi ý đáp án

Sau khi giành được độc lập, các nước châu Phi bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước, phát triển kinh tế – xã hội và đã thu được những thành tựu bước đầu song chưa đủ để thay đổi căn bản bộ mặt của châu lục này.

* Về kinh tế:

– Nhiều nước vẫn còn trong tình trạng lạc hậu, đói nghèo.

– Nợ nần và phụ thuộc vào nước ngoài,…

* Về xã hội: ngày càng khó khăn, không ổn định:

– Xung đột về sắc tộc và tôn giáo, đảo chính, nội chiến diễn ra liên miên.

– Bệnh tật và mù chữ.

– Sự bùng nổ dân số,…

6 Bài Soạn “Tiếng Gà Trưa” Của Xuân Quỳnh Lớp 7 Hay Nhất

Bài thơ “Tiếng gà trưa” của nữ sĩ Xuân Quỳnh được viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, in lần đầu trong tập “Hoa dọc chiến hào” năm 1968. Bài thơ đã gọi về những kỉ niệm đẹp đẽ của tuổi thơ với tình cảm bà cháu, qua đó thể hiện tình cảm gia đình và tình yêu quê hương sâu sắc. Mời các bạn tham khảo một số bài soạn “Tiếng gà trưa” hay nhất mà chúng mình tổng hợp trong bài viết sau để cảm nhận vẻ đẹp của tác phẩm này.

Bài soạn “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh số 6

A. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

1. Tác giả:

2. Tác phẩm

B. BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI

Câu 1: (Trang 151 – SGK Ngữ văn 7 tập 1) Cảm hứng của tác giả trong bài thơ được khơi gợi từ sự việc gì? Mạch cảm xúc trong bài thơ được diễn biến như thế nào?

Câu 4: (Trang 151 – SGK Ngữ văn 7 tập 1)

a. Bài thơ làm theo thể 5 tiếng nhưng có những chỗ biến đổi khá linh hoạt. Em có nhận xét gì về cách gieo về số câu (dòng) thơ trong mỗi khổ thơ.

Bài soạn “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh số 3

Bài soạn “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh số 6

I. Tác giả

– Xuân Quỳnh sinh năm 1942 và mất năm 1988, tên đầy đủ là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh.

– Quê ở làng An Khê, ven thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội).

– Bà là một trong những nhà thơ nữ xuất sắc của Việt Nam, được mệnh danh là nữ hoàng thơ tình yêu của Việt Nam.

– Thơ của Xuân Quỳnh thường viết về những tình cảm gần gũi, bình dị, trong sáng của đời sống gia đình và cuộc sống hàng ngày, biểu lộ những rung cảm và khát vọng của một trái tim phụ nữ chân thành, tha thiết và đằm thắm.

– Xuân Quỳnh được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật vào năm 2011.

– Một số tác phẩm tiêu biểu:

II. Tác phẩm

1. Hoàn cảnh sáng tác

– Tiếng gà trưa được viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ.

– Bài thơ được in lần đầu trong tập thơ Hoa dọc chiến hào (1968) của Xuân Quỳnh.

2. Thể thơ

– Bài thơ được viết theo thể thơ ngũ ngôn (mỗi câu có 5 chữ).

– Vần được sử dụng linh hoạt.

– Hình ảnh chân thực, bình dị.

3. Bố cục

Gồm 3 phần:

III. Đọc – hiểu văn bản

1. Những rung cảm ban đầu của cháu khi nghe tiếng gà trưa

– Hoàn cảnh: Người cháu đang trên đường hành quân, nhìn thấy xóm làng liền ghé vào nghỉ ngơi.

– Âm thanh: tiếng gà “cục tác cục ta”.

– Tâm trạng: điệp từ “nghe” kết hợp với ẩn dụ chuyển đổi cảm giác “xao động nắng trưa”, “bàn chân đã mỏi”, “trở về tuổi thơ.

2. Tiếng gà trưa gợi về những kỉ niệm tuổi thơ

– Kỉ niệm tuổi thơ bên người bà lần lượt hiện ra qua dòng hồi tưởng của người cháu:

– Hình ảnh: con gà mái mơ – mình hoa đốm trắng, con gà mái vàng – lông óng như màu nắng. Đó là hình ảnh thân thuộc, gần gũi với nông thôn.

– Kỉ niệm: người cháu tò mò xem gà đẻ trứng, bị bà mắng “Gà đẻ mà mày nhìn/Rồi sau này lang mặt” khiến đứa cháu lo lắng. Đó là những nỗi lo âu hồn nhiên rất con trẻ.

– Hình ảnh:

3. Những suy tư của người cháu từ tiếng gà trưa

– Ý nghĩa của tiếng gà trưa: mang bao nhiêu hạnh phúc, kỉ niệm về người bà.

– Nghệ thuật điệp từ “vì”:

IV. Tổng kết

– Nội dung: Tiếng gà trưa đã khơi gợi những kỉ niệm tuổi thơ và tình cảm bà cháu. Tình cảm gia đình đã làm cho tình cảm yêu nước trở nên sâu sắc.

– Nghệ thuật: Thể thơ năm chữ diễn đạt tình cảm tự nhiên, sử dụng các biện pháp tu từ: nhân hóa, điệp ngữ, ẩn dụ…

V. Đọc hiểu văn bản

Câu 1. Cảm hứng của tác giả trong bài thơ được khơi gợi từ sự việc gì? Mạch cảm xúc trong bài thơ diễn biến như thế nào?

– Cảm hứng của tác giả được khơi gợi từ việc trong một lần hành quân đi qua một xóm làng nhỏ, nghe thấy tiếng gà vào buổi trưa đã khơi gợi lại những kỉ niệm tuổi thơ.

– Mạch cảm xúc diễn ra một cách tự nhiên: từ hình ảnh tiếng gà nhớ về người bà tần tảo, để rồi bộc lộ tình yêu với bà và lời khẳng định mục đích chiến đấu cao cả.

Câu 2. Những hình ảnh và kỉ niệm gì trong tuổi thơ đã được gợi lại từ tiếng gà trưa? Qua đó bài thơ đã biểu hiện những tình cảm gì của tác giả?

* Những hình ảnh và kỉ niệm được gợi lại:

Câu 3. Em cảm nhận gì về hình ảnh người bà và tình cảm bà cháu được thể hiện trong bài thơ:

– Hình ảnh người bà hiện ra chân thực: Một người bà tần tảo, hết lòng yêu thương lo nghĩ cho con cho cháu.

– Tình cảm bà cháu: sâu nặng, đáng ngưỡng mộ.

Câu 4. Bài thơ làm theo thể 5 tiếng, nhưng có những chỗ biến đổi khá linh hoạt. Em có nhận xét gì về cách gieo vần, về số câu (dòng) thơ trong mỗi khổ? Câu thơ “Tiếng gà trưa” được lặp lại nhiều lần trong bài thơ ở những vị trí nào và có tác dụng ra sao?

– Nhận xét: Cách gieo phần cũng như số câu thơ ở mỗi khổ thơ cũng khá linh hoạt, thường là vần cách (Khổ 1: xa – ta, Khổ 2: trắng – nắng… ).

– Tiếng gà trưa được lặp lại ở: Khổ thơ 2, 3, 4 và khổ cuối. Khi gợi nhớ về những kỉ niệm của tuổi thơ.

– Tác dụng: tạo nhịp điệu cảm xúc cho bài thơ, nhấn mạnh vào hình ảnh “tiếng gà trưa” chính là nguồn cảm xúc khơi gợi cho tác giả.

II. Luyện tập

Cảm nghĩ của em về tình bà cháu trong bài thơ.

– Tình cảm của bà dành cho cháu: Người bà tần tảo, chắt chiu nuôi lớn đứa cháu.

Bài soạn “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh số 3

Bài soạn “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh số 1

III. Trả lời câu hỏi

Câu 1 (trang 151 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Cảm hứng sáng tác của tác giả trong bài thơ được gợi từ sự việc:

Trên đường hành quân, buổi trưa, người chiến sĩ nghe thấy tiếng gà nhảy ổ gợi cho người chiến sĩ nhớ tới hình ảnh của người bà tần tảo, sớm hôm yêu thương, chăm sóc người cháu.

Câu 2 (Trang 151 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Những hình ảnh đẹp đẽ và kỉ niệm êm đềm được gợi lên từ tiếng gà trưa:

– Những chú gà mái tơ, mái vàng bên ổ trứng hồng

– Kỉ niệm những lần xem trộm gà đẻ, rồi bị bà mắng

– Hình ảnh bà chăm sóc đàn gà, bà soi những trái trứng hồng

– Tình cảm tha thiết người bà dành cho cháu. Bà chăm lo cho đàn gà, nâng niu những quả trứng với niềm mong ước nhỏ nhoi để cuối năm bán gà mua cho cháu quần áo mới

→ Tất cả hình ảnh gợi nhắc về tuổi thơ đói khổ nhưng vẫn tràn ngập tình yêu thương, sự vun đắp của người bà dành cho cháu

Câu 3 (trang 151 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Tình cảm bà cháu trong bài thơ sâu nặng, thắm thiết

+ Người bà dù sống trong cảnh nghèo nhưng người bà luôn dành mọi sự quan tâm, chăm sóc cho người cháu

+ NgЖ°б»ќi chГЎu luГґn yГЄu thЖ°ЖЎng, quГЅ trб»Ќng bГ

+ Khi xa quê hương, đi chiến đấu người cháu vẫn luôn nghĩ về bà, bởi hình ảnh về bà in đậm trong kí ức của người cháu

Câu 4 (trang 151 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Bài thơ được sáng tác theo thể thơ 5 chữ, sáng tạo và linh hoạt

+ Mỗi khổ thơ có 4 câu nhưng có những khổ thơ có 5 tới 6 câu, khổ 1: 7 câu

+ Cách gieo vần không theo cách thức thông thường: chủ yếu là vần cách, không đúng vần nhưng nghe rất hài hòa

+ Việc bắt đầu các khổ thơ 5 chữ bằng những câu thơ 3 tiếng khiến câu thơ được nhấn mạnh cảm xúc

– Sau mỗi tiếng gà trưa những kỉ niệm lại ùa về mạnh mẽ, gợi lên những cảm xúc của tuổi thơ, những tình cảm bà cháu ấm áp, thân thương.

Luyện tập

Bài 2 (trang 153 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Tình cảm bà cháu sâu nặng, đẹp đẽ khắc sâu trong tâm trí người cháu. Điều đó làm nên hành trang và động lực chiến đấu của người cháu. Chính vì thế chỉ một tiếng gà trưa bao kỉ niệm đẹp về tuổi thơ, về hình ảnh người bà bỗng chốc hiện lên chân thật, đẹp đẽ. Bà yêu thương, tần tảo chăm sóc người cháu, chắt chiu, dành dụm để nuôi dưỡng người cháu. Người cháu luôn biết ơn bà, luôn thương nhớ về bà để tiếp tục chiến đấu. Tình bà cháu, tình cảm gia đình đã làm sâu sắc thêm tình yêu quê hương đất nước.

Bài soạn “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh số 5

Bài soạn “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh số 1

KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM

1. Tác giả

– Xuân Quỳnh (1942 – 1988) quê ở làng La Khê, ven thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội), là nhà thơ nữ xuất sắc trong nền thơ hiện đại Việt Nam. Thơ Xuân Quỳnh thường viết về những tình cảm gần gũi, bình dị trong đời sống gia đình và cuộc sống thường ngày, biểu lộ những rung cảm và khát vọng của một trái tim phụ nữ chân thành, tha thiết và đằm thắm. Năm 2001, Xuân Quỳnh được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

– Bài thơ Tiếng gà trưa được viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống để quốc Mĩ, in lần đầu trong tập thơ Hoa dọc chiến hào (1968) của Xuân Quỳnh.

– Bố cục bài thơ:

+ Phần 1 (khổ 1): tiếng gà khơi dậy tình kí ức tuổi thơ.

+ Phần 3 (khổ 7, 8): những suy nghĩ, giấc mơ người lính.

ĐỌC – HIỂU

Câu 1 – Trang 151 SGK

Cảm hứng của tác giả trong bài thơ được khơi gợi từ sự việc gì? Mạch cảm xúc trong bài thơ được diễn biến như thế nào?

Trả lời:

– Trên đường đánh giặc người lính chợt nghe tiếng gà trưa nhảy ổ. Âm thanh quen thuộc ấy gợi về những kỉ niệm tuổi thơ đẹp đẽ về hình ảnh của những gà mái mơ, mái vàng đặc biệt là hình ảnh người bà với tình yêu và sự chăm nom đùm bọc cho cháu. Tiếng gà trưa đã đi cùng người lính vào cuộc chiến đấu cùng khắc sâu thâm tình của đất nước quê hương.

– Diễn biến mạch cảm xúc: khi nghe thấy tiếng gà trưa ⟹ tiếng gà trưa gợi cho người chiến sĩ những kỉ niệm tuổi thơ đẹp đẽ

Câu 2 – Trang 151 SGK

Những hình ảnh và kỉ niệm gì trong tuổi thơ đã được gợi lại từ tiếng gà trưa? Qua đó bài thơ đã biểu hiện những tình cảm gì?

Những hình ảnh và kỉ niệm đẹp đẽ của tuổi thơ được tiếng gà trưa gợi lại:

Tiếng gà trưa đã gợi lại trong tâm trí người chiến sĩ hình ảnh những con gà mái mơ, mái vàng và ổ trứng hồng đẹp xinh, một kỉ niệm thời thơ dại tò mò xem gà đẻ trứng nên đã bị bà mắng. Tiếng gà trưa đặc biệt đã gợi lại hình ảnh người bà giàu lòng yêu thương, luôn luôn đùm bọc chắt chiu chăm lo trọn lòng cho cháu nhỏ và niềm mong ước nhỏ bé của tuổi thơ được bộ quần áo mới có từ tiền bán gà. Ước mong tươi đẹp hồn nhiên ấy đi vào cả trong giấc ngủ của tuổi thơ.

Qua đây ta thấy được tâm hồn trong sáng, hồn nhiên của một em nhỏ nhất là tình cảm quý trọng yêu thương đối với bà của đứa cháu.

Câu 3 – Trang 151 SGK

Em cảm nhận được gì về hình ảnh người bà và tình cảm bà cháu được thể hiện trong bài thơ?

Hình ảnh người bà và tình cảm bà cháu được thể hiện trong bài thơ:

– Tần tảo, chắt chiu trong cảnh nghèo: Tay bà khum soi trứng/ Dành từng quả chắt chiu

– Dành trọn vẹn tình yêu thương chăm lo cho cháu: dành dụm, chi chút để cuối năm bán gà, cháu được quần áo mới.

– Bảo ban, nhắc nhở cháu, ngay cả khi có trách mắng thì cũng là vì tình yêu thương cháu.

⟹ Qua những kỉ niệm về bà, tác giả đã biểu hiện tình bà cháu thật sâu nặng, thắm thiết. Bà chắt chiu, chăm lo cho cháu; cháu thương yêu, kính trọng và biết ơn bà.

4 – Trang 151 SGK

Bài thơ làm theo thể 5 tiếng, nhưng có những chỗ biến đối khá linh hoạt. Em có nhận xét gì về cách gieo vần, về số câu thơ trong mỗi khổ?

Câu thơ “Tiếng gà trưa” được lặp lại nhiều lần trong bài ở những vị trí nào và có tác dụng ra sao?

– Thường mỗi khổ trong một bài ngũ ngôn có 4 câu nhưng bài này chỉ có ba khổ 4 câu, các khổ khác có đến 5 hoặc sáu câu, riêng khổ thứ nhất có đến 7 câu.

– Cách gieo vần trong bài thơ cũng rất linh hoạt. Phần lớn vần trong bài thơ là vần cách, có khi không chú trọng đến việc đúng vần mà chỉ cần giữ âm điệu. Mực dù vậy, đọc bài thơ lên nghe vần thấy rất hài hoà trong mạch cảm xúc của tác giả.

– Các câu thơ trong bài đều gồm 5 tiếng, riêng câu thơ Tiếng gà trưa (lặp lại mở đầu các khổ thứ hai, thứ ba, thứ tư và thứ bảy) là chỉ có 3 tiếng. Đây là một cách để Xuân Quỳnh tạo nên điểm nhấn về cảm xúc. Sau mỗi câu thơ Tiếng gà trưa là tác giả lại nhớ về một hình ảnh, một kỉ niệm quen thuộc. Các câu thơ này giữ cho mạch cảm xúc của bài thơ liền mạch, khiến cho những kỉ niệm và hình ảnh thơ luôn da diết, nồng nàn.

LUYỆN TẬP

Cảm nghĩ của em về tình bà cháu trong bài thơ này.

Đoạn văn mẫu 1:

Đoạn văn mẫu 2:

Tình cảm bà cháu là tình cảm đẹp đẽ, thiêng liêng và vô cùng sâu nặng. Tình cảm đó đã hằn sâu trong kí ức tuổi thơ của người chiến sĩ. Do vậy, trên đường hành quân xa, chỉ một tiếng gà cục tác đã gợi dậy những kỉ niệm tuổi thơ đẹp đẽ, đáng nhớ về bà. Đó là sự chắt chiu, tần tảo với bao nỗi lo, bao niềm mong ước của bà với tình thương bao la dành cho cháu. Những kỉ niệm đó thật bình dị mà thiêng liêng! Nó nhắc nhở, lay động bao tình cảm đẹp dâng lên trong lòng người chiến sĩ trên đường hành quân ra mặt trận chiến đấu. Tình cảm tốt đẹp đó sẽ mãi là hành trang theo bước chân của người chiến sĩ, tiếp thêm sức mạnh cho anh trong cuộc chiến đấu hôm nay.

Bài soạn “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh số 2

Bài soạn “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh số 5

Trả lời câu 1 (trang 151 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):

Cảm hứng của tác giả trong bài thơ được khơi gợi từ tiếng gà buổi trưa, một âm thanh quen thuộc, bình dị mà tác giả nghe được trên đường hành quân.

* Mạch cảm xúc trong bài thơ được diễn biến:

Đi từ hiện tại – quá khứ – hiện tại.

Trả lời câu 2 (trang 151 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):

* Những hình ảnh và kỉ niệm trong tuổi thơ đã được gợi lại từ tiếng gà trưa:

– Hình ảnh những con gà mái mơ, mái vàng bên những ổ trứng hồng.

– Kỉ niệm một lần tò mò xem gà đẻ bị bà mắng.

– Hình ảnh bà đầy lòng yêu thương, chắt chiu từng quả trứng để có tiền mua cho cháu bộ quần áo mới.

* Biểu hiện tình cảm: tâm hồn trong sáng, hồn nhiên của một đứa trẻ nhỏ và tình cảm yêu quý, trân trọng của người bà dành cho đứa cháu.

Trả lời câu 3 (trang 151 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):

Cảm nhận về hình ảnh người bà và tình cảm bà cháu:

* Hình ảnh người bà:

– Bà hiện lên với hình ảnh tần tảo, chắt chiu.

– Bà lo lắng, sợ cháu bị lang mặt nên đã mắng cháu khi cháu nhìn gà đẻ.

– Bà lo sợ khi mùa đông đến bởi có thể đàn gà của bà không chịu được rét, nó sẽ chết và bà không có tiền mua quần áo cho cháu.

* Tình cảm bà cháu: thật sâu nặng, thiêng liêng tha thiết, không dễ gì quên được. Chính vì vậy, người cháu đi xa vẫn luôn luôn nhớ về những kỉ niệm đẹp đó.

Trả lời câu 4 (trang 151 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):

* Bài thơ làm theo thể 5 tiếng nhưng có những chỗ biến đổi khá linh hoạt.

– Thường mỗi khổ trong một bài ngũ ngôn có 4 câu nhưng khổ thứ nhất có đên 7 câu, các khổ khác có đến 5, 6 câu, chỉ có 3 khổ 4 câu.

– Cách gieo vần trong bài rất linh hoạt. Phần lớn là vần cách và có khi là không đúng vần nhưng âm điệu lại rất chuẩn.

⟹ Bài thơ rất hài hòa trong mạch cảm xúc của tác giả.

* Câu thơ “Tiếng gà trưa” được lặp lại nhiều lần trong bài ở mở đầu các khổ 2, 3, 4 và 7. Đây là một cách tạo điểm nhấn về cảm xúc. Chúng ta có thể thấy, sau mỗi tiếng gà trưa là một hình ảnh, kỉ niệm quen thuộc. Nó làm cho mạch cảm xúc của bài thơ được liền mạch, kỉ niệm và hình ảnh da diết và nồng nàn.

Cảm nghĩ của em về tình bà cháu trong bà thơ này:

– Đây là một tình cảm thiêng liêng, đẹp đẽ của bà và cháu:

+, Bà là người hiền hậu và luôn nghĩ cho đứa cháu bé bỏng của mình.

+, Bà tần tảo chắt chiu từng quả trứng để có thể chọn được quả trứng tốt cho gà mái ấp.

+, Bà cũng đã có lúc mắng cháu nhưng là vì bà lo cháu bị lang mặt.

– Tình bà cháu đẹp đẽ, thiêng liêng ấy đã làm sâu sắc thêm tình yêu quê hương, đất nước: tình yêu gia đình luôn gắn bó với máu thịt, với tình yêu quê hương, đất nước.

Bố cục

Bố cục: 3 đoạn

– Đoạn 1 (khổ 1): Tiếng gà khơi dậy kí ức tuổi thơ.

– Đoạn 3 (khổ 7, 8): Những suy nghĩ, giấc mơ người lính.

Nội dung chính

Cảm nhận được vẻ đẹp trong sáng, đằm thắm của những kỷ niệm về tuổi thơ và tình cảm bà cháu trong Tiếng gà trưa.

Bài soạn “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh số 2

Bài soạn “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh số 4

Bài soạn “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh số 2

I. Tác giả, tác phẩm

– Xuân Quỳnh (1942 – 1988) tên khai sinh là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh.- Quê quán: La Khê – thành phố Hà Đông – Hà Tây (nay thuộc Hà Nội).- Xuất thân trong một gia đình công chức, mẹ mất sớm, bố thường xuyên công tác xa gia đình, bà được bà nội nuôi dạy từ nhỏ đến khi trưởng thành.- Tháng 2 năm 1955, Xuân Quỳnh được tuyển vào Đoàn Văn công nhân dân Trung ương và được đào tạo thành diễn viên múa.- Bà đã nhiều lần đi biểu diễn ở nước ngoài và dự Đại hội thanh niên sinh viên thế giới năm 1959 tại Vienna (Áo).- Từ năm 1962 đến 1964, Xuân Quỳnh học Trường bồi dưỡng những người viết văn trẻ ( khoá I ) của Hội Nhà văn Việt Nam.- Sau khi học xong, làm việc tại báo Văn nghệ, báo Phụ nữ Việt nam.- Xuân Quỳnh là hội viên từ năm 1967, ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khoá III.- Năm 1973, Xuân Quỳnh kết hôn với nhà viết kịch, nhà thơ Lưu Quang Vũ, trước đó, Xuân Quỳnh kết hôn lần đầu tiên với một nhạc công của Đoàn Văn công nhân dân Trung ương và đã ly hôn.- Xuân Quỳnh mất ngày 29 tháng 8 năm 1988 trong một tai nạn giao thông tại đầu cầu Phú Lương, thị xã Hải Dương (nay là thành phố), tỉnh Hải Dương, cùng với chồng Lưu Quang Vũ và con trai Lưu Quỳnh Thơ mới 13 tuổi.2. Sự nghiệp sáng táca. Tác phẩm chính- Hoa dọc chiến hào (1968); Gió Lào cát trắng (1974) ; Tự hát (1984); Hoa cỏ may (1989),…b. Phong cách sáng tác- Thơ Xuân Quỳnh giàu cảm xúc với những cung bậc khác nhau như chính tính cách luôn hết mình của Xuân Quỳnh.- Thơ bà là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc đời thường.3. Vị trí và tầm ảnh hưởng của tác giả- Xuân Quỳnh là một trong số những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ.

4. Tác phẩm

Bài thơ Tiếng gà trưa là một bài thơ ngũ ngôn, được Xuân Quỳnh viết trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mĩ, được in lần đầu trong tập thơ Hoa dọc chiến hào (1968). Bài thơ đã gợi về những kỉ niệm đẹp đẽ của tuổi thơ, của tình bà cháu. Từ đó, nó khắc sâu hơn tình yêu đối với quê hương, với đất nước.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Cảm hứng của tác giả trong bài thơ được khơi gợi từ sự việc: trên đường hành quân xa, khi dừng chân nghỉ bên xóm nhỏ, người chiến sĩ nghe thấy tiếng gà nhà ai nhảy ổ.

Câu 2:

* Những hình ảnh và kỉ niệm trong tuổi thơ đã được gợi lại từ tiếng gà trưa là:

Câu 3:

* Tình cảm bà cháu: thật sâu nặng và thắm thiết. Bà thương cháu, luôn chắt chiu, dành dụm cho cháu. Còn người cháu thì luôn yêu thương, quý trọng và nhớ về bà. Khi xa quê, hình ảnh sâu đậm nhất trong tâm hồn người cháu chính là hình ảnh bà. Vì bà, vì quê hương, đất nước, đã tiếp thêm động lực cho cháu sẵn sàng cầm súng lên đường bảo vệ tổ quốc.

Câu 4:

Bài thơ được làm theo thể thơ 5 tiếng, nhưng có chỗ được biến đổi khá linh hoạt:

Đăng bởi: Liễu Đỗ

Từ khoá: 6 Bài soạn “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh lớp 7 hay nhất

Soạn Bài Câu Ghép Soạn Văn 8 Tập 1 Bài 11 (Trang 111)

Soạn bài Câu ghép

Soạn bài Câu ghép – Mẫu 1 I. Đặc điểm của câu ghép

Đọc đoạn trích trong SGK và trả lời câu hỏi:

1. Tìm các cụm C – V trong những câu in đậm.

a. Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

– Chủ ngữ: tôi, vị ngữ: quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

– Trong vị ngữ chính có chứa cụm chủ vị phụ: chủ ngữ là mấy cánh hoa tươi, vị ngữ là mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

b. Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp.

– Chủ ngữ: mẹ tôi, vị ngữ: âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp.

c. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học.

– Chủ ngữ 1: cảnh vật chung quanh tôi, vị ngữ 1: đều thay đổi

– Chủ ngữ 2: chính lòng tôi, vị ngữ 2: đang có sự thay đổi lớn

– Chủ ngữ 3: tôi, vị ngữ 3: đi học

2. Phân tích cấu tạo của câu có hai hay nhiều cụm C – V

– Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

Chủ ngữ: tôi, vị ngữ: quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

Trong vị ngữ chứa cụm chủ vị: chủ ngữ: mấy cánh hoa tươi, vị ngữ: mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

– Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học.

Chủ ngữ 1: cảnh vật chung quanh tôi, vị ngữ 1: đều thay đổi

Chủ ngữ 2: chính lòng tôi, vị ngữ 2: đang có sự thay đổi lớn

Chủ ngữ 3: tôi, vị ngữ 3: đi học

3. Trình bày kết quả phân tích ở hai bước trên vào bảng theo mẫu sau:

Kiểu cấu tạo câu

Câu cụ thể

Câu có một cụm C – V

Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp.

Câu có hai hoặc nhiều cụm C – V

Cụm C – V nhỏ nằm trong cụm C – V lớn

Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

Các cụm C – V không bao chứa nhau

Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học.

4. Dựa vào kiến thức đã học ở lớp dưới, hãy cho biết câu nào là câu đơn, câu nào là câu ghép.

– Câu đơn: a

– Câu ghép: c

Tổng kết:

– Câu ghép là câu do hai hoặc nhiều cụm C – V không bao chứa nhau tạo thành.

– Mỗi cụm C – V được gọi là một vế câu.

II. Cách nối các vế câu

1. Tìm thêm các câu ghép trong đoạn trích mục

Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết.

2. Trong mỗi câu ghép, các vế câu được nối với nhau bằng cách nào?

Các vế câu được nối bằng dấu phẩy.

3. Dựa vào những kiến thức đã học ở lớp dưới, hãy nêu thêm ví dụ về cách nối các vế câu ghép.

Một số ví dụ như:

– Sử dụng một quan hệ từ: Trời mưa nên tôi nghỉ học.

– Sử dụng một cặp quan hệ từ: Dù trời rất đẹp nhưng tôi vẫn không muốn đi chơi.

Tổng kết:

Có hai cách nối các vế câu:

– Dùng những từ có tác dụng nối. Cụ thể:

Nối bằng một quan hệ từ.

Nói bằng một cặp quan hệ từ

Nối bằng một cặp phó từ, đại từ hay chỉ từ thường đi đôi với nhau.

Khám Phá Thêm:

 

Mã bưu chính 63 tỉnh thành Việt Nam (Zip code, Postal code) Mã Zip code Việt Nam 2023

– Không dùng từ nối: giữa các vế câu thường có dấu phẩy, dấu chấm phẩm hoặc dấu hai chấm.

III. Luyện tập

a.

– Các câu ghép là:

U van Dần, u lạy Dần!

Chị con có đi, u mới có tiền nộp sưu, thầy Dần mới được về với Dần chứ!

Sáng nay người ta đánh trói thầy Dần như thế, Dần có thương không?

Nếu Dần không buông chị ra, chốc nữa ông lý vào đây, ông ấy trói nốt cả u, trói nốt cả Dần đấy.

– Các vế câu được nói bằng cách: không dùng từ nối (sử dụng dấu phẩy).

b.

– Câu 1:

Câu ghép: Cô tôi chưa dứt câu, cổ họng tôi đã nghẹn ứ, khóc không ra tiếng.

Các vế câu được nói bằng cách: không dùng từ nối (sử dụng dấu phẩy).

– Câu 2:

Câu ghép: Giá những cổ tục đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết định vồ lấy ngay mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi ( có dùng từ nối)

Các vế câu được nối bằng cách: sử dụng từ nối (giá… mà… mà…)

c.

– Câu ghép là: Tôi im lặng cúi đầu xuống đất: lòng tôi càng thắt lại, khóe mắt đã cay cay.

– Các vế câu được nói bằng cách: không dùng từ nối (sử dụng dấu hai chấm).

d.

– Các câu ghép là: Hắn làm nghề ăn trộm nên vốn không ưa lão Hạc bởi vì lương thiện quá

– Các vế câu được nối bằng cách: sử dụng từ nối (nên)

a. Vì tôi được học sinh giỏi nên bố đã mua cho tôi một chiếc cặp mới.

b. Nếu anh ta không học bài thì điểm thi sẽ rất thấp.

c. Tuy thời gian không còn nhiều nhưng tôi vẫn cố gắng làm nốt bài.

d. Không những trời mưa mà gió thổi rất to.

Câu 3. Chuyển những câu ghép em vừa đặt được thành những câu ghép mới bằng một trong hai cách.

a. Bỏ bớt quan hệ từ

b. Đảo trật tự các vế câu

Gợi ý:

a.

– Bỏ bớt quan hệ từ: Tôi được học sinh giỏi nên bố đã mua cho tôi một chiếc cặp mới.

– Đảo trật tự các vế câu: Bố đã mua cho tôi một chiếc cặp mới vì tôi được học sinh giỏi.

b.

– Bỏ bớt quan hệ từ: Anh ta không học bài thì điểm thi sẽ rất thấp.

– Đảo trật tự các vế câu: Điểm thi sẽ rất thấp nếu anh ta không học bài.

c.

– Bỏ bớt quan hệ từ: Thời gian không còn nhiều nhưng tôi vẫn cố gắng làm nốt bài.

– Đảo trật tự các vế câu: Tôi cố gắng làm nốt bài dù thời gian không còn nhiều.

d.

– Bỏ bớt quan hệ từ:Trời mưa mà gió thổi rất to.

– Đảo trật tự các vế câu: Gió thổi rất tô mà trời còn mưa.

a. Cả lớp chưa làm xong thì thời gian đã hết.

b. Anh ta ghét của nào trời trao của nấy.

c. Bọn giặc càng hung ác thì nhân dân càng khổ cực.

Câu 5. Viết một đoạn văn ngắn về một trong các đề tài sau (trong đoạn văn có sử dụng ít nhất là một câu ghép):

a. Thay đổi thói quen sử dụng bao bì ni lông.

b. Tác dụng của việc lập dàn ý trước khi viết bài tập làm văn.

Gợi ý:

a.

Việc sử dụng bao bì ni lông của con người đang gây nguy hiểm đến môi trường của Trái Đất. Chúng ta đã biết rằng bao bì ni lông có đặc tính không phân hủy của pla-xtíc. Hàng năm, có hàng triệu tấn bao bì ni lông được thải ra môi trường. Chúng đã cản trở quá trình sinh trưởng của thực vật bị nó bao quanh, sự phát triển của cỏ gây xói mòn đất ở đồi núi. Những bao ni lông bị vứt xuống cống làm tắc các đường dẫn nước thải, làm tăng khả năng ngập lụt vào mùa mưa. Cống rãnh bị tắc tạo thuận lợi cho muỗi phát triển – lan truyền dịch bệnh… Bao ni lông màu đựng thực phẩm có chứa kim loại chì, ca-đi-mi sẽ gây nguy hại đến não, ung thư phổi. Đặc biệt là khi đốt sẽ tạo ra các loại khí độc, khi con người hít phải sẽ gây khó thở, nôn ra máu, ảnh hưởng đến nội tiết… Không những môi trường bị ô nhiễm mà sức khỏe của con người cũng bị tổn hại. Chính vì vậy, chúng ta hãy hạn chế tối đa việc sử dụng bao bì ni lông.

b.

Khi học sinh viết một bài tập làm văn, việc lập dàn ý sẽ đem đến nhiều lợi ích. Trước hết, lập dàn ý giúp chúng ta sắp xếp lại được những nội dung chính của bài viết. Từ đó chúng ta có thể phát hiện ra những nội dung còn thiếu, sửa lại những nội dung thừa hay sai. Và quan trọng nhất người viết có thể sắp xếp lại các ý theo một bố cục hợp lý. Một bài viết hay thì bố cục phải mạch lạc, rõ ràng. Chính vì vậy, việc lập dàn ý vô cùng quan trọng khi viết văn.

Các câu ghép là:

– Đoạn a: Không những môi trường bị ô nhiễm mà sức khỏe của con người cũng bị tổn hại.

– Đoạn b: Một bài viết hay thì bố cục phải mạch lạc, rõ ràng.

IV. Bài tập ôn luyện

Câu 1. Xác định câu ghép trong các đoạn văn sau:

“Cai lệ tát vào mặt chị một cái bốp, rồi hắn cứ nhảy vào cạnh anh Dậu, Chị Dậu nghiến hai hàm răng:

– Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem!

Rồi chị túm lấy cổ hắn, ấn dúi ra cửa. Sức lẻo khoẻo của anh chàng nghiện chạy không kịp với sức xô đẩy của người đàn bà lực điền, hắn ngã chỏng quèo trên mặt đất, miệng vẫn nham nhảm thét trói vợ chồng kẻ thiếu sưu…”

(Tức nước vỡ bờ, Ngô Tất Tố)

Câu 2. Chuyển đối vế câu trong các câu ghép sau đây:

a. Vì đường trơn nên xe cộ đi lại rất khó khăn.

b. Do chúng tôi chăm sóc cẩn thận nên những hàng cây đều xanh tốt.

c. Dù cô ấy không xinh đẹp nhưng mọi người lại rất yêu mến.

d. Nếu mưa lũ kéo dài thì đường có khả năng cao sẽ bị sụt lún.

Gợi ý:

Câu 1. Các câu ghép là:

– Cai lệ tát vào mặt chị một cái bốp, rồi hắn cứ nhảy vào cạnh anh Dậu, Chị Dậu nghiến hai hàm răng.

– Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem!

Câu 2.

a. Xe cộ đi lại rất khó khăn vì đường rất trơn.

b. Những hàng cây đều xanh tốt nhờ có sự chăm sóc cẩn thận của chúng tôi.

c. Mọi người rất yêu mến tuy cô ấy không xinh đẹp.

d. Đường có khả năng cao sẽ bị sụt lún do mưa lũ kéo dài.

Soạn bài Câu ghép – Mẫu 2 I. Luyện tập

a.

– Các câu ghép:

U van Dần, u lạy Dần!

Chị con có đi, u mới có tiền nộp sưu, thầy Dần mới được về với Dần chứ!

Sáng nay người ta đánh trói thầy Dần như thế, Dần có thương không?

Nếu Dần không buông chị ra, chốc nữa ông lý vào đây, ông ấy trói nốt cả u, trói nốt cả Dần đấy.

– Các vế câu được nói bằng cách: không dùng từ nối (sử dụng dấu phẩy).

b.

– Câu 1:

Câu ghép: Cô tôi chưa dứt câu, cổ họng tôi đã nghẹn ứ, khóc không ra tiếng.

Các vế câu được nói bằng cách: không dùng từ nối (sử dụng dấu phẩy).

– Câu 2:

Câu ghép: Giá những cổ tục đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết định vồ lấy ngay mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi ( có dùng từ nối)

Các vế câu được nối bằng cách: sử dụng từ nối (giá… mà… mà…)

c.

– Câu ghép: Tôi im lặng cúi đầu xuống đất: lòng tôi càng thắt lại, khóe mắt đã cay cay.

– Các vế câu được nói bằng cách: không dùng từ nối (sử dụng dấu hai chấm).

d.

– Các câu ghép là: Hắn làm nghề ăn trộm nên vốn không ưa lão Hạc bởi vì lương thiện quá

– Các vế câu được nối bằng cách: sử dụng từ nối (nên)

a. Vì thời tiết rất xấu nên chúng tôi được nghỉ học.

b. Nếu cô ta không đến thì tôi sẽ trở về nhà.

c. Tuy chúng tôi đã cố gắng hết sức nhưng kết quả vẫn không được tốt.

d. Không những nắng gắt mà còn rất nóng bức.

Câu 3. Chuyển những câu ghép em vừa đặt được thành những câu ghép mới bằng một trong hai cách.

a. Bỏ bớt quan hệ từ

b. Đảo trật tự các vế câu

Gợi ý:

a.

Bỏ bớt quan hệ từ: Tôi được học sinh giỏi nên bố đã mua cho tôi một chiếc cặp mới.

Đảo trật tự các vế câu: Bố đã mua cho tôi một chiếc cặp mới vì tôi được học sinh giỏi.

b.

Bỏ bớt quan hệ từ: Anh ta không học bài thì điểm thi sẽ rất thấp.

Đảo trật tự các vế câu: Điểm thi sẽ rất thấp nếu anh ta không học bài.

c.

Bỏ bớt quan hệ từ: Thời gian không còn nhiều nhưng tôi vẫn cố gắng làm nốt bài.

Đảo trật tự các vế câu: Tôi cố gắng làm nốt bài dù thời gian không còn nhiều.

d.

Bỏ bớt quan hệ từ: Trời mưa mà gió thổi rất to.

Đảo trật tự các vế câu: Gió thổi rất tô mà trời còn mưa.

a. Tôi vừa dọn dẹp sạch sẽ thì cậu đã bày ra.

b. Tôi chỉ tới đâu, cậu ta chạy tới đấy.

c. Chúng tôi càng cố gắng, kết quả càng tốt hơn.

Câu 5. Viết một đoạn văn ngắn về một trong các đề tài sau (trong đoạn văn có sử dụng ít nhất là một câu ghép):

a. Thay đổi thói quen sử dụng bao bì ni lông.

b. Tác dụng của việc lập dàn ý trước khi viết bài tập làm văn.

Gợi ý:

a.

Sử dụng bao bì ni lông sẽ gây nguy hiểm đến môi trường của Trái Đất. Bao bì ni lông có đặc tính không phân hủy của pla-xtíc. Hàng năm, có hàng triệu tấn bao bì ni lông được thải ra môi trường gây trở quá trình sinh trưởng của thực vật bị nó bao quanh, sự phát triển của cỏ gây xói mòn đất ở đồi núi. Bao ni lông bị vứt xuống cống còn làm tắc các đường dẫn nước thải, làm tăng khả năng ngập lụt vào mùa mưa. Cống rãnh bị tắc tạo thuận lợi cho muỗi phát triển – lan truyền dịch bệnh… Bao ni lông màu đựng thực phẩm có chứa kim loại chì, ca-đi-mi sẽ gây nguy hại đến não, ung thư phổi. Đặc biệt là khi đốt sẽ tạo ra các loại khí độc, khi con người hít phải sẽ gây khó thở, nôn ra máu, ảnh hưởng đến nội tiết… Môi trường bị ô nhiễm, sức khỏe của con người cũng bị tổn hại. Con người cần hạn chế tối đa việc sử dụng bao bì ni lông.

b.

Việc lập dàn ý sẽ đem đến nhiều lợi ích. Đầu tiên, lập dàn ý giúp người viết sắp xếp lại được những nội dung chính của bài viết. Tiếp đó, chúng ta có thể phát hiện ra những nội dung còn thiếu, sửa lại những nội dung thừa hay sai. Cuối cùng dàn ý giúp người viết có thể sắp xếp lại các ý theo một bố cục hợp lý. Một bài viết hay thì bố cục phải mạch lạc, rõ ràng. Lập dàn ý là một bước quan trọng khi viết một bài văn, bởi vậy người viết cần chú trọng bước này.

Các câu ghép là:

– Đoạn a: Môi trường bị ô nhiễm, sức khỏe của con người cũng bị tổn hại

– Đoạn b: Lập dàn ý là một bước quan trọng khi viết một bài văn, bởi vậy người viết cần chú trọng bước này.

II. Bài tập ôn luyện

Viết đoạn văn về có câu ghép từ cặp quan hệ từ “vì… nên…”.

Gợi ý:

Sau nhiều năm xa nhà, ông Sáu được đơn vị cho về thăm vợ con. Vì vết sẹo dài trên má nên bé Thu đã không nhận ra cha. Điều đó khiến ông Sáu rất buồn bã trước sự lạnh nhạt của con gái. Trong ba ngày ở nhà, nếu ông Sáu luôn tìm cách để con gọi mình là ba, thì bé Thu lại lẩn tránh. Sau khi được bà ngoại giải thích về vết sẹo, bé Thu nhận ra ba. Cuộc chia tay của hai cha con diễn ra đầy xúc động. Sau này, ông Sáu hy sinh trong một trận càn của giặc, lúc hấp hối, ông trao cho anh Ba chiếc lược ngà mà ông làm tặng bé Thu.

6 Bài Soạn “Rừng Xà Nu” Của Nguyễn Trung Thành Lớp 12 Hay Nhất

Truyện ngắn “Rừng xà nu” là tác phẩm nổi tiếng nhất của nhà văn Nguyễn Trung Thành viết năm 1965 – những năm tháng kháng chiến chống Mỹ ác liệt. Thông qua câu chuyện về những con người ở một bản làng hẻo lánh, bên những cánh rừng xà nu bạt ngàn, xanh bất tận, tác giả đặt vấn đề có ý nghĩa lớn lao đối với dân tộc và thời đại: để cho sự sống của nhân dân và đất nước mãi mãi trường tồn không còn cách nào khác là phải cùng nhau đứng lên, cầm vũ khí chống lại kẻ thù tàn ác. Mời các bạn đọc tham khảo một số bài soạn “Rừng xà nu” hay nhất mà chúng mình đã tổng hợp trong bài viết sau.

Bài soạn “Rừng xà nu” số 2

Câu 1 (trang 38 SGK Ngữ văn 12 tập 2)

* Ý nghĩa truyện qua:

a. Nhan đề Rừng xà nu :

+ Ý nghĩa tả thực: Nhà văn nói về cây xà nu – một loài cây sống thành rừng ở Tây Nguyên. Loài cây này có sức sống mãnh liệt, không chịu khuất phục trước sự thay đổi của thời tiết.

+ Ý nghĩa biểu tượng: Qua sức sống mãnh liệt của cây xà nu, rừng xà nu, nhà văn nói đến nỗi đau và sức sống, phẩm chất kiên cường bất khuất của nhân dân Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

b. Hình tượng rừng xà nu dưới tầm đại bác.

– Mở đầu tác phẩm, nhà văn tập trung giới thiệu về rừng xà nu, một rừng xà nu cụ thể được xác định đó: “Nằm trong tầm đại bác của đồn giặc”, “hầu hết đại bác đều rơi vào đồi xà nu cạnh con nước lớn”.

– Nguyễn Trung Thành đã phát hiện ra: “cả rừng xà nu hàng vạn cây không cây nào là không bị thương”. Tác giả đã chứng kiến nỗi đau của xà nu.

– Sức sống mãnh liệt của cây xà nu.

– Xà nu không những tự biết bảo vệ mình mà còn bảo vệ sự sống, bảo vệ làng Xô man.

c. Hình ảnh đồi xà nu, rừng xà nu “trông xa xa đến ngút tầm mắt”, “nối tiếp tới chân trời”, lặp đi lặp lại trong truyện gợi ra cảnh rừng xà nu hùng tráng, kiêu dũng và bất diệt như người Tây Nguyên nói riêng và con người Việt Nam nói chung trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước vĩ đại.

– Ngợi ca sức sống mãnh liệt, không gì có thể hủy diệt của cây xà nu Tây Nguyên

Câu 2 (trang 48 SGK Ngữ văn 12 tập 2)

a.

* Những phẩm chất tốt đẹp của Tnú:

– Lúc còn bé Tnú đã là con người gan góc, dũng cảm, mưu trí :

– Khi trưởng thành, Tnú có một trái tim yêu thương và sục sôi căm thù giặc. Anh sống rất nghĩa tình và luôn mang trong tim ba mối thù: của bản thân, của gia đình, của buôn làng.

– Người chiến sĩ, người cán bộ có tinh thần kỷ luật cao.

* Điểm mới của nhân vật Tnú so với nhân vật A Phủ

– Tnú giác ngộ cách mạng từ nhỏ, con đường tranh đấu của Tnú là con đường tự giác và có ý thức rõ ràng trong khi con đường của A Phủ là con đường tự phát.

– Trong Tnú chứa đựng chân lí đấu tranh của thời đại: dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng.

b. Câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú: “Tnú không cứu được vợ con”. Cụ Mết nhắc tới bốn lần để nhấn mạnh: khi chưa cầm vũ khí, Tnú chỉ có hai bàn tay không thì ngay cả những người thương yêu nhất Tnú cũng không cứu được. Câu nói của cụ Mết muốn khẳng định: chỉ có cầm vũ khí đứng lên mới là con đường sống duy nhất, mới bảo vệ được những gì thân yêu, thiêng liêng nhất.

c. Câu chuyện của Tnú và dân làng Xô Man phản ánh chân lí thời đại: Phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng. Cụ Mết muốn chân lí đó phải được truyền cho con cháu bởi chân lí ấy đã được đúc kết từ biết bao xương máu, mất mát của dân làng và vì đó là con đường duy nhất để bảo vệ buôn làng, quê hương.d. Vai trò của các nhân vật:

– Nhân vật cụ Mết

+ Cụ Mết tiêu biểu cho truyền thống của làng Xô-man. Cụ là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, là pho sử sống của làng.

+ Cụ Mết là linh hồn của làng Xô-man. Chính cụ đã lãnh đạo dân làng đồng khởi.

– Nhân vật Mai, Dít: tiêu biểu cho những cô gái Tây Nguyên thời chống Mĩ, trưởng thành từ những đau thương và quật khởi của dân làng.

– Nhân vật bé Heng: Bé Heng là thế hệ tiếp nối, kế tục cha anh để đưa cuộc chiến tới thắng lợi cuối cùng.

Câu 3 (trang 49 SGK Ngữ văn 12 tập 2)

* Hình ảnh rừng xà nu và nhân vật Tnú có mối quan hệ gắn bó khăng khít:

– Xà nu gắn bó với Tnú từ thời thơ ấu (khói xà nu hun tấm bảng đen để học chữ).

– Xà nu ở bên Tnú trong những biến cố đau đớn, những bài học xương máu (nhựa xà nu cháy trên mười đầu ngón tay Tnú, chứng kiến Tnú không cứu được vợ con).

Câu 4 (trang 49 SGK Ngữ văn 12 tập 2)

* Nghệ thuật

– Đậm đà chất sử thi hùng tráng.

– Bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, hoành tráng.

– Các nhân vật vừa mang đậm dấu ấn con người Tây Nguyên vừa mang phẩm chất của anh hùng thời đại

– Kết cấu vòng tròn.

– Cách trần thuật.

– Giọng kể trang trọng.

Luyện tập

Câu 2 (trang 49 SGK Ngữ văn 12 tập 2)

* Đôi bàn tay Tnú có nhiều ý nghĩa.

– Đó là đôi bàn tay của người trung thành, thủy chung với cách mạng.

– Đôi bàn tay của nghĩa tình.

– Đôi bàn tay là hiện thân của mất mát đau thương, ghi lại chứng tích tội ác mà kẻ thù đã gây ra.

– Cuối cùng đó là bàn tay cầm vũ khí chiến thắng kẻ thù, đôi bàn tay của ý chí quật cường, tinh thần dũng cảm, bất khuất của người cộng sản.

Tóm tắt

Sau ba năm tham gia lực lượng cách mạng, Tnú được về thăm làng. Trong đêm ấy, cụ Mết kể lại cho dân làng nghe về câu chuyện của Tnú. Tnú mồ côi từ nhỏ, được dân làng nuôi lớn và sớm tiếp nối tinh thần cách mạng. Tnú tham gia nuôi giấu chiến sĩ cách mạng và làm liên lạc. Tnú vốn là một cậu bé thông minh, can đảm và gan dạ: “chọn nơi rừng khó đi, nơi sông khó qua” để tránh kẻ thù. Lúc bị bắt dám thách thức quân giặc “nuốt vội lá thư và chỉ tay vào bụng mình”. Tnú bị bắt, bị tra tấn dã man nhưng nhất định không khai. Sau khi ra tù, Tnú về làng cưới Mai và cùng dân làng chuẩn bị chiến đấu. Nghe tin đó, thằng Dục – tay sai của chính quyền Mỹ – Diệm đưa lính đến đàn áp. Không bắt được Tnú chúng đem vợ con anh ra đánh đập đến hết. Tnú đau xót xông ra nhưng không cứu được vợ con mà còn bị chúng thiêu đốt mười đầu ngón tay bằng nhựa cây xà nu. Trong khi đó cụ Mết cùng dân làng mang vũ khí cất giấu trong rừng trở về và chiến đấu thắng lợi. Tnú gia nhập giải phóng quân và chiến đấu dũng cảm nên được cấp phép về thăm làng. Cụ Mết tự hào kể về anh cũng như nhắc nhở bài học xương máu: ”Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Cuối truyện là hình ảnh cụ Mết và Dít tiễn Tnú về đơn vị, xa xa là những rừng xà nu, đồi xà nu bạt ngàn, chạy tít tắp đến chân trời.

Bố cục:

Bố cục (2 phần)

– Phần 1 (phần chữ nhỏ): Tnú sau ba năm theo cách mạng giờ về thăm làng.

– Phần 2 (còn lại): cụ Mết kể câu chuyện về cuộc đời của Tnú và người dân làng Xô Man.

Nội dung chính

Rừng xà nu là một thiên truyện mang ý nghĩa và vẻ đẹp của một khúc sử thi trong văn xuôi trong văn xuôi hiện đại. Tác phẩm tái hiện vẻ đẹp tráng lệ, hào hùng của núi rừng, của con người và của truyền thống văn hóa Tây Nguyên.

Bài soạn “Rừng xà nu” số 2

Bài soạn “Rừng xà nu” số 6

Bài soạn “Rừng xà nu” số 2Bài soạn “Rừng xà nu” số 2

1. Tác giả

– Nguyễn Trung Thành (bút danh khác là Nguyên Ngọc) sinh năm 1932, quê ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.

– Năm 1950 ông vào bộ đội, sau đó làm phóng viên báo Quân đội nhân dân Liên khu V.

– Những năm tháng lăn lộn trong cuộc kháng chiến chống Pháp ở Liên khu V đã giúp ông hiểu biết sâu sắc về Tây Nguyên, để sau khi tập kết ra Bắc có thể viết cuốn tiểu thuyết đầu tay Đất nước đứng lên (tác phẩm được tặng giải Nhất – Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955).

– Sau năm 1954, ông còn có những sáng tác phục vụ công cuộc xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc, như tập truyện ngắn Rẻo cao (1961).

– Năm 1962, ông tình nguyện trở về chiến trường miền Nam, hoạt động ở Quảng Nam và Tây Nguyên.

– Với bút danh Nguyễn Trung Thành, ông đã viết nhiều tác phẩm có tiếng vang lớn trong đời sống lúc bấy giờ, như tập truyện và kí Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc (1969) và tiểu thuyết Đất Quảng (1971 – 1974).

– Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, ông tiếp tục cống hiến cho phong trào văn nghệ của nước nhà. Ông từng là Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Tổng biên tập báo Văn nghệ.

2. Tác phẩm

– Truyện ngắn Rừng xà nu được viết năm 1965 (ra mắt lần đầu tiên trên tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng Trung Trung Bộ số 2/1965, sau đó in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc) là tác phẩm nổi tiếng nhất trong số các sáng tác của Nguyên Ngọc viết trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mĩ.

– Nội dung: Truyện mang âm hưởng sử thi hùng tráng, thông qua việc miêu tả sức sống mãnh liệt của cây xà nu và người dân Xô-man để khắc hoạ hình ảnh Tây Nguyên anh hùng, bất khuất một lòng đi theo Đảng, thể hiện thành công chủ nghĩa anh hùng Cách mạng Việt Nam.

– Bố cục:

+ Phần 1 (phần chữ nhỏ): Tnú sau ba năm theo cách mạng giờ về thăm làng

+ Phần 2 (còn lại): cụ Mết kể câu chuyện về cuộc đời của Tnú và người dân làng Xô Man

Đọc – hiểu văn bản

1 – Trang 48 SGK

Anh (chị) cảm nhận được ý nghĩa gì của truyện ngắn qua:

a) Nhan đề tác phẩm.

b) Đoạn văn miêu tả cánh rừng xà nu dưới tầm đại bác.

c) Hình ảnh những ngọn đồi, cánh rừng xà nu trải xa hút tầm mắt, chạy tít tắp đến tận chân trời luôn trở đi trở lại trong tác phẩm.

Trả lời:

a) Ý nghĩa nhan đề tác phẩm

Nhà văn có thể đặt rất nhiều cái tên khác nhau cho tác phẩm của mình, chẳng hạn: Làng Xô man; Tnú; những con người bất khuất… Tuy nhiên, cuối cùng tác giả đã lựa chọn đặt tên cho tác phẩm là Rừng xà nu với mong muốn sáng tạo một hình tượng mang tính sử thi nói về người Tây Nguyên kiên cường. Bởi rừng xà nu rất gần gũi với người Tây Nguyên và có nhiều chi tiết giống với con người nơi đây nên có thể đại diện cho đồng bào Tây Nguyên, cũng như gợi ra chất Tây Nguyên.

b) Hình tượng rừng xà nu dưới tầm đại bác

– Mở đầu tác phẩm, nhà văn tập trung giới thiệu về rừng xà nu, một rừng xà nu cụ thể được xác định: “Nằm trong tầm đại bác của đồn giặc”, “hầu hết đại bác đều rơi vào đồi xà nu cạnh con nước lớn”.

– Nguyễn Trung Thành đã phát hiện ra: “cả rừng xà nu hàng vạn cây không cây nào là không bị thương”. Tác giả đã chứng kiến nỗi đau của xà nu: “có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình đổ ào ào như một trận bão”, “có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người bị đạn đại bác chặt đứt làm đôi, ở những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn lỏng, vết thương không lành được cứ loét mãi ra, năm mười hôm sau thì cây chết”.

– Nhưng tác giả đã phát hiện được sức sống mãnh liệt của cây xà nu: “trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khoẻ như vậy”.

– Xà nu không những tự biết bảo vệ mình mà còn bảo vệ sự sống, bảo vệ làng Xô man: “Cứ thế hai ba năm nay, rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn ra che chở cho làng”.

– Khi miêu tả rừng xà nu, cây xà nu, nhà văn đã sử dụng biện pháp ẩn dụ, nhân hoá như một phép tu từ chủ đạo, ông luôn lấy nỗi đau của vẻ đẹp của con người làm chuẩn mực để nói về xà nu khiến xà nu trở thành một ẩn dụ cho con người, một biểu tượng của con người Tây Nguyên bất khuất, kiên cường.

Các thế hệ con người làng Xô man cũng tương ứng với các thế hệ cây xà nu. Cụ Mết có bộ ngực “căn như một cây xà nu lớn”, tay “sần sùi như vỏ cây xà nu”. Cụ Mết chính là cây xà nu cổ thụ hội tụ tất cả sức mạnh của rừng xà nu. Tnú cường tráng như một cây xà nu được luyện trong đau thương đã trưởng thành mà không đại bác nào giết nổi. Dít trưởng thành trong thử thách với bản lĩnh và nghị lực phi thường cũng giống như xà nu phóng lên rất nhanh tiếp lấy ánh mặt trời. Cậu bé Heng là mầm xà nu đang được các thế hệ xà nu trao cho những tố chất cần thiết để sẵn sàng thay thế trong cuộc chiến cam go còn có thể phải kéo dài “năm năm, mười năm hoặc lâu hơn nữa”.

c) Hình ảnh đồi xà nu, rừng xà nu “trông xa xa đến ngút tầm mắt”, “nối tiếp tới chân trời”, lặp đi lặp lại trong truyện gợi ra cảnh rừng xà nu hùng tráng, kiêu dũng và bất diệt, gợi ra sự bất diệt, kiêu dũng của con người Tây Nguyên nói riêng và con người Việt Nam nói chung trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước vĩ đại. Ấn tượng đọng lại trong kí ức người đọc chính là cái bát ngát của cánh rừng xà nu kiêu dũng. Đó là chất sử thi, chất anh hùng về tinh thần quật khởi của đồng bào Tây Nguyên.

2 – Trang 48 SGK

Tác giả vẫn coi “Rừng xà nu là truyện của một đời và được kể trong một đêm”. Hãy cho biết:

a) Người anh hùng mà cụ Mết kể trong cái đêm ấy có những phẩm chất đáng quý nào? So với nhân vật A Phủ (trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài) hình tượng Tnú có gì mới mẻ hơn?

b) Vì sao trong câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú, cụ Mết nhắc đi nhắc lại rằng Tnú đã không cứu sống được vợ con, để rồi khắc ghi vào tâm trí của người nghe câu nói: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”?

c) Câu chuyện của Tnú cũng như của dân làng Xô Man nói lên chân lí lớn nào của dân tộc ta trong thời đại bấy giờ? Vì sao cụ Mết muốn chân lí đó phải được nhớ, được ghi để truyền cho con cháu?

d) Các hình tượng cụ Mết, Mai, Dít, bé Heng có vai trò gì trong việc khắc họa nhân vật chính và làm nổi bật tư tưởng cơ bản của tác phẩm?

a) Phẩm chất, tính cách của người anh hùng Tnú:

– Gan góc, táo bạo, dũng cảm, trung thực (khi còn nhỏ cùng Mai vào rừng tiếp tế cho anh Quyết).

– Lòng trung thành với cách mạng được bộc lộ qua thử thách (bị giặc bắt, tra tấn, lưng Tnú ngang dọc vết dao chém của kẻ thù nhưng anh vẫn gan góc, trung thành).

– Số phận đau thương: Không cứu được vợ con, bản thân bị bắt, bị tra tấn (bị đốt mười đầu ngón tay).

– Quật khởi đứng dậy cầm vũ khí tiêu diệt bọn ác ôn.

b) Câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú: “Tnú không cứu được vợ con”. Cụ Mết nhắc tới bốn lần đế nhấn mạnh: khi chưa cầm vũ khí, Tnú chỉ có hai bàn tay không thì ngay cả những người yêu thương nhất Tnú cũng không cứu được. Câu nói của cụ Mết muốn khẳng định: chỉ có cầm vũ khí đứng lên mới là con đường sống duy nhất, mới bảo vệ được những gì thân yêu, thiêng liêng nhất; chân lí cách mạng đúc rút từ chính thực tế máu xương, tính mạng của dân tộc, những con người thương yêu nên chân lí ấy phải ghi tạc vào xương cốt, tâm khảm và truyền lại cho các thế hệ tiếp nối.

c) Chân lí được thể hiện qua câu chuyện:

Câu chuyện Tnú với dân làng Xô man nói lên chân lí lớn của thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Phải chống lại mọi kẻ thù xâm lược, kể cả phải cầm vũ khí và hi sinh tính mạng.

– Cụ Mết, Mai, Dít, bé Heng là sự tiếp nối các thế hệ làm nổi bật tinh thần bất khuất của làng Xô man nói riêng, của Tây Nguyên nói chung.

– Cụ Mết: “quắc thước như một cây xà nu lớn” là hiện thân cho truyền thống thiêng liêng, biểu tượng cho sức mạnh tập hợp để nổi dậy đồng khởi.

– Mai, Dít là thế hệ hiện tại, trong Dít có Mai của thời trước và có Dít của hôm nay. Vẻ đẹp của Dít là vẻ đẹp của sự kiên định, vững vàng trong bão táp chiến tranh.

– Bé Heng là thế hệ tiếp nối, kế tục cha anh để đưa cuộc chiến tới thắng lợi cuối cùng.

3 – Trang 49 SGK

Theo anh (chị), hình ảnh cánh rừng xà nu và hình tượng nhân vật Tnú gắn kết hữu cơ, khăng khít với nhau như thế nào?

Hình ảnh cánh rừng xa nu và hình tượng nhân vật Tnú gắn kết khăng khít với nhau. Tnú lớn lên trong những cánh rừng xà nu, làm cách mạng, liên lạc băng qua những rừng xà nu, khi giặc đốt 10 đầu ngón tay Tnú, chúng đã tẩm nhựa xà nu để lửa cháy mạnh hơn. Nhưng Tnú vẫn đứng dậy, vẫn bền gan, dũng mãnh chống lại kẻ thù. Nhà văn muốn dùng rừng xà nu làm biểu tượng cho tinh thần gan góc, dạn dày, bất khuất, trung kiên… của nhân vật Tnú và dân làng Xô Man.

4 – Trang 49 SGK

Nêu và phân tích những cảm nhận của anh chị về vẻ đẹp nghệ thuật của tác phẩm.

Những vẻ đẹp nghệ thuật của tác phẩm:

– Đề tài có ý nghĩa lịch sử: sự vùng dậy của dân làng Xô man chống lại chế độ Mỹ Diệm.

– Bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, hoành tráng mang đậm tính sử thi. Rừng xà nu cũng mang dáng dấp sử thi (Cả rừng … ào ào rung động, lửa cháy khắp rừng).

– Các nhân vật tiêu biểu được miêu tả trong bối cảnh trang nghiêm, hùng vĩ, vừa mang phong cách Tây Nguyên vừa mang phẩm chất của anh hùng thời đại: Tnú, cụ Mết, Dít, Mai.

– Cách thức trần thuật: kể theo hồi tưởng qua lời của cụ Mết (già làng), kể bên bếp lửa gợi nhớ lối kể “khan” sử thi của các dân tộc Tây Nguyên, những bài “khan” được kể như những bài hát dài hát suốt đêm.

– Cảm hứng lãng mạn: tính lãng mạn thể hiện ở cảm xúc của tác giả bộc lộ trong lời trần thuật, thể hiện ở việc đề cao vẻ đẹp của thiên nhiên và con người trong thế đối lập với sự tàn bạo của kẻ thù.

Yêu cầu: Viết một đoạn văn phát biểu suy nghĩ và cảm xúc của anh (chị) về hình ảnh đôi bàn tay Tnú.

Có thể tham khảo các ý chính sau để triển khai cho bài viết:

– Hoàn cảnh nào dẫn tới việc Tnú bị đốt mười đầu ngón tay? (tóm tắt câu chuyện)

– Suy nghĩ cảm xúc của em đối với việc Tnú bị đốt mười đầu ngón tay?

+ Về tội ác của giặc (thằng Dục và đồng bọn tra tấn con người theo lối trung cổ)

+ Về tinh thần bất khuất của người anh hùng Tnú.

– Vì sao Tnú lại có phẩm chất anh hùng, bất khuất? (nêu lí tưởng lớn của dân tộc trong kháng chiến chống Mĩ thể hiện qua cách nói của các nhân vật trong truyện).

Hình ảnh đôi bàn tay của Tnú mang đến những ấn tượng rất lớn trong lòng người đọc bởi nó mang nhiều lớp ý nghĩa.

Có thể nói đôi bàn tay ấy cũng có một cuộc đời, cuộc đời ấy giống như cuộc đời của Tnú vậy. Cũng có những lúc anh hùng nhưng cũng phải chịu nhiều đau thương mất mát. Thế nhưng đến cuối cùng, bàn tay ấy cũng giết chết biết bao nhiêu kẻ thù để báo thù cho tất cả những đau thương mà nó cũng như chủ nhân nó phải chịu. Trước hết, đó là một bàn tay lành lặn. Bàn tay ấy đã cùng với Mai học chữ trong rừng. Bàn tay ấy đã nhanh nhẹn cầm những thư liên lạc vượt qua mọi gian nan và những vòng vây của giặc để mang đến cho những người cán bộ trong rừng. Qua đây ta thấy hình ảnh đôi bàn tay của Tnú hiện lên thật sự rất đẹp, rất chắc chắn khi cầm thư và đồ tiếp tế. Một bàn tay nhỏ nhắn như vậy mà có thể cầm biết bao nhiêu đồ, quả thật rất đáng khen. Không những thế ta còn thấy được một người anh hùng Tnú tuy bé nhỏ nhưng đã mang sẵn bản chất anh hùng, bản chất sử thi. Bàn tay ấy không chỉ vậy mà còn gan góc cầm đá đập vào đầu của Tnú khi học không cho được cái chữ vào đầu. Theo như anh Quyết nói thì phải học cái chữ để có thể trở thành cán bộ được. Chính vì thế mà khi không học được, học chữ này thì quên mất chữ kia đôi bàn tay cầm lấy đá đập đầu khiến cho máu chảy ròng ròng. Chính hình ảnh bàn tay ấy làm nổi bật lên hình ảnh người anh hùng Tây Nguyên ngay từ bé đã mang một tư tưởng lớn của cách mạng, phải trở thành cán bộ cách mạng để cứu dân làng, cứu nước. Và khi không học được chữ sợ rằng mình không thể giúp ích cho đất nước nên Tnú mới dùng chính bàn tay của mình để trừng trị mình. Và chính đôi bàn tay ấy anh đã giết chết bao nhiêu là kẻ thù.

Bài soạn “Rừng xà nu” số 1

II. Trả lời câu hỏi

Câu 1 (trang 48 sgk ngữ văn 12 tập 2)

a, Ý nghĩa truyện:

+ Nhan đề: rừng xà nu là biểu tượng về tinh thần và sức sống bất diệt của người dân Tây Nguyên. Đó cũng là sáng tạo nghệ thuật, thể hiện tình cảm của tác giả với thế hệ anh hùng chống giặc.

b, Cảnh xà nu dưới tầm đại bác: nơi hứng chịu mọi sự tàn phá của đại bác Mĩ, đầy đau thương, chết chóc nhưng vẫn vươn lên với sức ống mãnh liệt, biểu trưng cho cuộc sống, con người, phẩm chất người làng Xô Man

c, Hình ảnh ngọn đồi xà nu trải dài hút tầm mắt, chạy tít tắp đến tận chân trời

Thể hiện sự tiếp nối, trường tồn, mạnh mẽ không gì hủy hoại được → tượng trưng cho sức sống của đất nước và con người

Câu 2 (trang 49 sgk ngữ văn 12 tập 2)

a, Người anh hùng được cụ Mết kể: Tnú. Với phẩm chất, tính cách:

+ Gan dạ, dũng cảm, trung thực (còn nhỏ cùng Mai vào rừng tiếp tế cho Quyết)

+ Lòng trung thành với cách mạng được bộc lộ qua thử thách (giặc bắt, tra tấn, lưng ngang dọc vết bị chém nhưng vẫn gan góc

– Số phận đau thương: không cứu được vợ con, bản thân bị bắt, bị tra tấn (bị đốt mười ngón tay)

– Kiên cường đứng dậy cầm vũ khí tiêu diệt kẻ thù

– Tnú may mắn hơn thế hệ đàn anh mình như anh hùng Núp và A Phủ:

+ Không sống kiếp tù đày cam chịu

+ Được giác ngộ lí tưởng cách mạng từ khi từ nhỏ

b, Câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú: “Tnú không cứu được vợ con”- cụ Mết nhắc tới bốn lần nhấn mạnh

+ Khi chưa cầm vũ khí chiến đấu, thì ngay cả những người thân Tnú không giữ được

+ Cụ Mết khẳng định, đấu tranh cần có vũ khí, đó là con đường duy nhất bảo vệ được những điều thân yêu, thiêng liêng

– Chân lí cách mạng đúc rút từ chính thực tế xương máu của dân tộc, những con người thương yêu nên chân lí phải ghi nhớ, truyền dạy cho thế hệ sau

c, Câu chuyện Tnú với dân làng Xô man nói lên chân lí lớn của thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, phải chống lại mọi kể thù xâm lược, kể cả phải cầm vũ khí, hi sinh tính mạng

d, Vai trò của nhân vật

– Cụ Mết, Mai, Dít, bé Heng sự tiếp nối các thế hệ làm nổi bật tinh thần bất khuất của làng Xô Man nói riêng, của Tây Nguyên nói chung

– Mai, Dít là thế hệ hiện tại, trong Dít có Mai của thời trước, vẻ đẹp sự kiên định, vững vàng trong bão táp chiến tranh

– Bé Heng là thế hệ tiếp nối, kế tục cha anh, để đưa cuộc chiến thắng lợi cuối cùng

– Cuộc chiến khốc liệt cần đòi hỏi mỗi người Việt có sức sống mạnh mẽ, trỗi dậy

Câu 3 (trang 49 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Hình ảnh rừng xà nu, hình tượng nhân vật Tnú gắn kết khăng khít với nhau. Nhà văn muốn dùng rừng xà nu biểu tượng cho tinh thần gan góc, dũng cảm, kiên trung… của nhân vật Tnú và dân làng Xô Man

Câu 4 (trang 49 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Nghệ thuật của truyện:

+ Đề tài gắn với lịch sử: cuộc đấu tranh của dân làng Xô Man chống Mỹ Diệm

+ Bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, hoành tráng, rừng xà nu làm nền cho bức tranh về cuộc đấu tranh chống giặc

+ Các nhân vật tiêu biểu được miêu tả trong bối cảnh trang nghiêm, hùng vĩ, vừa mang phong cách Tây Nguyên với phẩm chất của anh hùng thời đại

– Kết cấu vòng tròn: Mở đầu, kết thúc hình ảnh của rừng xà nu, cùng với sự trở về của Tnú sau ba năm xa cách

– Cách trần thuật: kể câu chuyện theo lời trang trọng của cụ Mết, bên bếp lửa, như truyền cho con cháu biết những trang sử bi thương và người anh hùng của cộng đồng

– Ngôn ngữ, giọng điệu: đậm chất sử thi, hùng tráng

Bài 1 (trang 49 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Tìm đọc trọn vẹn tác phẩm

Bài 2 (trang 49 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Đôi bàn tay của Tnú mang nhiều ý nghĩa

– Đôi bàn tay kiên trung với cách mạng

– Đôi bàn tay chịu nhiều đau thương, ghi lại chứng tích, tội ác mà kẻ thù gây ra

– Đôi bàn tay của nghĩa tình, của trụ cột gia đình

– Chính đôi bàn tay đầy thương tích đã đứng lên cầm vũ khí chiến đấu chống kẻ thù, đôi bàn tay ấy thể hiện dũng khí, tinh thần kiên cường của cách mạng

→ Đôi bàn tay của Tnú tượng trưng cho sức mạnh của cộng đồng, sức mạnh người anh hùng Tây Nguyên, đó là đôi bàn tay chứa ý chí, sức mạnh vượt qua kẻ thù

Bài soạn “Rừng xà nu” số 1Bài soạn “Rừng xà nu” số 1

Bài soạn “Rừng xà nu” số 5

Bài soạn “Rừng xà nu” số 1Bài soạn “Rừng xà nu” số 1

I, Tìm hiểu chung bài Rừng xà nu

1.Tác giả

Nguyễn Trung Thành tên thật là Nguyên Ngọc, viết nhiều và rất hay về mảnh đất Tây Nguyên.

2.Tác phẩm

Truyện ngắn Rừng xà nu được viết năm 1965 là tác phẩm nổi tiếng nhất trong số các sáng tác của Nguyên ngọc viết trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mĩ.

II, Đọc hiểu bài Rừng xà nu

Câu 1 (trang 48 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2)

Nhan đề của tác phẩm:

Hình ảnh những ngọn đồi, cảnh rừng xà nu trải ra hút tầm mắt, chạy tít tắp cho đến tận chân trời luôn trở đi trở lại trong tác phẩm: gợi ra cảnh rừng xà nu với sức sống bất diệt hay cũng chính là vẻ đẹp của người Tây Nguyên và của cả dân tộc.

Câu 2 (trang 48 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2)

a, Người anh hùng mà cụ Mết kể chính là Tnú với những phẩm chất đáng quý:

Tnú là người dũng cảm, không sợ hi sinh, tình yêu và tinh thần trung thành với cách mạng.

Khi còn nhỏ:

* Nếu nhân vật A Phủ được Tô Hoài miêu tả chủ yếu với cái nhìn bên ngoài thông qua ngoại hình và hành động thì Tnú được Nguyên Ngọc khám phá từ những xung đột, giằng xé nội tâm từ bên trong.

b, Trong câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú, cụ Mết nhắc lại tới bốn lần việc Tnú không cứu được vợ con, để rồi khắc ghi vào tâm trí của người nghe câu nói: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo” như một điệp khúc đau thương, day dứt nhằm nhấn mạnh:

“Khi chưa có vũ khí, chỉ có hai bàn tay không thì ngay cả những người yêu thương nhất cũng không cứu được”.

→ Đưa ra quy luật tất yếu: Phải dùng bạo lực cách mạng để chống laị bọn phản cách mạng, đó là chân lí đấu tranh ngàn đời của dân tộc.

c, Câu chuyện của Tnú cũng như của dân làng Xô Man làm sáng ngời chân lí của dân tộc ta trong thời địa bấy giờ: chỉ có cầm vũ khí đứng lên mới là cách duy nhất để chiến thắng và thoát khỏi ách nô lệ.

d, Vai trò của các nhân vật

Câu 3 (trang 49 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2)

Hình tượng cánh rừng xà nu và hình tượng nhân vật Tnú có một sự gắn kết hữu cơ hết sức sâu sắc, vẻ đẹp của rừng xa nu hay chính là phẩm chất người Tây Nguyên, của Tnú, chính vì vậy mà con người được miêu tả đều gắn với hình ảnh về cây xà nu.

Câu 4 (trang 49 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2)

Vẻ đẹp nghệ thuật của tác phẩm:

III, Luyện tập bài Rừng xà nu

Câu 2 (trang 49 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2)

Hình ảnh đôi bàn tay Tnú: Bàn tay Tnú gắn liền với cuộc đời nhân vật, đi dọc theo tác phẩm và trở thành điểm nhấn của tác phẩm.

Đôi bàn tay khi nguyên vẹn: đôi bàn tay của nghị lực, ý chí, quyết tâm, đôi bàn tay dũng cảm.

Bàn tay khi bị giặc đốt, được chữa lành anh vào lực lượng, tiếp tục chống giặc.

→ Vẫn vững vàng cầm vũ khí.

Bài soạn “Rừng xà nu” số 5Bài soạn “Rừng xà nu” số 5

Bài soạn “Rừng xà nu” số 3

Bài soạn “Rừng xà nu” số 5Bài soạn “Rừng xà nu” số 5

Năm 1965, cuộc chiến tranh cục bộ bắt đầu ở miền Nam nước ta. Mĩ đưa quân ồ ạt vào tham chiến. Chính trong thời điểm sôi bỏng này, Rừng xà nu của Nguyền Trung Thành đã ra đời, tái hiện lại không khí của một giai đoạn lịch sử quyết liệt trong phong trào cách mạng giải phóng miền Nam từ 1955 đến 1959. Truyện thể hiện quá trình đứng lên cầm lấy súng của những người dân đã dằn nén đau thương, uất hận và không một bạo lực cường quyền nào ngăn chặn, tiêu diệt được sự vùng lên của họ. Nói rõ hơn, Rừng xà nu kể về cuộc “đồng khởi” của dân làng Xô Man ở Tây Nguyên. Cụ Mết già làng, thủ lĩnh, đã lãnh đạo dân làng mài giáo, mác, vụ rựa… đứng lên đánh lũ ác ôn tay sai dế quốc Mĩ, giải phóng buôn làng và rừng núi thiêng liêng. Đây là hình ảnh có ý nghĩa biểu tượng cho cuộc đồng khởi của nhân dân miền Nam lúc bấy giờ, thể hiện một chân lí của cách mạng dược phát ngôn qua lời cụ Mết: “Nhớ lấy…, ghi lấy… sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, minh phải cầm giáo”.

Truyện Rừng xà nu có thế tóm tắt như sau:

Sau ba năm gia nhập lực lượng quân giải phóng, Tnú trở về thăm làng. Cả làng Xô Man tập hợp lại đón mừng anh. Cụ Mết đêm đó ôn lại những kỉ niệm đau thương hùng tráng của làng trong đó Tnú là nhân vật trung tâm.

Tnú và Mai tham gia cách mạng từ nhỏ. Sau đó Tnú bị giặc bắt đi tù. Lúc trở về, hai người thành vợ thành chồng và sinh được một con gái. Một lần, giặc càn lên làng lùng bắt Tnú tra tấn dã man. Chúng tẩm dầu xà nu và đốt mười ngón tay của anh. Mười ngón tay đã trở thành mười ngọn đuốc. Trước cảnh tượng ấy, cụ Mết lãnh đạo dân làng đồng khởi giết hết bọn giặc cứu Tnú. Rồi từ đó, Tnú gia nhập lực lượng giải phóng. Anh luôn ghi khắc mối thù đối với quân giặc và chiến đấu Tất dũng cảm.

Lần này, anh về phép, mừng thắng lợi làng Xô Man đã khác hẳn. Em gái của Mai đã trở thành bí thư chi bộ, chính trị viên xã đội.

Thông qua câu chuyên về cuộc đời Tnú, truyện ngắn Rừng xà nu ca ngợi sức sống mãnh liệt, tinh thần quật khởi, chí khí cách mạng kiên cường của dân làng Xô Man nói riêng và các dân tộc Tây Nguyên nói chung trong cuộc đấu tranh vũ trang chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ nền độc lập tự do của đất nước.

1. Hình tượng cây xà nu

Hình tượng nối bật và xuyên suốt trong truyện ngắn này là hình tượng cây xà nu. Mở đầu và kết thúc truyện đều là cảnh rừng xà nu “đến hút tầm mắt củng không thấy gì khác ngoài những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời”. Mở đầu là câu ấy, kết thúc cũng thế, chỉ đổi chữ “đồi” thành chữ “rừng”. Đây là một sự lặp lại có dụng ý, như một điệp khúc láy lại nhằm nhấn mạnh, gây ấn tượng đậm nét trong tâm hồn người đọc.

Cây xà nu thuộc họ thông, có nhựa thơm, mọc nhiều ở vùng bắc Tây Nguyên. Cây này xuất hiện trong tác phẩm trước tiên với ý nghĩa tả thực, thê hiện cái tươi đẹp, hùng vĩ của thiên nhiên Tây Nguyên. Nhưng ý nghĩa ấn dụ tượng trưng của nó mới là điều đáng chú ý hơn cả. Rất nhiều lần nhà văn nhấc tới hai chữ xà nu: rừng xà nu, đồi xà nu, nhựa xà nu, khói xà nu… Đúng là xà nu đã là hình ảnh tiêu biểu, đại diện cho làng Xô Man nói riêng và cả Tây Nguyên nói chung.

Mở đầu tác phẩm là nhưng tai họa mà cả những cây xà nu cố thụ và những cây con phải gánh chịu dưới làn mưa đại bác của kẻ thù: “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương”; “nhựa ứa ra, tràn trề… rồi dần dần bầm lại, đen và dặc quyện thành từng cục máu lớn”. Thế nhưng “đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng”. Để rồi: “Cạnh một cây xà nu mới ngã gục dã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn hình nhọn mũi tên lao thẳng lẽn bầu trời”, “có những cây mới nhú khỏi mặt đắt, nhọn hoắt như những mũi lẽ”. Đặc tả bằng lối tạo hình và thủ pháp nhân hóa nêu bật sức sống của cây xà nu; chủ ý của nhà văn là nêu bật sức sống của người dân Xô Man và nhân dân Tây Nguyên bất khuất. Cũng như cây xà nu, người dân Xô Man, hết lớp này đến lớp khác, nối bước nhau cầm lấy vũ khí đánh giặc. Anh Quyết hi sinh thì có Tnú, Mai ngã xuống đã có Dít bước lên thay chị. Bên cạnh cụ Mết, già làng, sừng sững như một cây xà nu cồ thụ là bé Heng, một thế hệ cây xà nu non trẻ,, sân sàng thừa kế lớp cha anh.

Ham ánh nắng và khí trời, cây xà nu vươn lên rất nhanh để tới ánh sáng cũng chẳng khác chi Tnú, Mai và dân làng Xô Man luôn phấn đâu, muốn hướng tới cuộc sống tự do. Nhà văn Nguyễn Trung Thành kể lại về việc viết truyện Rừng xà nu và nói về loại cây này như sau:

“Hồi tháng 5 năm 1962, hành quân từ miền Bắc vào, tôi cùng đi với Nguyễn Thi, đến điểm chia tay, mỗi người về chiến trường của mình là một khu rừng bát ngát phía tây Thừa Thiên giáp Lào. Đó là một khu rừng xanh tít tắp tận chân trời. Tôi yêu cây rừng xà nu từ ngày đó. Ấy là một cây hùng vĩ và cao thượng, man dại và trong sạch, thân cây cao vút, vạn vỡ ứa nhựa, tán lá vừa thanh nhã vừa rắn rỏi”.

(NGUYÊN NGỌC – về truyện ngắn “Rừng xà nu”)

2. Nhân vật trong Rừng xà nu

Trên cái nền hùng vĩ của rừng xà nu nổi lên là các nhân vật Tnú, Dít, cụ Mết và bé Heng. Mỗi hình tượng nhân vật đều có vẻ đọp riêng và đều mang ý nghĩa tư tưởng sâu sắc. Trước hết là Tnú, nhân vật chính của truyện. Anh được tác giả khắc họa với những nét độc đáo, đậm chất sử thi; cụ Mốt, già làng, rất tự hào mỗi lúc nói về anh. – “Nó là người Strá mình. Cha mẹ nó chết sớm, làng Xô Man này nuôi nó. Đời nó khổ, nhưng bụng nó sạch như nước suối làng ta”.

Từ lúc còn nhỏ, Tnú đã sớm tỏ ra gan góc, táo bạo, đầy quả cam. Anh và Mai đã vào rừng bảo vệ tiếp tế cho cán bộ hoạt động bí mật, mặc cho địch khủng bố dã man. Khi học chữ thua bạn, anh tự phạt mình bằng cách “cần một hòn đá, tự đập vào đầu, máu chảy ròng ròng”. Khi bị địch tra tấn hỏi cộng sản ớ đâu, Tnú đặt tay lên bụng mình nói: “ở đây này” và thế là lưng anh lại hằn thêm những vết chém của kẻ thù. Với phẩm chất gan dạ, anh hùng Tnú rất xứng đáng với tình yêu Mai, một cô gái Strá xinh đẹp dịu dàng. Nhưng đáng buồn thay, anh dành bất lực trước cái chết của vợ con. Nhìn thấy tận mắt cảnh địch tra tân dã man mẹ con Mai, lòng anh sôi sục căm thù: “Anh đã bứt dứt hàng chục trái vả mủ không hay. Anh chồm dậy (…) ở chỗ hai con mắt anh bây giờ là hai cục lửa lớn”. Cứu vợ con không được, Tnú bị giặc bắt trói bằng dây rừng. Chúng đốt mười ngón tay anh bằng nhựa xà nu thành mười ngọn đuốc. Tnú đau đớn quằn quại: “Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng”’ nhưng anh vẫn lầm liệt khí phách: “Người cộng sản không thèm kêu van”. Tnú nhất định không thèm kêu van.

Chính đôi bàn tay bị đốt của anh dã khiến dân làng Xô Man đồng khởi giết giặc, cứu sống anh. Từ dó, với hai bàn tay mỗi ngón chỉ còn hai đốt ấy, Tnú đã cầm giáo, cầm súng. Anh lên đường gia nhập “lực lượng” và kiên cường chiến đấu. Rồi cùng chính đôi bàn tay ấy đã bóp cổ giết chết tên chỉ huy đồn địch trong hầm ngầm cố thủ của nó Tnú cũng lại là người có lòng tha thiết yêu bản làng. Khi xa nhà, xa quê hương, anh nhớ rõ từng hàng cây, từng con đường, từng dòng suối. Và anh nhớ nhất là tiếng chày cửa bản làng. Bởi vậy, khi trở lại thăm nhà, Tnú bồi hồi xúc động, ngực anh đập liên hồi.

Tóm lại, những nét tính cách của Tnú cũng tiêu biểu cho phẩm cách cao đẹp của cộng đồng người Strá ở Tây Nguyên: cũng gan góc, dũng cảm, cũng rất mực trung thành với cách mạng, tha thiết yêu bản làng nhất là cũng biết vượt lên mọi bi kịch cá nhân đê biến yêu thương, căm thù thành hành động kiên cường chiến đấu.

Tiếp theo là Dít. Tuy xuất hiện không nhiều trong tác phẩm nhưng cô gái này lại là hiện thân và là sự tiếp nối của Mai.

Ngay từ nhỏ, Dít đã nhanh nhẹn và gan góc. Cô chẳng chút khiếp sợ trước lời đe dọa của thằng Dục: “Đứa nào ra khỏi làng bắt được bắn chết ngay tại chỗ”. Bởi vậy, cứ sẩm tối là Dít lại bò theo mang nước mang gạo vào rừng tiếp tế cho cụ Mết, Tnú và các anh. Lúc bị bắt cô gái vẫn bình tĩnh, súng đạn địch không uy hiếp được tinh thần cô.

Khi trưởng thành, Dít thành cán bộ, bí thư chi bộ kiêm chính trị viên xã đội. Cô nghiêm khắc và nguyên tắc. Mặc dù rất quý mến. Tnú, anh rể mình, nhưng Dít vẫn nghiêm trang trong thủ tục hỏi giây tờ người lính từ mặt trận về thăm làng: “Không có giấy trốn về thi không dược, úy ban phải bắt thôi”. Nhưng phía sau thái độ lạnh lùng, ngôn từ có vẻ gay gắt là những tình cảm sâu sắc và kín đáo trong cái nhìn rất sâu đôi với Tnú bằng đôi mắt mở to, bình thản, trong suốt.

Tóm lại, Dít tiêu biểu cho những thanh niên Tây Nguyên đã được rèn luyện và trưởng thành qua thực tế ác liệt của cuộc chiến đấu chống kẻ thù để bảo vệ bản làng yêu dấu. Kế tiếp là cụ Mết. Nếu làng Xô Man như một cánh rừng xà nu bất khuất thì cụ già làng này chính là một xà nu cổ thụ: “Ông ở trần, ngực căng như một cây xà nu lớn”. Không chỉ là một thủ lĩnh quân sự, cụ Mết còn là linh hồn của cuộc chiến đấu và chiến thắng. Hình ảnh cụ gắn liền.với lời khẳng định một chân lí cách mạng để đi tới tự do: “Chúng nó dã cầm súng, minh phải cầm giáo”. Vị trí của con người này thế hiện rất rõ trong lời hịch truyền ở đoạn cuối truyện:

“Thế là bắt dầu rồi, Đốt lửa lên! Tất cả người già, người trẻ, người đàn ông, người đàn bà, mỗi người phải tỉm lấy một cây giáo, một cây mác, một cây dụ, một cây rựa. Ai không có thi vót chông, năm trăm cây chông. Đốt lửa lên!”. Cụ Mết đúng là hình ảnh tượng trưng cho lịch sử truyền thống hiên ngang bất khuất của nhân dân Xô Man. Sau cùng là bé Heng, hiện thân của thế hệ tương lai của cách mạng. Bé xuất hiện nhiều ở phần đầu truyện, đóng vai người hướng dẫn Tnú trở về. Tiếp nối truyền thông chiến đấu của cha anh, bé Heng giống như một cây xà nu mới lớn lên: “ngọn xanh rờn, hình nhọn mủi tên lao thẳng lên bầu trời”.

Rừng xà nu là sự kết hợp giữa cảm hứng sử thi và bút pháp sử thi điêu luyện, xứng đáng là bản anh hùng ca về cuộc chiến đấu của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên trong cuộc chiến tranh chông Mĩ cứu nước vừa qua.

GỢI Ý ĐỌC – HIỂU

Câu 1

a) Tnú: Theo Nguyễn Trung Thành nguyên mẫu của Tnú là Đề – người dân tộc Xơ-đăng, ở Tây Nguyên. Nhà văn lây tên Tnú “không khí hơn nhiều, Tây Nguyên hơn nhiều” so với tên Đề.

Là nhân vật chính của truyện, cha mẹ mất sớm lớn lên nhờ sự dưỡng nuôi, đùm bọc của dân làng Xô Man; Cụ Mết nhận xét về Tnú: “Đời nó khổ, nhưng bụng nó sạch như nước suối làng ta”. Tnú rát gan góc táo bạo. Học chữ chậm nhưng “đi đường núi thì đầu nó sáng lạ lùng”. Khi làm liên lạc qua sông Tnú “cứ lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang, vượt lên trên mặt nước, cỡi lên thác băng băng như con cá kình”. Khi bị giặc đốt cháy mười ngón tay, Tnú nghiến răng chịu đựng chứ quyêt “không thèm kêu van”. Tnú có mối thù chồng chất với quân địch vì chúng giết hại vợ con anh, khiến anh trở thành người tàn tật, hơn thế nữa chúng còn giết hại cả dân làng anh.

Tnú dũng cảm và trung thành với cách mạng. Trong những năm tháng ác liệt nhất giặc lùng sục khủng bố điên cuồng giết hại dân làng, khi bị chúng bắt, tra hỏi chỗ ở của cộng sản, Tnú đã đặt tay lên bụng mình và nói “ở dây này”. Bọn – lính chém lưng anh đầy vết dọc ngang. Khi chứng kiến cảnh vợ con mình bị giặc tra tấn dã man, Tnú tay không nhảy vào giữa lũ giặc đang điên cuồng. Nhưng anh không cứu được vợ con mà còn bị chúng hành hạ tra tấn dữ dằn. Vì vậy khi dân làng quật khởi, Tnú tòng quân như lẽ hẳn nhiên. vật này, nhà Khi miêu tả nhânvăn chú ý dụng công miêu tả bàn tay của anh. Có thể nói đây cũng là chi tiết gây ấn tượng nhất đói với người đọc. Từ đôi tay của Tnú, người đọc không những hình dung được cuộc đời mà còn hình dung được cả tính cách của anh.

Ấn tượng không thế nào quên được về bàn tay anh chính là đoạn cao trào mãnh liệt của truyện: giặc quấn giẻ tẩm dầu xà nu vào mười ngón tay anh và đốt: “Mười ngón tay đã thành mười ngọn đuốc”. Cũng chính mười ngọn đuốc đó đã làm mồi châm ngọn lửa cho dân làng Xô Man nổi dậy. Tuy tàn tật nhưng đôi bàn tay anh vần cầm được giáo được súng đế đánh giặc, hơn thế nữa vẫn có thế bóp chết tên chỉ huy địch khi hắn cố thủ trong hầm.

Có thể nói qua nhân vật Tnú, nhà văn Nguyễn Trung Thành nhằm thể hiện phẩm chất, số phận và đặc biệt là con dường đi theo cách mạng của nhân dân Tây Nguyên, nhân dân miền Nam trong thời kì chống Mĩ cứu nước giành lại độc lập, tự do.

b) Cụ Mết: Là một già làng quắc thước râu dài tới ngực đen bóng, mắt sáng và xếch ở trần “ngực căng như một cẩy xà nu lớn”. Ông thế hiện rất đậm nét tính cách của con người Tây Nguyên bất khuất. Cụ tượng trưng cho lịch sử cho truyền thống hiên ngang, cho sức sống bền bỉ của dân làng. Cụ nói với con cháu: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”… “Thế là bắt đầu rồi. Đốt lửa lên! Tất cả người già, người trẻ, người đàn ông, người đàn bà, mỗi người phải tìm lấy một cây giáo, một cây mác, một cây dụ, một cây rựa. Ai không có thì vót chông, năm trăm cây chông. Đốt lửa lên”. Nhân dân làng Xô Man vùng dậy giết giặc theo tiếng hô của cụ Mết: “Chém! Chém hết!” và “Cụ Mết đứng dậy; lưỡi mác dài trong tay, thằng Dục nằm dưới lưỡi mác của cụ Mết!!”.

c) Dít: Là nhân vật tiêu biểu cho lực lượng chiến đấu, hình ảnh những thanh niên Tây Nguyên được rèn luyện và trưởng thành qua thử thách ác liệt của cuộc chiên đâấu chống ké thù bảo vệ bản làng. Cô có vị trí quan trọng trong cuộc đấu tranh cùa dân làng Xô Mạn. Dít là con người cương quyết bảo dam nguyên tắc – cách mạng, đặt việc của dân làng lên trên hết.

d) Heng: Là nhân vật tiêu biểu cho thê’ hộ tuổi nhỏ của làng Xó Man, Heng nhí nhảnh hồn nhiên yêu đời ngộ nghĩnh và thật đáng yêu. Heng nhất định sẽ tiếp nô’i được con đường đã chọn của cụ Mết, Tnú, Mai và Dít. Tác giả tập trung miêu tả các nhân vật trên nhằm khẳng định dân làng Xô Man nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung từ thế hệ này sang thế hệ khác tiếp nô’i nhau hiên ngang bất khuất, chiến đấu bảo vệ đất nước quê hương.

Câu 2

Trong câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú, chi tiết gây ấn tượng sâu đậm nhất cho tôi là hình ảnh bàn tay. Qua bàn tay anh, người đọc hình dung lên dđược cuộc đời và tính cách của anh. Lúc còn lành lặn, bàn tay anh là bàn tay trung thực, bàn tay tình nghĩa. Chính bàn tay đó đã cầm phấn viết chữ của bậc đàn anh dạy cho, đã cầm đá tự đập vào đầu mình tự trừng phạt mình khi học chữ mà hay quên, bàn tay đã tự đặt lên bụng mình: “Cộng sản ở đây này”. Đó cũng là bàn tay khi anh thoát ngục Kon Turn về gặp Mai ở lối vào làng, Mai đã cầm bàn tay anh mà giàn giụa nước mắt.

Đôi bàn tay Tnú, mười ngón đã bị giặc quân giẻ tẩm dầu: “Đó là đôi bàn tay của lòng dũng cảm, chịu đựng”. “Anh không cảm thấy lứa ở mười ngón tay nữa. Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng. Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi. Răng anh đã cắn nát môi anh rồi”, mười ngón tay anh clìám bùng ngọn lửa quật khởi của dân làng Xô Man. Đã dược dập lửa nhưng bàn tay Tnú mỗi ngón chỉ còn lại hai đô’t. Đốt tay không thể mọc lại. Dấu vết căm thù mà Tnú mang theo trọn đời mình.

Nhưng cũng chính bàn tay tật nguyền đã cầm giáo, cầm súng giết giặc. Cũng chính bàn tay tật nguyền ấy ở cuối truyện đã bóp chết tên chỉ huy đồn địch ngay trong hầm cố thủ của nó.

Câu 3

Xem hình tượng cây xà nu ở phần đầu, sau phần tóm tắt truyện.

Câu 4

Qua truyện ngắn Rừng xà nu, Nguyền Trung Thành muôn gửi đến người đọc tư tưởng cơ bản nằm trong lời của cụ Mết kêu gọi dân làng Xô Man: “Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu”: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Đây cũng chính là tư tưởng chủ đạo của truyện: phải dùng bạo lực cách mạng đế chống lại bạo lực phản cách mạng, vũ trang chiến đấu là con đường tất yếu để tự giải phóng của nhân dân.

Đó cũng là chân lí của một dân tộc có sức sống mãnh liệt như rừng cây xà nu kia, chân lí của một dân tộc anh hùng bất khuất.

Bài soạn “Rừng xà nu” số 4

Bài soạn “Rừng xà nu” số 3Bài soạn “Rừng xà nu” số 3

A. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

B. BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI

Câu 1: Trang 48 sgk ngữ văn 12 tập 2

a) Nhan đề tác phẩm

c) Đoạn văn miêu tả cánh rừng xà nu dưới tầm đại bác

c) Hình ảnh những ngọn đồi , cánh rừng xà nu trải ra hút tầm mắt, chay tít tắp đến tận chân trời luôn trở đi trở lai trong tác phẩm.

A Phủ và Tnú tuy được xây dựng trong hai tác phẩm của hai tác giả ở hai thời kì khác nhau, ở hai miền đất khác nhau, nhưng đều là những con người miền núi. Một người thuộc dân tộc Mèo ở vùng Tây Bắc nên thơ (A Phủ), một người thuộc dân tộc Strá ở vùng Tây Nguyên hùng vĩ (Tnú). Cả hai đều mồ côi cha mẹ từ thuở ấu thơ, mang dáng dấp những đứa con côi trong cổ tích. A Phủ và Tnú đều sớm dạn dày, gan góc bởi hoàn cảnh sống đầy thử thách. Có nét gì chung rất dễ nhận ra ở hai con người cách nhau hàng ngàn cây số: đó là sự mạnh mẽ về thể chất và tinh thần. A Phủ đã dám đánh cả con quan, để rồi kiên gan chịu đựng những trận đòn báo thù khủng khiếp. Tnú thì thuở ấu thơ đã dám ra rừng đem gạo nuôi cán bộ, bị bắt, bị chém ngang dọc trên bụng trên lưng vẫn không hé răng khai báo nơi ở của cán bộ, bị đốt mười đầu ngón tay bằng nhựa xà nu vẫn cắn mồi đến bật máu để chịu đựng. Hai người chịu hai kiểu hành hạ, hài kiểu cực hình khác nhau, nhưng ta đều thấy ở họ sự chịu đựng phi thường.

Không những thế ta còn thấy được một người anh hùng Tnú tuy bé nhỏ nhưng đã mang sẵn bản chất anh hùng, bản chất sử thi. Bàn tay ấy không chỉ vậy mà còn gan góc cầm đá đập vào đầu của Tnú khi học không cho được cái chữ vào đầu. Theo như anh Quyết nói thì phải học cái chữ để có thể trở thành cán bộ được. Chính vì thế mà khi không học được, học chữ này thì quên mất chữ kia đôi bàn tay cầm lấy đá đập đầu khiến cho máu chảy ròng ròng. Chính hình ảnh bàn tay ấy làm nổi bật lên hình ảnh người anh hùng Tây nguyên ngay từ bé đã mang một tư tưởng lớn của cách mạng, phải trở thành cán bộ cách mạng để cứu dân làng, cứu nước. Và khi không học được chữ sợ rằng mình không thể giúp ích cho đất nước nên Tnú mới dùng chính bàn tay của mình để trừng trị mình.Và chính đôi bàn tay ấy anh đã giết chết bao nhiêu là kẻ thù.

Đăng bởi: Nguyễn Phúc Sang

Từ khoá: 6 Bài soạn “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành lớp 12 hay nhất

Cập nhật thông tin chi tiết về 6 Bài Soạn “Tập Làm Thơ Bốn Chữ” Lớp 6 Hay Nhất trên website Fsey.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!