Xu Hướng 3/2024 # 8 Cuốn Sách Hay Nhất Của Nhà Văn Minh Nhật # Top 8 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết 8 Cuốn Sách Hay Nhất Của Nhà Văn Minh Nhật được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Fsey.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Có Những Điều Chẳng Thể Nói Cùng Ai

Nếu bạn đã quen với một tác giả Minh Nhật thường viết truyện ngắn, tản văn hay tùy bút thì ĐÊM là những điều Minh Nhật mong bạn không cần phải vội vã mà hãy từ từ lật mở để thấy sự thú vị của nó, bởi đó là hành trình của một nhân vật không có thật mà luôn có thật, giúp bạn tìm thấy những điều cho riêng mình.

Suy cho cùng, ai trong chúng ta cũng “Có những điều chẳng thể nói cùng ai”, nhưng vậy thì đã sao, đó là một phần cảm xúc của bạn, hãy để có những điều đặc biệt ấy đến với những người đủ khả năng cảm nhận nó. Ngay cả khi chẳng ai cảm nhận được, chúng ta cũng hãy sống trọn vẹn với mình, với phần lý trí, bản năng và cả đam mê đã tạo nên mỗi người trong cuộc đời.

Vậy nên hy vọng khi gấp lại những trang sách cuối cùng của “Có những điều chẳng thể nói cùng ai”, lòng bạn sẽ chẳng còn đa sầu đa cảm, chẳng còn ngổn ngang những cảm xúc phức tạp, chẳng còn dằn vặt chính bản thân vì những lần tan vỡ để sau đó tìm thấy miền đất khiến mình bình yên hơn.

Chạy trốn mặt trời

Có Những Điều Chẳng Thể Nói Cùng Ai

Trong lời đề tựa cuốn sách, Minh Nhật đã bật mí về tên gọi Chạy trốn mặt trời: “Chạy trốn mặt trời” là tên một ca khúc của Đa Sắc, Đen, JGKid và Thảo Phương. Bài hát được viết từ cảm hứng gợi lên từ một bộ phim của Nhật nói về cô gái mang một chứng bệnh kỳ lạ khiến cô không thể tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. Trong bộ phim, cô gái thường ra đường khi đã khuya, chơi đàn guitar tại một bến tầu điện ngầm và trở về nhà trước bình minh.

Chạy trốn mặt trời

Chỉ Về Nhà Để Ngủ

Chạy trốn mặt trời

“Trong tiểu vũ trụ của mỗi người, thứ năng lượng quan trọng nhất không phải vật chất, mà là cảm giác của sự tồn tại, khát khao thấy mình có ý nghĩa, hoặc những gì mình làm trở nên ý nghĩa”

“Chỉ về nhà để ngủ” của Minh Nhật như một trạm cấp “vé du hành” miễn phí, để mỗi người đều có cơ hội khám phá sâu vào vũ trụ bản thân. Thông qua những câu chuyện hiện thực gần gũi, cùng chất văn mang đậm dấu ấn Minh Nhật – rất riêng và đầy cảm xúc, Chỉ về nhà để ngủ dễ dàng “chạm” đến sự “đồng cảm” nơi trái tim độc giả, giúp ta thoát khỏi vòng xoay vội vã của cuộc sống, sống chậm lại, gom mạnh mẽ và đưa ta về với một khoảng lặng đủ để thấy nhẹ nhõm và bình yên.

Đặc biệt tại thời điểm cả thế giới đều đang chịu ảnh hưởng từ đại dịch, “chiếc vé” này cho ta được giao tiếp với chính mình nhiều hơn, để hiểu và tìm được cảm hứng sống mỗi ngày.

Chắc gì ta đã yêu nhau

Chỉ Về Nhà Để Ngủ

Cuộc đời này, có những khoảng trống sinh ra không phải để lấp đầy, giống như em trong những ngày hanh hao đột nhiên thấy lòng mình hoài nghi nhiều.Như Lê Cát Trọng Lý từng gọi nó là những “hoang mang cần thiết” em cần nó để biết trái tim còn biết rung động, biết đau và biết yêu. Những ngày như thế, hẳn đã có lúc em quay đầu nhìn lại đoạn đường dài em từng bước ngày xưa. Những con người từng lướt qua đời, những cái chạm tay từng ủ đầy hơi ấm, những môi hôn ngọt ngào hay những lần đôi mắt ướt đẫm nỗi đau,… có khi nào em tự hỏi chính mình: Chuyện cũ người xưa có thật sự đúng là tình yêu hay không?Nếu có những ngày trong đời, lòng em băn khoăn điều ấy, thì cuốn tản văn mới của nhà văn Minh Nhật – CHẮC GÌ TA ĐÃ YÊU NHAU sẽ giúp em tìm được đáp án cho những khúc mắc mà bấy lâu em vẫn giữ riêng mình. Ở cuốn sách mới này, Minh Nhật vẫn sẽ kể em nghe những câu chuyện tình yêu như sở trường của anh vốn dĩ. Không phải là chuyện tình trong đôi mắt màu hồng của cô gái mới 18, đôi mươi; cũng không phải là suy nghĩ hiếu thắng, thích khẳng định mình của những chàng thanh niên đang lớn mới chập chững vào đời. Càng không phải những câu chuyện tình đắm say, nồng nhiệt đầy miên man cũng đầy bồng bột của tuổi trẻ. Chuyện tình yêu trong CHẮC GÌ TA ĐÃ YÊU NHAU … đời, rất đời.

Những người xa lạ

Chắc gì ta đã yêu nhau

Cuốn sách là lần tái bản cho cuốn sách đầu tiên của Minh Nhật – Café yêu. Ở cuốn sách này, Minh Nhật đã thêm một chút, bớt một chút trên trong “ly café” mình đã từng “pha”, làm cho hương vị của nó trở nên đậm hơn, và đọng lại những dư vị lâu dài lâu dài hơn khi thưởng thức. Với lần tái bản này, cuốn sách khoác lên mình một chiếc áo mới, một tâm hồn mới, và một cái tên mới phù hợp hơn: “Những người xa lạ.”

Cuốn sách này là những ký ức của về những nơi mà Minh Nhật từng đặt chân tới, hoặc của những người đồng hành của Minh Nhật trong cuộc đời. Những mảnh đất, những con người, những yêu thương hờn giận, những mảng màu sáng tối, những phím đen trắng trên cây đàn piano… Và tất nhiên cả về thành phố Hà Nội.

“Tôi từng là một tác giả chuyên viết truyện ngắn. Trong hàng trăm truyện ngắn từng viết, tập hợp rải rác một số để cấu thành nhiều tuyển tập khác nhau mà tôi từng xuất bản, tôi có nhiều kỷ niệm nhất với Café yêu. Cũng giống như tuyển tập tản văn Những đêm không ngủ, Café yêu ban đầu được viết rải rác trong nhiều năm, chủ yếu từ 2008-2011. Cuốn sách này chứa đựng ký ức của tôi về những nơi mình từng đặt chân tới, hoặc của những người đồng hành của tôi trong cuộc đời. Những mảnh đất, những con người, những yêu thương hờn giận, những mảng màu sáng tối, những phím đen trắng trên cây đàn Và tất nhiên cả về thành phố mà tôi say mê nhất: Hà Nội.”

Những người xa lạ

Radio Mưa Và Chậu Cây Huyết Dụ

Những người xa lạ

“Mạch truyện giống như một động cơ nén bền bỉ, đẩy dần cảm xúc và nhân vật tới cực hạn của sự cô đơn, sợ hãi đồng thời hân hoan mặc khải… giống như cuộc đấu tranh không hồi kết giữa tốt và xấu, giữa thiện và ác… trong tâm thức của mỗi con người cá nhân cô độc.”

Nguyễn Minh Nhật sinh ngày 3/3/1987, từng du học tại Singapore và là cây bút được rất nhiều thế hệ bạn đọc trẻ tuổi ngưỡng mộ. Đặc biệt hơn, anh chính là chàng Sky từng nổi tiếng qua những câu chuyện chân thực, lãng mạn, những chuyện tình rung động trái tim của lứa tuổi học sinh trong trang báo Hoa học trò.

Những đêm không ngủ

Radio Mưa Và Chậu Cây Huyết Dụ

Không còn là chàng trai trẻ với nhiệt huyết yêu đương và mong muốn khám phá thế giới, Minh Nhật trở về sau cuộc hành trình dài với những trải nghiệm và suy nghĩ sâu sắc về cuộc sống, tình bạn, tình yêu và cả những trăn trở . Mọi thứ được gói gọn trong cuốn sách “Những đêm không ngủ” Minh Nhật như viết ra suy nghĩ, cõi lòng của bạn vậy.

Bạn hẳn rồi sẽ nhận ra Sự tàn nhẫn của thời gian – ở một nơi mang tên Kí ức, và rồi cảm thấy chính mình Dũng cảm như cánh bồ công anh, Mỉm cười bước đi con đường đầy lá. Đôi khi, bạn sẽ Ngủ quên trong cơn mưa tháng bảy, chỉ để mơ về Một vết sẹo kim cương và rồi lại nhận ra rằng Những người mà chúng ta yêu đều luôn ở lại.

Nhưng đấy không hoàn toàn là ý nghĩa mà cuốn sách nhỏ này mang lại, càng không phải những gì mà Minh Nhật gửi gắm. Ẩn dưới dòng chảy của thời gian là băn khoăn của những người trẻ về cuộc đời vốn đa sự, đa đoan. Những đêm không ngủ đưa ta về với một góc sâu thẳm của lòng người với những triết lý tự nhiên nhưng chẳng dễ dàng nhận thấy, những thứ cảm xúc lạ lùng, sâu kín.

Những đêm không ngủ

Lạc lối giữa cô đơn

Những đêm không ngủ

“Lạc lối giữa cô đơn” là cuốn sách được viết trong những đêm dài… một mình…mất ngủ và đầy khói thuốc. Viết cho những ai ban ngày cười nói hân hoan để khi đêm xuống lạc lõng, cô đơn và mâu thuẫn ngay chính trong con người của mình. Nếu bạn là người sống về đêm, ngẫm về đêm và yêu bóng tối đến mê muội thì không thể bỏ qua cuốn sách này. Vẫn một Minh Nhật đó, mang trong mình một nỗi sầu, sự băn khoăn về cuộc sống. Vẫn một Minh Nhật ấy, len lỏi vào từng góc khuất trong lòng người ta bằng những câu chuyện nhẹ nhàng mà buồn đến miên man. Trong cuốn sách này ta tìm thấy bóng dáng một Minh Nhật cô đơn, tìm thấy một bản thân mình cô đơn…

“Lạc lối giữa cô đơn” cuốn sách này, mới chỉ nghe tên thôi đã thấy chạnh lòng đến vậy. Đã thấy sao đỗi cô đơn, còn lạc lối! Và cảm xúc cô đơn không có ngay khi chúng ta vừa mới sinh ra, mà đôi khi nó chỉ có khi ta bắt đầu biết yêu một ai đó. Thế nên, Chỉ một cô gái mà thôi, hay là “Người yêu cũ của người yêu” cũng bỗng làm ta chạnh lòng mà rơi vào trạng thái cô đơn. Đôi khi, lại vì “Những điều chẳng thật sự có tên”, như một “Cơn mưa tháng ba” vô tình đi lạc, một “Khoảng sân rực rỡ” gợi nhớ về tuổi thơ, hay như thói quen “Chỉ uống trà lúc nửa đêm” cũng có thể làm cho lòng người rơi vào một đống cảm xúc lửng lơ, cô đơn đến hoang hoải.

Lạc lối giữa cô đơn, vỏn vẹn đơn giản mười bốn câu chuyện. Nhưng khi gấp những trang sách ấy lại, bỗng thấy như có một vùng cảm xúc níu kéo tâm trạng mình. Cuốn sách sẽ dẫn bạn vào một đường lối đi nào đó của những điều tưởng như lan man nhưng lại vô cùng sâu sắc. Thế nên, sẽ thật dễ hiểu khi ta tìm được những suy tư của mình trong cuốn sách

Lạc lối giữa cô đơn

Nếu bạn thực sự là fan của Minh Nhật hay là những người yêu thích văn học mà chưa có trong tay những cuốn sách này thì hãy ngay lập tức rinh ngay chúng về cho tủ sách của mình. Hãy từ từ cảm nhận, nhâm nhi từng trang sách như đang tận hưởng những ly cafe tuyệt vời để cảm nhận cuộc sống và tìm lại một phần con người mình trong đó.

Đăng bởi: Thành Nguyễn

Từ khoá: 8 Cuốn sách hay nhất của nhà văn Minh Nhật

10 Cuốn Sách Văn Học Nước Ngoài Hay Nhất Của Nxb Kim Đồng

SỰ TÍCH CÁC LOÀI VẬT – CHUYỆN NHƯ THẾ ĐÓ CHUYỆN PHIÊU LƯU CỦA MÍT ĐẶC VÀ CÁC BẠN

SỰ TÍCH CÁC LOÀI VẬT – CHUYỆN NHƯ THẾ ĐÓ

NIKOLAY NOSOV (1908-1976) là nhà văn Nga nổi tiếng chuyên viết cho trẻ em, đã từng nhận được Giải thưởng Quốc gia. Các tác phẩm của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng và được trẻ em nhiều nước trên thế giới vô cùng yêu thích.

CHUYỆN PHIÊU LƯU CỦA MÍT ĐẶC VÀ CÁC BẠN

HOÀNG TỬ NHỎ VÀ CHÚ BÉ NGHÈO KHỔ CHARLIE VÀ NHÀ MÁY SÔCÔLA

Truyện CHARLIE VÀ NHÀ MÁY SÔCÔLA kể về Ngài Willy Wonka là người sản xuất sôcôla lạ lùng nhất, kì quái nhất và cũng phi thường nhất trên thế giới này!. Chuyến phiêu lưu kì thú của Charlie Bucket bắt đầu khi cậu bé tìm thấy một chiếc Vé Vàng quý báu của ngài Willy Wonka và trúng thưởng cả một ngày vui chơi trong nhà máy sôcôla kì lạ. Cậu không hề biết rằng có nhiều điều bất ngờ đang chờ đợi mình phía trước!

HỒI KÍ BÓNG ĐÁ CỦA SON HEUNG MIN – ĐƯỜNG ĐẾN CHÂU ÂU (BÌA CỨNG)

HỒI KÍ BÓNG ĐÁ CỦA SON HEUNG MIN – ĐƯỜNG ĐẾN CHÂU ÂU (BÌA CỨNG)

HOÀNG TỬ BÉ

HỒI KÍ BÓNG ĐÁ CỦA SON HEUNG MIN – ĐƯỜNG ĐẾN CHÂU ÂU (BÌA CỨNG)

Là cuốn sách dành cho mọi lứa tuổi, Hoàng Tử Bé với những suy nghĩ, cảm nhận tưởng chừng ngây thơ và non nớt đã đánh vào tiềm thức mỗi người lớn chúng ta những bài học về tình yêu, sự nhiệt tình sống, những nguyên tắc sống đơn giản mà chúng ta lại quên mất đi.

“Hoàng Tử Bé” (tên tiếng Pháp: Le Petit Prince) xuất bản năm 1943 và là tác phẩm nối tiếng nhất trong sự nghiệp của nhà văn phi công Pháp Antoine de Saint-Exupéry. Tác phẩm đã được dịch sang hơn 250 ngôn ngữ và cho đến nay đã bán được hơn 200 triệu bản khắp thế giới. Đọc Hoàng Tử Bé, có người rút ra được bài học về nghệ thuật sống, có người ngẫm ra các triết lý kinh doanh, lại có người suy nghĩ về sự vô thường của vạn vật, về bản chất của con người, những mối sa ngã và các tính xấu…

Cuốn sách đẹp như một bài thơ thanh sáng, một câu chuyện cổ tích về tình yêu thương, lòng nhân ái, ý nghĩa của sự tồn tại, về sự cảm thông giữa người với người… Sự giản dị trong sáng tỏa khắp tác phẩm đã khiến nó trở thành một bài thơ bất hủ mà mãi mãi người ta muốn đem làm quà tặng của tình yêu. Cho đến nay, không biết bao nhiêu người đã đọc đi đọc lại tác phẩm này để rồi lần nào cũng lặng đi trong nước mắt.

TIỂU THUYẾT THANH GƯƠM DIỆT QUỶ – ĐÓA HOA HẠNH PHÚC

HOÀNG TỬ BÉ

Trên đường thực thi nhiệm vụ, tiện đường ghé qua một ngôi làng, Tanjiro đã bắt gặp bóng hình hạnh phúc của một cô dâu trạc tuổi Nezuko trong đám cưới của mình. Em gái của anh là người con gái dịu hiền hơn bất cứ ai. Em gái của anh, dù có biến thành quỷ, cũng không vứt bỏ sự ấm áp của mình.

Nếu có một điều ước, anh ước mong em có thể trở thành người con gái hạnh phúc nhất thế gian. Với mong muốn em gái cũng sẽ được hạnh phúc, cậu đã một mình lên đường tìm kiếm loài hoa trong truyền thuyết. Tuy nhiên…

“Đóa hoa hạnh phúc” là tiểu thuyết chuyển thể đầu tiên của bộ truyện tranh đình đám Nhật Bản: “Kimetsu no Yaiba – Thanh gươm diệt quỷ”!! Tuy ra mắt không lâu, nhưng series tiểu thuyết này cũng đã nhanh chóng công phá các bảng xếp hạng tại Nhật với con số lên tới hàng triệu-bản-in!!

Như một lát cắt bình yên và đầy xúc cảm xoay quanh các nhân vật được yêu mến của phần chính truyện, chắc chắn “Đóa hoa hạnh phúc” sẽ mang lại cho các Fan những phút giây thư thái và lắng đọng. Ngoài ra cuốn sách nhỏ này còn chứa những câu chuyện về Zenitsu, Inosuke và các thành viên trong đội Diệt Quỷ chưa từng được nhắc tới trong truyện chính! Không những thế, phần phụ lục “Học viện Diệt Quỷ” rất được yêu thích cũng được viết thành tiểu thuyết!!

TIỂU THUYẾT THANH GƯƠM DIỆT QUỶ – ĐÓA HOA HẠNH PHÚC

SINH VẬT THẦN THOẠI KHẮP THẾ GIAN

TIỂU THUYẾT THANH GƯƠM DIỆT QUỶ – ĐÓA HOA HẠNH PHÚC

Châu Âu cổ kính, châu Phi hoang dã, châu Á kì bí, Trung Đông huyền diệu, “Tân lục địa” chứa đầy bí ẩn bất ngờ… những nền văn minh ở khắp các châu lục tồn tại nhiều nghìn năm, phát triển rực rỡ và để lại di sản thần thoại phong phú, với vô vàn sinh vật huyền bí cùng các tích truyện li kì.

Cuốn sách này tập hợp truyện kể về những sinh vật huyền bí khắp năm châu bốn biển. Mỗi truyện đính kèm thông tin về sinh vật như chủng loài, nơi sinh sống, các khả năng đặc biệt… cùng đánh giá mức độ nguy hiểm của chúng dựa trên thang điểm:

Vô hại, thậm chí còn giúp đỡ loài người.

Khá phiền phức, nhưng có thể trị được.

Nguy hiểm, hãy hết sức cẩn trọng khi đối đầu với chúng!

Cực kì nguy hiểm, mau chạy đi!

May ra thần linh mới trị được đám này!

ĐẢO NGÀN SAO

SINH VẬT THẦN THOẠI KHẮP THẾ GIAN

Emma Kristina Karinsdotter sinh ngày 28 tháng 11 năm 1985, là nữ nhà văn Thụy Điển. Đảo ngàn sao – cuốn sách thứ ba của cô – nhận được đề cử cho giải thưởng Barnradions bokpris 2023 và được bán bản quyền sang Nga, Na Uy, Estonia, Trung Quốc, Việt Nam và Cộng hòa Séc ngay sau khi ra mắt.

Truyện kể về Tigris mồ côi mẹ từ khi lên một, nhưng suốt nhiều năm, cô bé chưa từng khóc. Có lẽ cô nuốt nước mắt vào trong bởi không muốn người cha sầu muộn héo hon của mình thêm khổ sở. Nhưng đêm nào cô cũng ngước nhìn trời sao lấp lánh, thổn thức nhớ thương mẹ. Một ngày, chiếc rương gỗ thơm hương hoa hồng – kỉ vật của mẹ cô – bỗng trở thành cánh cổng thần kì kết nối tới một nơi chốn thần tiên xa lạ: Đảo Ngàn Sao – thế giới do mẹ Tigris tạo ra. Điều gì đón chờ cô bé một khi đặt chân lên đảo? Bí mật gì ẩn giấu dưới bầu trời sao, giữa những lớp sóng bạc của Biển Vô Cực bao la?

TRUYỆN NGẮN LỖ TẤN

ĐẢO NGÀN SAO

Cuốn sách tuyển chọn những truyện ngắn xuất sắc, tiêu biểu nhất của nhà văn Lỗ Tấn như: Nhật kí người điên, Cố hương, A Q. chính truyện, Thuốc, Hát tuồng ngày rước thần, Lễ cầu phúc, Thị chúng, Cây trường minh đăng, Khổng Ất Kỷ, Ngày mai, Sóng gió, Thỏ và mèo, Ly hôn. Ngoài phần giới thiệu về tác giả, dịch giả, cuốn sách còn có phần phụ lục “Bí quyết viết truyện ngắn của Lỗ Tấn” của Phó Giáo sư, Dịch giả Trương Chính.

“Lỗ Tấn là nhà văn vĩ đại nhất châu Á trong thế kỉ 20.” (Nhà văn Nhật Bản KENSABURO OE)

“Lỗ Tấn không chỉ là một nhân vật, Lỗ Tấn là cả một thời đại.” (Giáo sư ĐẶNG THAI MAI)

“Lỗ Tấn được xem là một người có tài viết truyện ngắn. Quả thật, truyện ngắn của ông, đọc đi đọc lại nhiều lần, vẫn hay vẫn có một ý vị đậm đà, và mặc dầu thời gian trôi qua không hề phai nhạt. Ý nghĩa thì hàm súc đến nỗi bao nhiêu lớp người đã dày công nghiên cứu, phân tích mà tuồng như chưa nói hết.” (Phó giáo sư, Dịch giả TRƯƠNG CHÍNH)

“Đọc Lỗ Tấn, đằng sau cái giọng bình thản gần như lạnh lùng của người kể chuyện, chúng ta cảm thấy cả một khối nhiệt tình nóng bỏng. Lỗ Tấn đã có phong độ của người thầy thuốc lão luyện: rất thương xót người bệnh nhưng khi đã lách mũi dao vào người con bệnh thì điều cần thiết trước tiên lại là thái độ điềm tĩnh, thận trọng. Quả là nhà văn đã có ý tự kiềm thúc để cho ngòi bút có thể khoáy sâu vào ung nhọt xã hội, để có thể tuân theo một cách nghiêm khắc những nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực. Chính vì thế, đọc truyện Lỗ Tấn chúng ta có cảm giác tác giả luôn luôn tự giấu mình, nhưng hình như ở chỗ nào chúng ta cũng thấy ẩn hiện bóng dáng tác giả.” (Giáo sư LƯƠNG DUY THỨ)

Giá bán: 54.000 đồng

TRUYỆN NGẮN LỖ TẤN

Đăng bởi: Hùng Việt

Từ khoá: 10 cuốn sách văn học nước ngoài hay nhất của NXB Kim Đồng

6 Bài Soạn “Thuyết Minh Về Một Thể Loại Văn Học” (Lớp 8) Hay Nhất

Ở các loạt bài trước, chúng mình đã giới thiệu khá đầy đủ về thể loại văn thuyết minh, về phương pháp, đặc điểm và cách làm một bài văn thuyết minh. Để tìm hiểu cụ thể dạng bài thuyết minh về một thể loại văn học, mời các bạn tham khảo một số bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” trong Ngữ Văn lớp 8 ngắn gọn, chi tiết đã được tổng hợp trong bài viết sau đây.

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 6

b) Mỗi một thể loại văn học có những đặc thù riêng, thuyết minh về một thể loại văn học là giải trình về những điểm riêng ấy. Nên gắn việc thuyết minh về thể loại văn học với phương pháp nêu ví dụ để cụ thể hoá vấn đề.

c) Lập dàn ý

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 5

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 6

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

Thuyết minh về một thể loại văn học là một loại thuyết minh khó. Bởi lẽ, muốn rút ra được những nhận thức quan trọng để thuyết minh, các em phải có một số hiểu biết nhất định về thơ: luật bằng – trắc, vần, niêm, đối, nhịp,… Chỉ có như vây, việc thuyết minh của các em mới có kết quả. Luật bằng – trắc, vần, niêm, đối, nhịp,… chính là những công cụ, phương tiện để các em khám phá, nhận thức thơ nói chung và thơ Việt Nam nói riêng.

Dùng công cụ trên, các em sẽ quan sát, khám phá và phát hiện đặc điểm của hai bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác và Đập đá ở Côn Lôn. Các em sẽ phát hiện ra:

– Đây là thể thơ thất ngôn bát cú (mỗi dòng bảy tiếng, mỗi bài tám dòng thơ).

– Nhịp thơ thường là 4 / 3:

Bủa tay ôm chặt / bồ kinh tế,

Mở miệng cười tan / cuộc oán thù.

Thân ấy vẫn còn, / còn sự nghiệp

Bao nhiêu nguy hiếm / sợ gì đâu.

(Vào nhà ngục Quảng Đỏng cảm tác)

Tháng ngày bao quản / thân sành sỏi,

Mưa nắng càng bền / dạ sắt son.

Những kẻ vá trời / khi lỡ bước,

Gian nan chi kể / việc con con.

(Đập đá ở Côn Lôn)

Khi đọc một dòng thơ, sau một số tiếng nhất định, có nghĩa, các em dừng lại một chút trước khi đọc hết dòng thơ. Chỗ ngừng đó là những chỗ ngắt nhịp trong dòng thơ.

VÀO NHÀ NGỰC QUẢNG ĐÔNG CẢM TÁC

T – B – B – T / – T – B – B

T – T – B – B / – T – T – B

T – T – B – B / – B – T – T

T – B – T – T / – T – B – B

T – B – B – T / – B – B – T

B – T – T – B / – B – T – T

B – B – B – T/ – T – B – B

ĐẬP ĐÁ Ở CÔN LÔN

B – B – T – T / – T – B – B

B – T – B – B / – T – B – B

T – T – T – B / – B – T – T

B – T – B – B / – T – T – B

B – B – B – T / – T – B – B

Dựa vào luân phiên B – T này các em có thể tìm ra niêm và đối trong bài thơ:

– Niêm (dính nhau): Tiếng dòng trên và tiếng tương ứng dòng dưới đều B. Ví dụ:

Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn,

Lừng lẫy làm cho lở núi non.

(làm / lừng: niêm với nhau)

– Đối: Tiếng dòng trên B và tiếng tương ứng dòng dưới T. Ví dụ, trong hai dòng thơ dẫn trên thì trai / lẫy đối với nhau.

II. HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU BÀI

Tham khảo để viết bài thuyết minh về Thơ thất ngôn bát cú.

THƠ THẤT NGÔN

a) Thơ thất ngôn Đường luật có niêm luật (tức sự quy định thanh bằng, thanh trắc trong từng câu, từng bài) rất chặt. Nếu tiếng thứ hai của câu đầu có thanh bằng thì thơ thuộc thể bằng, tiếng thứ hai thanh trắc là thể trắc.

Ví dụ:

– Thể bằng: Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom

– Thể trắc: Tạo hoá gây chi cuộc hí trường

Thể trắc được coi là chính thể, còn thể bằng là biến thể.

b) Các câu trong bài lại phải dính với nhau, người ta gọi là niêm. Bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc theo một hệ thống như sau:

Tiếng thứ hai câu I niêm với tiếng thứ hai câu VIII.

Tiếng thứ hai câu II niêm với tiếng thứ hai câu III.

Tiếng thứ hai câu IV niêm với tiếng thứ hai câu V.

Tiếng thứ hai câu VI niêm với tiếng thứ hai câu VII.

Tóm lại: nhất – bát, nhị – tam, tứ – ngũ, lục – thất.

c) Thơ thất ngôn Đường luật chỉ dùng vần bằng và chỉ được gieo một vần (độc vận), thông thường thì bài bốn câu (tứ tuyệt) là ba vần, bài tám câu (bát cú) là năm vần, trừ biệt lệ.

– Biệt lệ về luật bằng trắc (gọi là lệ bất luận):

Nhất tam ngũ bất luận tức là tiếng đầu, tiếng thứ ba, tiếng thứ năm trong câu không kể bằng trắc, mà vẫn không coi là thất luật.

– Biệt lệ về cách trốn vần:

Muốn trốn vần thì hai câu trốn vần đó (tức hai câu đầu) phải đối nhau (gọi là song phong).

Lờ đờ mắt trắng đời không bạn

Lận đận đầu xanh tuổi đã già…

Một bài bát cú trốn vần phải có sáu câu đối nhau.

– Thể trắc thất ngôn bát cú.

Ví dụ: QUA ĐÈO NGANG

Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

Lom khom dưới núi, tiều vài chú,

Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.

Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,

Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.

Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,

Một mảnh tình riêng, ta với ta.

(Bà Huyện Thanh Quan)

– Thể bằng thất ngôn bát cú:

Ví dụ: THU ĐIẾU

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.

Tựa gối buông cần lâu chẳng được,

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

(Nguyền Khuyến)

Xét về mặt bố cục, bài thơ thất ngôn cách luật có bốn phần (đề, thực, luận, kết):

+ Đề gồm câu phá đề và thừa đề. Đây là phần mở bài, chuẩn bị không khí cho toàn bài.

+ Thực gồm hai câu III và IV đối nhau. Đây là phần triển khai ý từ câu thừa đề, như tả cảnh, tả việc, diễn ý, cắt nghĩa, chuẩn bị cho câu luận, hoặc đã ngầm có ý luận ở trong.

+ Kết gồm hai câu VII và VIII có chức năng khép bài, nhưng thông thường là gợi ý, mở ra một ý mới khiến người đọc bâng khuâng,…

Chú ý: Lối ngắt nhịp trong câu thơ thất ngôn bát cú Đường luật theo dạng 4/3, hoặc 2/2/3, tạo nên một nhịp điệu nhẹ nhàng, uyển chuyển, mềm mại. Thể thơ bảy tiếng cổ truyền ngắt theo nhịp 3/4 hoặc 3/2/2, kết hợp với lối hiệp vần hỗn hợp cả bằng lẫn trắc, cả vần chân lẫn vần lưng, tạo nên nhịp điệu câu thơ khoẻ.

(Đinh Trọng Lạc, Tiếng Việt 11, SGV,NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000).

III. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

1. Lập dàn bài thuyết minh đặc điểm của truyện ngắn (Dựa vào một số truyện ngắn đã học như: Tôi đi học, Lão Hạc, Chiếc lá cuối cùng).

a) Mở bài

Nêu định nghĩa truyện ngắn:

Ví dụ: “Truyện ngắn là hình thức tự sự loại nhỏ… tập trung mô tả một biến cố, một hành động, một trạng thái nào đó trong cuộc đời nhân vật, thể hiện một khía cạnh của tính cách hay một mặt nào đó của đời sống xã hội”.

b) Thân bài

Nêu các đặc điểm chính của truyện ngắn:

– Đặc điểm về dung lượng: số trang viết ít, không dài.

Chỉ ra đặc điểm này trong ba truyện ngắn Tôi đi học, Lão Hạc, Chiếc lá cuối cùng.

– Đặc điểm về sự kiện, nhân vật: ít nhân vật và sự kiện vì dung lượng truyện ngắn không lớn. Thường đó chỉ là một hoặc hai nhân vật với vài ba sự kiện nhỏ.

Phân tích Tôi đi học, Lão Hạc, Chiếc lá cuối cùng để thấy rõ hơn và cụ thể hơn về điều này.

– Đặc điểm về cốt truyện:

+ Diễn ra trong một khoảng không gian và thời gian hẹp.

+ Không kể trọn vẹn quá trình diễn biến của đời người mà thường chỉ chọn một thời đoạn, thời điểm hay một khoảnh khắc nào đó để trình bày.

Tiếp tục phân tích ba tác phẩm trên.

– Ý nghĩa:

Truyện tuy ngắn, dung lượng tuy không nhiều nhưng không phái vì thế ý nghĩa xã hội của truyện ngắn không lớn. Có những truyện độ dài không lớn nhưng ý nghĩa xã hội lại hết sức sâu sắc.

Chỉ ra ý nghĩa xã hội lớn lao của ba tác phẩm Tôi đi học, Lão Hạc và Chiếc lá cuối cùng.

c) Kết bài

Nêu cảm nhân của bản thân:

– Về vẻ đẹp, về sức hấp dẫn của truyện ngắn.

– Phù hợp với cuộc sống lao động khẩn trương trong giai đoạn hiện nay.

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 5

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 4

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 5

I. Từ quan sát đến mô tả, thuyết minh đặc điểm một thể loại văn học

Đề bài: “Thuyết minh đặc điểm thể thơ thất ngôn bát cú”.

Giải câu 1 (Trang 153 SGK ngữ văn 8 tập 1)

Đọc kĩ hai bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác và Đập đá ở Côn Lôn rồi trả lời câu hỏi.

a) Mỗi bài thơ có mấy dòng, mỗi dòng có mấy chữ (tiếng)? Số dòng số chữ ấy có bắt buộc không? Có thể tùy ý thêm bớt được không?

b) Tiếng có thanh huyền và thanh ngang gọi là tiếng bằng, kí hiệu là B, các tiếng có thanh hỏi, ngã, sắc, nặng gọi là tiếng trắc, kí hiệu là T. Hãy ghi kí hiệu bằng, trắc cho từng tiếng trong hai bài thơ đó.

c) Nhận xét quan hệ bằng trắc giữa các dòng với nhau, biết rằng nếu dòng trên tiếng bằng ứng với dòng dưới tiếng trắc thì gọi là “đối” nhau, nếu dòng trên tiếng bằng ứng với dòng dưới cũng tiếng bằng thì gọi là “niêm” với nhau (dính nhau). Dựa vào kết quả quan sát, hãy nêu mối quan hệ bằng trắc giữa các dòng.

d) Vần là bộ phận của tiếng không kể dấu thanh và phụ âm đầu (nếu có). Những tiếng có bộ phận vần giống nhau, ví dụ: an, than, can, man,… là những tiếng hiệp vần với nhau. Vần có thanh huyền hoặc thanh ngang gọi là vần bằng, vần có thanh hỏi, ngã, sắc, nặng gọi là vần trắc. Hãy cho biết mỗi bài thơ có những tiếng nào hiệp vần với nhau, nằm ở vị trí nào trong dòng thơ và đó là vần bằng hay trắc.

e) Thơ muốn nhịp nhàng thì phải phải ngắt nhịp, chỗ ngắt nhịp đọc hơi ngừng lại một chút trước khi đọc tiếp đến hết dòng. Chỗ ngắt nhịp cũng đánh dấu một chỗ ngừng có nghĩa. Hãy cho biết câu thơ bảy tiếng trong bài ngắt nhịp như thế nào.

Trả lời:

a) Mỗi bài thơ có 8 dòng, mỗi dòng 7 tiếng. Số dòng số chữ ấy là bắt buộc, không được tùy ý thêm bớt.

b) Kí hiệu bằng, trắc cho từng bài thơ :

– Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác :

Vẫn là hào kiệt vẫn phong lưu

(T – B – B – T – T – B – B )

Chạy mỏi chân thì hãy ở tù

(T – T – B – B – T – T – B )

Đã khách không nhà trong bốn biển

(T – T – B – B – B – T – T )

Lại người có tội giữa năm châu

(T – B – T – T – T – B – B )

Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế

(T – B – B – T – B – B – T )

Mở miệng cười tan cuộc oán thù

Thân ấy vẫn còn, còn sự nghiệp

(B – T – T – B – B – T – T )

Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu

(B – B – B – T – T – B – B )

– Đập đá ở Côn Lôn :

Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn

(B – B – T – T – T – B – B )

Lừng lẫy làm cho lở núi non

(B – T – B – B – T – T – B )

Xách búa đánh tan năm bảy đống

(T – T – T – B – B – T – T )

Ra tay đập bể mấy trăm hòn

Tháng ngày bao quản thân sành sỏi

Mưa nắng càng bền dạ sắt son

Những kẻ vá trời khi lỡ bước

Gian nan chi kể việc con con

c) Nhận xét quan hệ bằng trắc :

– Tiếng thứ 4 của các câu luôn trái thanh với tiếng thứ 2 và thứ 6. Ví dụ câu 1 bài Đập đá ở Côn Lôn : B – B – T – T – T – B – B

– Các tiếng 2, 4, 6 của các cặp câu 1-2, 3-4, 5-6, 7-8 luôn trái ngược về thanh.

– Các tiếng 2, 4, 6 của câu 1-8, 2-3, 4-5, 6-7 trùng nhau về thanh điệu.

d) Những tiếng hiệp vần với nhau trong bài thơ là ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8.

e) Thường ngắt nhịp chẵn lẻ : 4/3, 2/2/3

Giải câu 2 (Trang 153 SGK ngữ văn 8 tập 1)

Lập dàn bài: Thuyết minh đặc điểm thể thơ thất ngôn bát cú

a) Mở bài: Nêu định nghĩa chung về thể thơ.

Ví dụ: Thất ngôn bát cú là một thể thơ thông dụng trong các thể thơ Đường luật, một thể thơ được viết theo luật đặt ra từ thời nhà Đường ( 618 – 907 ) được các nhà thơ rất yêu thích. Các nhà thơ cổ điển VN ai cũng làm thơ theo thể thơ này bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm.

b) Thân bài: Giới thiệu các đặc diểm của thể thơ:

– Số câu, số chữ– Quy luật B – T– Cách gieo vần– Cách ngắt nhịp…– Bố cục– Nghệ thuật đối

Ưu điểm: Bài thơ có vẻ đẹp hài hòa cân đối ( số câu chữ bố cục ) âm thanh nhạc điệu trầm bổng ( vần luật bằng trắc )

Hạn chế: Vì niêm luật chặt chẽ nên việc diễn tả cảm xúc gò bó vì bị ràng buộc không được tự do như thơ tự do.

c) Kết bài: Cảm nhận của người viết về vẻ đẹp, nhạc điệu của thể thơ.

Ví dụ: Đây là thể thơ quan trọng có nhiều tác phẩm có giá trị được làm theo thể thơ này. Và cho đến nay nó vẫn được ưa chuộng.

II. Luyện tập

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 3

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 4

I. Từ quan sát, nghe – đọc đến mô tả, thuyết minh về một thể loại văn học

Đề bài: Thuyết minh đặc điểm của thể thơ thất ngôn bát cú.

1. Quan sát

Đọc kĩ hai bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác và Đập đá ở Côn Lôn rồi trả lời các câu hỏi :a. Mỗi bài thơ có mấy dòng, mỗi dòng có mấy chữ (tiếng)? Số dòng, số chữ ấy có bắt buộc không? Có thể tuỳ ý thêm bớt được không?b. Tiếng có thanh huyền và thanh ngang gọi là tiếng bằng, kí hiệu B, các tiếng có thanh hỏi, ngã, sắc, nặng gọi là tiếng trắc, kí hiệu T. Hãy ghi kí hiệu bằng, trắc cho từng tiếng trong bài thơ đó.c. Nhận xét quan hệ bằng trắc giữa các dòng với nhau, biết rằng nếu dòng trên tiếng bằng ứng với dòng dưới tiếng trắc thì gọi là “đối” nhau, nếu dòng trên tiếng bằng ứng với dòng dưới cũng tiếng bằng thì gọi là “niêm” với nhau (dính nhau).

Dựa vào kết quả quan sát, hãy nêu mối quan hệ bằng trắc giữa các dòng.d. Vần là bộ phận của tiếng không kể dấu thanh và phụ âm đầu (nếu có). Những tiếng có bộ phận vần giống nhau, ví dụ: an, than, can, man… là những tiếng hiệp vần nhau. Vần có thanh huyền hoặc thanh ngang gọi là vần bằng, ván có thanh hỏi, ngã, sắc, nặng gọi là vần trắc. Hãy cho biết mỗi bài thơ có những tiếng nào hiệp vần với nhau, nằm ở vị trí nào trong dòng thơ và đó là vần bằng hay vần trắc.e. Thơ muốn nhịp nhàng thì phải ngắt nhịp, chỗ ngắt nhịp đọc hơi ngừng lại một chút trước khi đọc tiếp đến hết dòng. Chỗ ngắt nhịp cũng đánh dấu một chỗ ngừng có nghĩa. Hãy cho biết câu thơ bảy tiếng trong bài ngắt nhịp như thế nào?

a. Quan sát:

Quan sát hai bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác và Đập đá Côn Lôn. – Mỗi bài thơ có 8 dòng, mỗi dòng có 7 tiếng, số dòng số chữ bắt buộc theo quy định.

Quan hệ bằng trắc theo quy định, đặc biệt ở các tiếng 2-4-6.

Vẫn rơi vài câu cuối dòng, vần bằng vào các câu 2-4-6-8: non, hôn, sen, con. – Ngắt nhịp 4/3/ “Vẫn là hào kiệt / vẫn phong lưu Chạy mỏi chân thì / hãy ở tù’’.

b. Ghi lại luật bằng, trắc. Những từ có dấu huyền, không dấu (thanh bằng – B), các dấu còn lại (thanh trắc – T)

Bài Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác

Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu. (T-B-B-T-T-B-B)

Chạy mỏi chân thì hãy ở tù. (T-T-B-B-T-T-B)

Đã khách không nhà trong bốn biển, (T – T – B – B – B – T – T)

Lại người có tội giữa năm châu. (T-B-T-T-T-B-B)

Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế, (T-B B-T-B-B-T)

Mà miệng cười tan cuộc oán thù. (T – T – B – B – T – T – B)

Thân ấy vẫn còn, còn sự nghiệp, (B-T-T-B-B-T-T)

Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu. (B-B-B-T-T-B-B)

Bài Đập đá ở Côn Lôn

Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn, (B-B-T-T-T-B-B)

Lừng lẫy làm cho lở núi non. (B-T-B-B-T-T-B)

Xách búa đánh tan năm bảy đống, (T – T – T – B – B – T – T)

Ra tay đập bể mấy trăm hòn. (B-B-T-T-T-B-B)

Tháng ngày bao quản thân sành sỏi, (T-B-B-T-B-B-T)

Mưa nắng càng bền dạ sắt son. (B-T-B-B-T-T-B)

Những kẻ vá trời khi lỡ bước, (T-T-T-B-B-T-T)

Gian nan chi kể việc con con. (B- B – B – T – T – B – B)

2. Lập dàn bài:

Ghi nhớ:

Muốn thuyết minh đặc điểm một thể loại văn học (thể thơ hay văn bản cụ thể), trước hết phải quan sát, nhận xét, sau đó khái quát thành những đặc điểm.

Khi nêu các đặc điểm, cần lựa chọn những đặc điểm tiêu biểu, quan trọng và cần có những ví dụ cụ thể để làm sáng tỏ các đặc điểm ấy.

Câu 1+2: trang 154 sgk Ngữ Văn 8 tập một

TRUYỆN NGẮN

Truyện ngắn là hình thức tự sự loại nhỏ. Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ, tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống: một biến cố, một hành động, một trạng thái nào đó trong cuộc đời của nhân vật, thể hiện một khía cạnh của tính cách hay một mặt nào đó của đời sống xã họi. Do đó, truyện ngắn thường ít nhân vật và sự kiện.

Truyện ngắn tuy ngắn nhưng cũng có thể đề cập tới những vấn đề lớn của cuộc đời. Tác phẩm của nhiều bậc thầy trong thể loại này đã cho ta biết điều đó.

Truyện ngắn là một thể loại văn học gần gũi và ta có thể sẽ tiếp xúc hàng ngày với chúng. Có rất nhiều những nhận định khác nhau về truyện ngắn, song, truyện ngắn là hình thức tự sự loại nhỏ để tái hiện lại một mảnh nhỏ của cuộc sống, có thể là môt biến cố, một hành động, một trạng thái trong cuộc đời của nhân vật, thể hiện một khía cạnh của tính cách hay một mặt nào đó của đời sống xã hội. Truyện ngắn thường có dung lượng ngắn, khoảng vài trang hoặc vài chục trang, sự kiện và nhân vật không nhiều. Còn những truyện cực ngắn chỉ khoảng vài trăm chữ.

Hệ quả của số lượng nhân vật ít là biến cố trong, sự kiện trong truyện cũng không nhiều. Bởi người nghệ sĩ sẽ chỉ lựa chọn một hoặc một vài sự kiện, biến cố trong cuộc đời nhân vật để khắc họa tính cách, số phận của nhân vật mà thôi. Như trong tác phẩm Tôi đi học tác giả đã lựa chọn cảm xúc của nhân vật tôi trong ngày khai giảng đầu tiên của cuộc đời, nhân vật trong truyện chỉ có người mẹ và nhân vật tôi. Truyện ngắn Lão Hạc có nhân vật lão Hạc, ông giáo, Binh Tư, cậu con trai, vợ ông giáo (chỉ được nhắc qua), những người dân trong làng (xuất hiện với vai trò là người chứng kiến cái chết của lão Hạc) và có sự kiện nổi bật trong tác phẩm là khi lão Hạc quyết định bán con chó Vàng để không phải ăn vào tiền của cậu con trai. Còn trong truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của O.Hen-ri câu chuyện chỉ xoay quanh các nhân vật Giôn-xi, cụ Bơ-men và Xiu với bức họa Chiếc lá cuối cùng .

Thứ hai, cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một không gian, thời gian hạn chế. Nó không kể chọn vẹn một quá trình diễn biến một đời người mà chọn lấy khoảnh khắc, những “lát cắt” của cuộc sống để thể hiện. Thanh Tịnh đã lựa chọn không gian biến đổi từ nhà tới trường học, trong khoảng thời gian như được kéo dài từ tối hôm trước đến sáng hôm sau, khi con bước chân qua cánh cổng trường để bắt đầu đi học. Nam Cao lựa chọn khắc họa lão Hạc trong khoảng thời gian lão sống xa con, lúc lão ốm đau bệnh tật và lựa chọn cái chết đau đớn đế giữ lại mảnh vườn cho con trai. Còn O. Hen-ri lại bắt đầu câu chuyện của mình bằng sự chán nản, tuyệt vọng để rồi người đọc thấ được sự hồi sinh trong tâm hồn cô gái trẻ khi trông thấy bức tranh vẽ chiếc lá cuối cùng bên bậu cửa sổ của cụ Bơ-men. Cả ba tác phẩm người đọc chỉ nhìn thấy một đoạn, một lát cắt trong cuộc đời của nhân vật chứ không phải là toàn bộ cuộc đời họ, từ lúc họ sinh ra, lớn lên, trưởng thành như thế nào.Điều ấy cũng đồng nghĩa với truyện ngắn chỉ là những khoảng khắc của cuộc sống, của đời người, nhưng chừng ấy cũng đủ để người đọc nhận ra được bản chất của nhân vật, con người trong tác phẩm ấy.

Không phải ngẫu nhiên Nam Cao lại đặt nhân vật ông giáo trong cái nhìn đối sánh với lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của mình. Tác giả muốn ông giáo có thể tìm thấy được mình trong cuộc đời của lão Hạc và cùng là để ca ngợi phẩm chất cao thượng, lương thiện của người nông dân trong xã hội xưa. O. Hen-ri đã rất thành công khi sử dụng hai lần thủ pháp đảo ngược tình huống gây ra sự bất ngờ đến ngỡ ngàng cho người đọc. Sự hồi phục đầy kinh ngạc của Giôn-xi và cái chết không báo trước của cụ Bơ-men. Tất cả những chi tiết ấy là làm sống dậy tình người giữa những con người nghèo khổ với nhau.

Tuy dung lượng không dài song truyện ngắn là một thể loại mang tới cho người đọc nhiều cung bậc cảm xúc và những bài học nhận thức sâu sắc trong cuộc sống. Đến tận ngày nay, vai trò của truyện ngắn trong đời sống của con người vẫn không thể phủ nhận.

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 2

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 3

Phần I

TỪ QUAN SÁT ĐẾN MÔ TẢ, THUYẾT MINH ĐẶC ĐIỂM MỘT THỂ LOẠI VĂN HỌC

Quan sát, nghe – đọc

Đọc kĩ hai bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác và Đập đá ở Côn Lôn theo định hướng sau:

a. Mỗi bài thơ có mấy dòng? Mỗi dòng thơ có mấy chữ (tiếng)? Số dòng, số chữ ấy có thể thay đổi được không?

b. Những tiếng nào được gọi là bằng (kí hiệu là B), tiếng nào được gọi là trắc (kí hiệu là T)? Hãy ghi kí hiệu B hoặc T cho từng tiếng trong bài thơ đó.

c. Nhận xét quan hệ bằng trắc giữa các dòng với nhau, biết rằng nếu dòng trên tiếng bằng ứng với dòng dưới tiếng trắc gọi là đối nhau, nếu dòng trên tiếng bằng ứng với dòng dưới cũng là tiếng bằng gọi là niêm với nhau. Dựa vào kết quả quan sát, hãy nêu mối quan hệ bằng trắc giữa các dòng.

d. Hãy cho biết mỗi bài thơ có những tiếng nào hiệp vần với nhau, nằm ở vị trí nào trong dòng thơ, đó là vần bằng hay trắc.

e. Hãy cho biết câu thơ tiếng bảy tiếng trong bài ngắt nhịp thế nào?

Lời giải chi tiết:

1. Quan sát Bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác

a) Bài thơ có 8 dòng, mỗi dòng 7 chữ (tiếng). Số dòng, số chữ ấy là bắt buộc. Không thể tuỳ ý thêm bớt.

b) Tiếng bằng, tiếng trắc:

Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu.

(T-B-B-T-T-B-B)

Chạy mỏi chân thì hãy ở tù.

(T-T-B-B-T-T-B)

Đã khách không nhà trong bốn biển,

(T – T – B – B – B – T – T)

Lại người có tội giữa năm châu.

(T-B-T-T-T-B-B)

Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế,

(T-B B-T-B-B-T)

Mà miệng cười tan cuộc oán thù.

(T – T – B – B – T – T – B)

Thân ấy vẫn còn, còn sự nghiệp,

(B-T-T-B-B-T-T)

Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì dâu.

(B-B-B-T-T-B-B)

c) Dòng 1 và 2 đối nhau (tiếng là bằng, tiếng mỏi trắc), dòng 2 và 3 niêm nhau (tiếng mỏi trắc, tiếng khách trắc), dòng 3 và 4 đối nhau (tiếng khách trắc, tiếng người bằng), dòng 4 và 5 niêm nhau (tiếng người bằng, tiếng tay bằng), dòng 5 và 6 đối nhau (tiếng tay bằng, tiếng miệng trắc), dòng 6 và 7 niêm nhau (tiếng miệng trắc, tiếng ấy trắc), dòng 7 và 8 đối nhau (tiếng ấy trắc, tiếng nhiều bằng), dòng 1 và 8 niêm nhau (tiếng là bằng, tiếng nhiêu bằng). Hệ thống bằng – trắc được tính từ âm tiết thứ hai cùa mỗi dòng thơ. Âm tiết thứ hai ở dòng thứ nhất của bài thơ này là bằng cho nên bài thơ thuộc thể bằng.

d) Ở bài thơ này, khẩu khí, những câu thơ đối nhau đã góp phần tạo nên âm hưởng, nhịp điệu của bài thơ.

e) Các câu thơ trong bài ngắt nhịp 4/3.

2. Bài thơ Đập đá ở Côn Lôn

Làm trai dứng giữa đất Côn Lôn,

(B-B-T-T-T-B-B)

(B-T-B-B-T-T-B)

Xách búa đánh tan năm bảy đống,

(T – T – T – B – B – T – T)

Ra tay đập bể mấy trăm hòn.

Tháng ngày bao quản thân sành sỏi,

(T-B-B-T-B-B-T)

Mưa nắng càng bền dạ sắt son.

Những kẻ vá trời khi lỡ bước,

(T-T-T-B-B-T-T)

Gian nan chi kể việc con con.

(B- B – B – T – T – B – B)

c) Dòng 1 và 2 đối nhau, dòng 2 và 3 niêm nhau… Bài thơ được làm theo thể bằng.

d) Các tiếng có vần giống nhau là những tiếng cuối của các dòng: 1, 2, 4, 6, 8 (vần on). Đó là vần bằng.

e) Các câu thơ trong bài ngắt nhịp 4/ 3.

Phần II

LUYỆN TẬP

Câu 1 (trang 154 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Qua các truyện ngắn đã đọc (Tôi đi học, Lão Hạc, Chiếc lá cuối cùng,…), hãy thuyết minh về đặc điểm của thể loại truyện ngắn.

Mở bài:

– Nêu định nghĩa về truyện ngắn

Thân bài:

– Nêu các đặc điểm chính của truyện ngắn

+ Đặc điểm về dung lượng: số trang viết ít, không dài.

– Đặc điểm về sự kiện, nhân vật: ít nhân vật và sự kiện vì dung lượng truyện ngắn không lớn. Thường chỉ vài nhân vật và sự kiện nhỏ.

+ Diễn ra trong một khoảng thời gian và không gian hẹp

+ Không diễn đạt trọn vẹn cuộc đời mà diễn đạt theo từng khoảng thời gian

– Ý nghĩa: Mang ý nghĩa nhân sinh, ý nghĩa xã hội.

Kết bài: Nêu cảm nhận của bản thân:

+ Về vẻ đẹp, sức hấp dẫn của truyện ngắn

+ Phù hợp với cuộc sống lao động khẩn trương hiện nay

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 2

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 1

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 2

Đề bài: Thuyết minh đặc điểm thể thơ thất ngôn bát cú

a, Mỗi bài thơ có 7 tiếng, số dòng và số chữ có bắt buộc và không thể tùy tiện thêm bớt.

b, Sử dụng kí hiệu bằng trắc cho hai bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác và Đập đá ở Côn Lôn

( T-B-B-T/ – T- B- B )

( T- T-B-B-T-T-B)

( T- T- B- B- B-T-T)

( T- B- T- T-T-B-B)

( T- B- B- T-B- B-T)

Miệng cười tan cuộc oán thù

( T- T- B- T- T- B)

( B- T- T- T/ B- T-T)

Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu.

( B- B-B- T- T- T- B)

c, Niêm luật của bài thơ:

+ Niêm (dính nhau) tiếng dòng trên tương ứng với dòng dưới đều B

+ Đối: tiếng dòng trên B ứng với tiếng dòng dưới T

d, Những tiếng ở cuối câu luôn hiệp vần với nhau, câu 1- 2- 4- 6- 8

e, Thường ngắt nhịp chẵn lẻ: 4/3 ; 2/2/ 3

Đăng bởi: Thiều Phạm

Từ khoá: 6 Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” (lớp 8) hay nhất

Văn Mẫu Lớp 9: Thuyết Minh Về Bến Nhà Rồng 2 Dàn Ý & 11 Bài Thuyết Minh Lớp 9 Hay Nhất

Bến Nhà Rồng có tên chính thức là Bảo tàng Hồ Chí Minh, nằm bên sông Sài Gòn, thuộc quận 4 thành phố Hồ Chí Minh. Bến Nhà Rồng vừa mang kiến trúc độc đáo vừa in đậm dấu ấn lịch sử của Việt Nam. Mời các em cùng theo dõi bài viết để ngày càng học tốt mônVăn 9:

Dàn ý thuyết minh về Bến Nhà Rồng Dàn ý 1

1. Mở bài

Giới thiệu và dẫn dắt vào vấn đề cần thuyết minh: di tích lịch sử Bến Nhà Rồng.

2. Thân bài

a. Khái quát chung về Bến Nhà Rồng

Bến Nhà Rồng, tên chính thức là Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, là tên gọi thông dụng để chỉ cụm di tích kiến trúc – bảo tàng nằm bên sông Sài Gòn, thuộc quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ năm 1975, cụm di tích kiến trúc của thương cảng Nhà Rồng đã được Nhà nước Việt Nam xây dựng lại thành khu lưu niệm Hồ Chí Minh, và ngày 5 tháng 6 được chọn là Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước ở Việt Nam.

b. Kiến trúc của Nhà Rồng

Nhà Rồng được khởi công xây dựng ngày 4 tháng 3 năm 1863 và hoàn thành trong 1 năm.

Kiến trúc tòa nhà theo phong cách kiến trúc phương Tây nhưng trên nóc nhà gắn hai con rồng lớn bằng đất nung tráng men xanh, châu đầu vào mặt trăng theo mô típ “Lưỡng long chầu nguyệt” – một kiểu trang trí quen thuộc của đình chùa Việt Nam.

Từ nǎm 1995 đến nay, đơn vị đã tổ chức trưng bày 20 chuyên đề mang tính thời sự tại Bảo tàng và 16 cuộc trưng bày lưu động tại các vùng sâu vùng xa, các quận huyện ngoại thành.

3. Kết bài

Khái quát lại giá trị, ý nghĩa của Bến Nhà Rồng.

Dàn ý 2

I. Mở bài

Giới thiệu ngắn gọn về Bến Nhà Rồng

II. Thân bài

– Vị trí: Bến Nhà Rồng thuộc khu vực gần cầu Khánh Hội, nay thuộc quận 4.

– Lịch sử hình thành:

Bến nhà rồng là một thương cảng nằm trên sông Sài Gòn và trở thành một thương cảng lớn tại Sài Gòn.

Được xây dựng từ 1862 và hơn 2 năm sau đó bến nhà Rồng này được hoàn thành vào năm 1864.

Tại nơi đây, vào ngày 5 tháng 6 năm 1911 đã tạo nên lịch sử dân tộc là người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước.

Năm 1975 toà trụ sở xưa của thương cảng Nhà Rồng đã được Việt Nam xây dựng lại thành khu lưu niệm Hồ Chí Minh..

– Kiến trúc

Mục đích ban đầu xây dựng bến nhà Rồng là để làm nơi ở cho viên Tổng quản lý và nơi bán vé tàu.

Nóc nhà của bến nhà Rồng gắn hình rồng

Ở giữa là chiếc phù hiệu mang hình “Đầu ngựa và chiếc mỏ neo”.

Vào tháng 10 năm 1865, người Pháp đã cho dựng cột cờ để treo cờ hiệu để cho tàu thuyền ra vào Cảng nên biết vào ngay hay chờ đợi.

Toàn bộ kiến trúc xưa của tòa trụ sở thương cảng Nhà Rồng hầu như còn nguyên vẹn cho đến ngày nay.

– Ý nghĩa lịch sử

Là nơi Bác Hồ lên đường ra đi tìm đường cứu nước

Bảo tàng Hồ Chí Minh – bến Nhà Rồng có nhiệm vụ sưu tầm, bảo quản, giữ gìn những tư liệu, hiện vật về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Bác

III. Kết bài

Nêu cảm nghĩ của em và khẳng định lại ý nghĩa của di tích bến Nhà Rồng

Thuyết minh về Bến Nhà Rồng – Mẫu 1

Đã là người Việt Nam thì không ai là không biết đến bến Nhà Rồng ở thành phố Hồ Chí Minh. Đó là nơi bác Hồ – vị lãnh tụ vĩ đại kính yêu của chúng ta đã ra đường tìm đường cứu nước, tìm lại ánh sáng tự do, giúp nhân dân ta thoát khỏi ách nô lệ lầm than. Bến nhà Rồng từ lâu đã trở thành một nơi thiêng liêng và thành kính của người dân Sài Gòn nói riêng và người dân Việt Nam nói chung.

Nhà Rồng, ban đầu gọi là Trụ sở Công ty Vận tải Hoàng đế được khởi công xây dựng ngày 4 tháng 6 năm 1863 và hoàn thành trong vòng 1 năm. Kiến trúc toàn nhà theo phong cách kiến trúc phương Tây nhưng trên nóc nhà gắn hai con rồng lớn bằng đất nung tráng men xanh, châu đầu vào mặt trăng theo mô típ “Lưỡng long chầu nguyệt” – một kiểu trang trí quen thuộc của đình chùa ở Việt Nam. Phía hai đầu hồi tòa nhà có biểu tượng ký tự M.I. có thể nhìn thấy từ hướng sông Sài Gòn hoặc từ hướng đường Khánh Hội ra. Năm 1871, do ảnh hưởng của nền Cộng hòa, hãng đổi tên lại thành Messageries Maritimes. Chi tiết mặt trăng trên nóc nhà được thay bằng biểu tượng của hãng vương miện, mỏ neo và đầu ngựa. Phù hiệu “Đầu ngựa” hàm chỉ thời trước bên Pháp, hãng chuyên lãnh chở đường bộ với ngựa kéo xa, còn “Mỏ neo” tượng trưng cho tàu thuyền. Do đó, dân gian còn gọi là hãng Đầu ngựa. Sau năm 1955, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã cho tu bổ lại mái ngôi nhà và thay thế hai con rồng cũ bằng hai con rồng khác với tư thế quay đầu ra. Từ đó, kiến trúc Nhà Rồng hầu như còn nguyên vẹn cho tới ngày nay.

Như vậy, bến Nhà Rồng đã trở thành một địa điểm linh thiêng đối với mỗi người dân Việt Nam. Đó là nơi Hồ Chí Minh bắt đầu con đường cứu nước, giải phóng dân tộc và sự nghiệp Cách mạng gian truân mà hào hùng của dân tộc Việt ta cũng bắt đầu từ đó.

Thuyết minh về Bến Nhà Rồng – Mẫu 2

Người con nào của đất nhớ Sài Gòn đi đâu cũng tự hào về cảng Nhà Rồng quê mình, chứng nhân lịch sử, là nơi năm xưa, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước.

Bến Nhà Rồng vốn là một thương cảng, được xây dựng từ thời Pháp thuộc, nằm trên sống Sài Gòn, khu vực cầu Khánh Hội, nay là số 1 đường Nguyễn Tất Thành, quận 4, thành phố Hồ Chí Minh

Ngày Pháp chiếm được Nam Kì, chúng cho xây những thương cảng để vận chuyển hàng hóa, giao thương với quốc tế. Ngày 4 tháng 3 năm 1963 , bến Nhà Rồng bắt đầu được đưa vào thi công, một năm sau thì hoàn thành. Lúc đầu vốn được dùng để cho quan Tổng quan lí ở nhưng đến năm 1899 bắt đầu được cho phép vận chuyển hàng hóa ở đây. Tuy nhiên, vì hàng hóa không phù hợp mà không vận chuyển được. Mãi về sau năm 1930, bến nhà rồng mới được hoàn thiện lại, dài 430km. Chính quyền Việt nam Cộng hòa đã cho trùng tu lại mái nhà và chỉnh cho 2 con rồng quay đầu ra ngoài vào năm 1955. Sau 1955, bến nhà rồng thuộc toàn quyền xử lí của quân đội Mỹ. Sau 1975, bến nhà rồng thuộc quyền quản lí của Cục đường biển Việt nam.

Bến Nhà Rồng có cái tên gọi như thế bởi nó có mái gắn đôi rồng quay đầu chầu mặt trăng. Tuy vậy, thay bởi mặt trăng là hình vương miện, mỏ neo và đầu ngựa. Phù hiệu đầu ngựa là tượng trưng cho loại phương tiện cổ của người Pháp thuở xưa, còn biểu tượng mỏ neo là tượng trưng cho ngành hàng hải. Chính tại nơi đây, những ngày chống giặc, không biết đã nổ ra bao nhiêu cuộc bạo động, biểu tình đòi quyền tự do, bình đẳng. Gần hai thế kỉ trôi qua, đã bao lần qua tu sửa, bến nhà Rồng vẫn mang một vẻ cổ kính, một vẻ rất văn hóa, rất quyến rũ

Nơi đây đã từng chứng kiến một sự kiện lịch sử rất quan trọng với dân tộc. Đó là ngày 5/6/1911, Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước trên con tàu Latouche Tréville với cái tên anh Ba. Bến nhà Rồng đã tiễn dấu chân người con tổ quốc bước ra đi, bước đi để tìm con đường về cứu nước. Bến nhà rồng trở thành hồi ức đẹp đẽ nhất về người. 2/9/1979, Bến nhà Rồng bây giờ trở thành bảo tàng Hồ Chí Minh mở cửa lần đầu tiên cho khách tham quan nhân kỉ niệm 10 năm ngày mất của Bác. Bảo tàng sưu tầm, lưu giữ rất nhiều những tài liệu, những hình ảnh về Bác, những câu chuyện trong quá khứ nhưng vẫn vàng son, chói lọi, trường tồn với cái tên Hồ chủ tịch.

Bước đi trong thời đại mới, ngắm nhìn bến Nhà rồng trong cuộc sống mới, lòng vẫn không thôi bồi hồi nhung nhớ. Nhìn con tàu đi, chợt ngẩn ngơ tưởng con tàu năm nào đã đưa bước Người đi ra nơi viễn xứ. Bến nhà Rồng tồn tại trong tâm trí con người Sài thành nói riêng, và cả đất nước Việt nam nói chung là chứng nhân lịch sử, là hồi ức không bao giờ quên về 1 người, về 1 thế hệ đã qua đi.

Thuyết minh về Bến Nhà Rồng – Mẫu 3

Trong số rất nhiều những điểm du lịch nổi tiếng ở thành phố Hồ Chí Minh, bến Nhà Rồng là địa điểm vừa mang kiến trúc độc đáo vừa in đậm dấu ấn lịch sử. Bến Nhà Rồng cũng là nơi gắn liền với con đường cách mạng, giải phóng dân tộc của Bác Hồ kính yêu, là một niềm tự hào của người dân thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và người Việt Nam nói chung.

Bến Nhà Rồng hay Bảo tàng Hồ Chí Minh đầu là một thương cảng lớn của Sài Gòn. Thương cảng này nằm trên sông Sài Gòn và được xây dựng từ 1862, và ngôi nhà Rồng này được hoàn thành hơn hai năm sau đó, trên khu vực gần cầu Khánh Hội, nay thuộc quận 4. Nhà Rồng được khởi công xây dựng ngày 4 tháng 3 năm 1863, do “Công ty vận tải đường biển” xây cất để làm nơi ở cho viên Tổng quản lý và nơi bán vé tàu. Nóc nhà gắn hình rồng, ở giữa thay vì trái châu thì là chiếc phù hiệu mang hình “Đầu ngựa và chiếc mỏ neo”. Đầu ngựa là do thời trước công ty này chuyên lãnh trở đường bộ với xe ngựa kéo, còn mỏ neo có ý nghĩa tượng trưng cho tàu thuyền. Cái tên “Nhà Rồng” có nhiều cách giải thích. Cách giải thích phổ biến nhất là vì nó có gắn đôi rồng lớn bằng đất nung tráng men xanh trên nóc nhà, có thuyết lại cho “Nhà Rồng” có nghĩa là Gia Long với nhà là Gia, rồng là Long. Người lớn tuổi gọi tên là Sở Ông Năm, vì hãng tàu biển này do quan năm Pháp Domergue đứng ra sáng lập. Năm 1955, sau khi thực dân Pháp thất bại ở Việt Nam, thương cảng Sài Gòn được chuyển giao cho chính quyền miền Nam Việt Nam quản lý. Họ đã cho tu bổ lại mái ngôi nhà và thay thế hai con rồng cũ bằng hai con rồng khác với tư thế quay đầu ra. Năm 1975, sau khi đất nước hoàn toàn độc lập, bến Nhà Rồng được cục đường biển Việt Nam quản lí, trở thành biểu tượng của thành phố Hồ Chí Minh.

Bến Nhà Rồng còn gắn liền với một cột mốc, sự kiện lịch sử mang tính chất trọng đại của cả quốc gia, dân tộc. Ngày 5/6/1911, với cái tên anh Ba, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã xuống tàu Admiral Latouche Tréville tại Bến Nhà Rồng xin làm chân phụ bếp để có điều kiện sang các nước châu u tìm hiểu và học tập nền văn minh của họ, từ đó tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc. Bến Nhà Rồng từ đó như một địa điểm lưu giữ những hồi ức đẹp về Bác. Ngày 2/9/1979, trong dịp kỷ niệm 10 năm ngày mất của Người, Nhà Rồng đã mở cửa đón khách tham quan. Bảo tàng có nhiệm vụ sưu tầm, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền về cuộc đời sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt là tập trung nhấn mạnh vào sự kiện ra đi tìm đường cứu nước và thể hiện mối quan hệ tình cảm của Bác Hồ với đồng bào, nhân dân Miền Nam. Không gian tưởng niệm chủ tịch Hồ Chí Minh ở lối sảnh chính. Trong bảo tàng còn trưng bày những bản Tuyên ngôn độc lập trong lịch sử Việt Nam: Bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt (năm 1077) ; “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi (năm 1428) và “Tuyên ngôn độc lập” của Bác Hồ (năm 1945). Bến Nhà Rồng – Bảo tàng Hồ Chí Minh của ngày hôm nay cũng là một địa chỉ văn hóa với nhiều hoạt động văn hóa – chính trị có ý nghĩa, gắn liền với cuộc sống.

Bến Nhà Rồng là một địa chỉ, một di tích lịch sử đặc biệt của thành phố Hồ Chí Minh. Bến Nhà Rồng sẽ sống mãi trong trái tim con người Việt Nam như là nơi khởi đầu, gắn liền với con đường giải phóng dân tộc của Bác Hồ. Đó là một dấu son chói lọi của thành phố Hồ Chí Minh, của lịch sử Việt Nam.

Thuyết minh về Bến Nhà Rồng – Mẫu 4

Một trong số rất nhiều những di tích lịch sử về Bác kính yêu mà chúng ta phải kể đến đó là Bến Nhà Rồng. Bến cảng Nhà Rồng lưu lại cho dân tộc Việt Nam một kỷ niệm thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Nơi Người đã đặt những bước chân đầu tiên trên hành trình ba mươi năm đi tìm đường cứu nước cho dân tộc.

Bến Nhà Rồng xưa là thương cảng lớn nằm bên sông Sài Gòn. Trụ sở là một tòa nhà lớn, cao hai tầng do Công ty Vận tải đường biển của Pháp là Messageries Maritimes xây dựng vào năm 1863, dùng làm nơi bán vé tàu và làm nơi ở cho người quản lý. Đến cuối năm 1899, công ty mới được phép xây cất bến để tàu cập bến. Bến được lót bằng ván dày, đặt trên trụ sắt dọc theo mé sông. Mỗi nơi neo đậu tàu cách nhau 18m. Bề ngang của mỗi bên vào phía trong bờ là 8m. Từ bờ ra bến có cầu rộng 10m. Con đường chạy sát bên cảng gọi là bến Khánh Hội. Bảo tàng – trước đây là trụ sở của Tổng Công ty vận tải Hoàng Đế – một trong những công trình đầu tiên do thực dân Pháp xây dựng sau khi chiếm được Sài Gòn. Ngôi nhà được xây dựng từ giữa năm 1862 đến cuối năm 1863 hoàn thành với lối kiến trúc phương Tây nhưng trên nóc nhà gắn hai con rồng châu đầu vào mặt trăng theo mô típ “Lưỡng long chầu nguyệt” – một kiểu kiến trúc quen thuộc của đình chùa Việt Nam. Với kiểu kiến trúc độc đáo đó nên trụ sở của Tổng Công ty vận tài Hoàng đế còn được gọi là Nhà Rồng và bến cảng cũng mang tên là Bến cảng Nhà Rồng. Năm 1955, sau khi thực dân Pháp thất bại ở Việt Nam, thương cảng Sài Gòn được chuyển giao cho chính quyền miền Nam Việt Nam quản lý. Họ đã cho tu bổ lại mái ngôi nhà và thay thế hai con rồng cũ bằng hai con rồng khác với tư thế quay đầu ra. Năm 1965, ngôi Nhà Rồng do quân đội Mỹ sử dụng làm trụ sở của Cơ quan tiếp nhận viện trợ quân sự Mỹ. Năm 1975, sau ngày đất nước thống nhất, Nhà Rồng – biểu tượng của cảng Sài Gòn – thuộc Cục đường biển Việt Nam quản lý.

Ngày nay, mọi người biết đến Bến Nhà Rồng là di tích lịch sử nổi tiếng ở Thành phố Hồ Chí Minh, được đánh số 01, đường Nguyễn Tất Thành, quận 4. Nếu đứng ở bến Bạch Đằng hay bến đò Thủ Thiêm nhìn sang bên kia sông Sài Gòn, bạn sẽ thấy nổi lên trên nền trời gần cầu Khánh Hội tòa nhà cổ kính, kiểu cách vừa Âu, vừa Á, gần đó là những tàu biển mang có đủ quốc tịch neo đậu san sát, cùng với những giàn cần cẩu hiện đại, cần mẫn bốc xếp hàng hóa lên xuống cảng.

Với người Việt Nam, Bến Nhà Rồng thực sự là một địa chỉ lưu giữ những ki niệm đẹp về Bác. Bến cảng Nhà Rồng chính là một trong những cột mốc đánh dấu bước ngoặt tạo nên lịch sử cho dân tộc ta. Sau khi rời trường Dục Thanh ở Phan Thiết, thầy giáo Nguyễn Tất Thành xin vào học trường Bách Nghệ chuyên đào tạo công nhân tại Sài Gòn. Ngày 5/6/1911, với cái tên anh Ba, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã xuống tàu Admiral Latouche Tréville tại Bến Nhà Rồng xin làm chân phụ bếp, để có điều kiện sang châu Âu và bôn ba khắp thế giới tìm đường cứu nước. Để ghi nhớ sự kiện Bác từ bến cảng Sài Gòn, để đi ra nước ngoài tìm đường cứu nước, sau ngày giải phóng đất nước Nhà Rồng được giữ lại làm Di tích Lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nga 2/9/1979 – nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của Người – nơi đây đã mở cửa đón khách tham quan phần trưng bày vẽ “Sự nghiệp tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 – 1945)”. Sau đó ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định thành lập “Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh – Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh”. Tòa nhà Bến Nhà Rồng hiện nay vẫn giữ nguyên kiến trúc cũ. Trên tổng diện tích quy hoạch 12.000m trừ diện tích xây dựng, còn lại tràn ngập màu xanh của đủ loại cây cỏ quý hiếm, hội tụ từ các địa phương. Đó là tâm lòng thành kính của đồng bào cả nước và khách nước ngoài thành kính dâng lên Người – Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Xung quanh bên, có tới ngót 400 gốc cây các loại quanh năm tươi xanh. Trong gần 40 chậu Mai chiếu thủy, có chậu tuổi thọ tới trên 200 năm. Một cây đa Tân Trào do chính cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh mang từ miền Bắc và trồng. Đặc biệt có cây bồ đề được tia xén rất công phu do Tổng thống Ấn Độ trồng lưu niệm trong chuyến thăm chính thức nước ta vào năm 1991. Ngoài ra còn có một số cây Hoàng Nam do sứ quán Thái Lan tặng.

Bảo tàng có nhiệm vụ nghiên cứu sưu tầm, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cơ sở các tư liệu, hiện vật của Bảo tàng. Đặc biệt nhấn mạnh đến sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước và mối quan hệ của Bác đối với nhân dân Sài Gòn và nhân dân miền Nam Việt Nam. Bảo tàng còn cung cấp cho người xem những thông tin lịch sử quý báu khái quát tình hình đất nước thời kháng chiến chống Pháp và hình ảnh của Hồ Chí Minh kính yêu. Đến với bảo tàng ta có thêm nhiều hiểu biết về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác qua phòng tưởng niệm: tư liệu về hệ thống các đền thờ Bác ở Nam Bộ, tác phẩm văn học nghệ thuật về Bác, quê hương và gia đình Bác. Bác trong quá trình tổ chức và lãnh đạo cách mạng Việt Nam thắng lợi – thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; tiếp tục đấu tranh giữ vững chính quyền cách mạng, kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, kết thúc bằng chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Lãnh đạo nhân dân cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời tiến hành cách mạng dân tộc Dân chủ ở miền Nam, hoàn thành thống nhất nước nhà. Những hoạt động của nhân dân cả nước thực hiện di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. 30 năm thực hiện Di chúc của Chủ Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh và sự nghiệp đổi mới đất nước… Ngoài những hoạt động chính, Bảo tàng còn tiến hành những hoạt động tuyên truyền giáo dục rộng rãi nhằm làm cho tư tưởng và đạo đức của Hồ Chủ tịch đi sâu vào quần chúng nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Đó là các hoạt động của tổ chức các Hội nghị khoa học, các cuộc tọa đàm giữa các thế hệ, nói chuyện chuyên đề về Bác, chiếu phim, thực hiện sưu tập những tư liệu hồi ký của Bác, các ấn phẩm về Bảo tàng, tổ chức kết nạp Đảng, Đoàn, Đội; tổ chức thi tiếng hát về Bác Hồ… là nơi hội họp, gặp gỡ của các tổ chức, đoàn thể đến sinh hoạt truyền thống, học tập và vui chơi; là nơi ra quân của nhiều phong trào cách mạng sôi nổi của thành phố.

Từ đó đến nay, Bảo tàng Hồ Chí Minh – Bến Nhà Rồng đã đón tiếp hàng chục triệu lượt khách trong và ngoài nước vào tham quan. Bến Nhà Rồng hôm nay là một địa chỉ đỏ, rực sáng trong trái tim, khối óc của con người Việt Nam và những ai đã một lần đến đây.

Thuyết minh về Bến Nhà Rồng – Mẫu 5

Nằm trong số những di tích lịch sử nổi tiếng của nước ta đó là Bến Nhà Rồng nơi Bác Hồ vĩ đại của chúng ta ra đi tìm đường cứu nước qua các nước phương Tây. Nơi đây chứa đựng những hình ảnh lịch sử của đất nước.

Bến Nhà Rồng hiện nay nằm ở đường Nguyễn Tất Thành, quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. Xưa kia nơi đây là thương cảng lớn thu hút rất nhiều tàu bè qua lại, do Công ty Vận tải Pháp là Messageries Maritimes xây dựng vào năm 1863. Ngôi nhà xây dựng vào thời từ 1862 đến năm 1863 mới hoàn thành, ngôi nhà được thiết kế theo lối kiến trúc phương Tây với trên nóc gắn hai con rồng châu đầu vào mặt trăng, tên gọi Bến Nhà Rồng cùng được xuất phát từ chính đặc điểm này.

Sau thời gian kháng chiến của nhân dân, thực dân Pháp thất bại thì Bến Nhà Rồng được chuyển giao cho chính quyền miền Nam Việt Nam quản lý và sửa hai con rồng lại với tư thế quay ra. Sau năm 1975 Bến Nhà Rồng được chuyển giao cho nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam trực tiếp quản lý.

Bến cảng vị trí giữa quận 1 và quận 4, vị trí thuận lợi và phía trước là bến Bạch Đằng. Buổi tối khi thành phố lên đèn nhìn từ xa bạn sẽ thấy bên càng nổi bật nhất với nhiều ánh đèn trang trí lung linh và huyền ảo. Bến cảng thiết kế theo kiến trúc Đông Tây kết hợp,các kiến trúc xưa đều còn nguyên vẹn cho đến hôm nay.

Đối với những người Việt Nam Bến Nhà Rồng là một kỷ niệm mang giá trị lịch sử, vào năm 1911 chàng trai trẻ có tên Nguyễn Tất Thành bước xuống con tàu Latouche Treville ra đi bốn phương để tìm đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam đang trong tình cảnh bị nô lệ, lầm than. Hiện nay, nơi này cũng lưu giữ nhiều giá trị hiện vật có giá trị, về cuộc đời cũng như sự nghiệp của Người, qua đó người xem sẽ hiểu hơn về một trong những con người anh hùng dân tộc, vĩ đại. Bảo tàng cũng là nơi thu hút hàng nghìn lượt khách trong nước và quốc tế đến thăm và khám phá thêm về Người.

Ngày nay, Bến Nhà Rồng là địa chỉ quen thuộc vẫn đang tiếp đón nhiều thế hệ con cháu đến thắp nhang, tìm hiểu về lịch sử và cuộc đời của Người, đồng thời tỏ lòng tôn kính, yêu mến vị lãnh tụ của dân tộc.

Bến Nhà Rồng luôn là một chứng tích lịch sử không chỉ là nơi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước mà còn thể hiện sự ngoan cường, tinh thần bất khuất của cả dân tộc Việt Nam.

Thuyết minh về Bến Nhà Rồng – Mẫu 6

Bến nhà Rồng là một trong những di tích lịch sử gắn liền với con đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Bến Nhà Rồng, hay Bảo tàng Hồ Chí Minh, khởi đầu là một thương cảng lớn của Sài Gòn. Thương cảng này nằm trên sông Sài Gòn và được xây dựng từ 1863, và hơn 2 năm sau đó, năm 1864, ngôi nhà Rồng này được hoàn thành, trên khu vực gần cầu Khánh Hội.

Nhà Rồng được khởi công xây dựng ngày 4 tháng 3 năm 1863, do “Công ty vận tải đường biển” xây cất để làm nơi ở cho viên Tổng quản lý và nơi bán vé tàu. Nóc nhà gắn hình rồng, ở giữa thay vì trái châu thì là chiếc phù hiệu mang hình “Đầu ngựa và chiếc mỏ neo”. Phù hiệu “Đầu ngựa” hàm chỉ thời trước bên Pháp, công ty này chuyên lãnh chở đường bộ với ngựa kéo xe, còn “Mỏ neo” tượng trưng cho tàu thuyền. Trụ sở công ty được giới bình dân gọi là Nhà Rồng, có nhiều thuyết về cái tên này: có thuyết nói rằng vì có gắn đôi rồng lớn bằng đất nung tráng men xanh trên nóc nhà, một thuyết khác cho rằng khác là Nhà Rồng có nghĩa là Gia Long với Nhà là Gia, Rồng là Long, bến Nhà Rồng được người Pháp đặt để nhớ tới quan hệ của vua Gia Long với nước Pháp. Vào tháng 10 năm 1865, người Pháp đã cho dựng cột cờ Thủ Ngữ. Từ “Thủ ngữ” có nghĩa là sở cạnh tuần tàu biển. Cột cờ treo cờ hiệu để cho tàu thuyền ra vào Cảng nên biết vào ngay hay chờ đợi. Đến gần cuối năm 1899, công ty được phép xây cất bến cho tàu cập vào. Bến lót ván dày, đặt trên trụ sắt dọc theo mé sông 42 mét (phía tàu cập vào). Bến này cách bến kia 18 mét. Bề ngang của mỗi bến vào phía trong bờ là 8 mét. Từ bờ ra bến có cầu rộng 10 mét. Ban đầu xây hai bến rồi xây thêm bến thứ ba.

Năm 1919, công ty được phép xây bến bằng xi măng cốt sắt, nhưng không thực hiện được, phải đến tháng 3 năm 1930 mới hoàn thành bến mới, chỉ một bến nhưng dài tới 430 mét.

Năm 1955, sau khi thực dân Pháp thất bại ở Việt Nam, thương cảng Sài Gòn được chuyển giao cho chính quyền miền Nam nước ta quản lý. Chính quyền đã cho tu bổ lại mái ngôi nhà và thay thế hai con rồng cũ bằng hai con rồng khác với tư thế quay đầu ra. Với diện tích gần 1500 mét vuông xây dựng làm tòa nhà, diện tích còn lại là hoa viên tràn ngập màu xanh lá với không khí thoáng mát, khung cảnh thơ mộng bao gồm trên 400 gốc cây quý từ khắp mọi miền đất nước tụ hội về đây khoe sắc tỏa hương, đặc biệt là cây đa tân trào của cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, gốc cây bồ đề của Tổng thống Ấn Độ. Năm 1965, ngôi nhà Rồng do quân đội Mỹ sử dụng làm trụ sở của Cơ quan tiếp nhận viện trợ quân sự Mỹ. Năm 1975, sau ngày đất nước thống nhất, nhà Rồng, biểu tượng của cảng Sài Gòn, thuộc Cục đường biển Việt Nam quản lý.

Ngày nay, bến nhà Rồng là một di tích lịch sử nổi tiếng ở Thành phố Hồ Chí Minh, tọa ở vị trí số 01, đường Nguyễn Tất Thành, quận 4. Nằm ở vị trí trung tâm, trước mặt là cửa biển Bạch Đằng lộng gió, khi thành phố lên đèn, bến nhà Rồng lung linh diễm lệ tô điểm thêm cho thành phố “ hòn ngọc của Viễn Đông”.

Bến nhà Rồng hiện nay là Bảo tàng Hồ Chí Minh, Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, là một trong những chi nhánh các bảo tàng và di tích lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cả nước. Bởi lẽ, Tại nơi đây, vào ngày 5 tháng 6 năm 1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành (sau này lấy tên là Hồ Chí Minh) đã xuống một con tàu làm phụ bếp để có điều kiện sang châu Âu. Sau này là Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước ở Việt Nam.

Bến cảng nhà Rồng là nơi lưu giữ biết bao tư liệu, hiện vật vô giá giúp cho thế hệ đi sau hiểu rõ hơn về cuộc đời cũng như sự nghiệp cách mạng vĩ đại của người Cha già dân tộc. Bảo tàng được xây dựng thành 12 phòng trưng bày với khoảng 170 tư liệu, hình ảnh và hiện vật.

Không chỉ thế, đây còn là địa chỉ để nhân dân đến nghiên cứu m tìm hiểu về cuộc đời về sự nghiệp cách mạng của Bác. Bến nhà Rồng cũng là một điểm đến thu hút hàng triệu khách du lịch trong nước cũng như quốc tế. Nhân dịp kỉ niệm 300 năm Sài Gòn Thành phố Hồ Chí Minh, Bến nhà Rồng đã vinh dự được chọn làm biểu tượng của một thành phố đã trải qua những cơn biến thiên trong lịch sử của cả dân tộc.

Thời gian vẫn cứ thế trôi đi, bến nhà Rồng vẫn sừng sững hiên ngang, là minh chứng đẹp đẽ và thuyết phục nhất về một vĩ nhân của Việt Nam- Bác kính yêu hay cũng chính là một bằng chứng lịch sử để gửi gắm đến muôn thế hệ mai sau về những tháng ngày mà cha ông chúng đã đi qua nhiều thử thách mà cũng thật oai hùng.

Thuyết minh về Bến Nhà Rồng – Mẫu 7

Một trong những nơi gắn với sự hòa bình của dân tộc ta đó là bến cảng nhà Rồng, Nơi đây chính là nơi mà Người đã ra đi tìm đường cứu nước năm 1911.

Bến Nhà Rồng khởi đầu là một thương cảng lớn của Sài Gòn. Thương cảng này nằm trên sông Sài Gòn và được xây dựng từ 1864, trên khu vực gần cầu Khánh Hội, nay thuộc quận 4. Tại nơi đây, vào ngày 5 tháng 6 năm 1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành (sau này lấy tên là Hồ Chí Minh) đã xuống con tàu Amiral Latouche Tréville làm phụ bếp để có điều kiện sang châu Âu. Do đó, từ 1975 toà trụ sở xưa của thương cảng Nhà Rồng đã được chính quyền Việt Nam xây dựng lại thành khu lưu niệm Hồ Chí Minh.

Kiến trúc của Nhà Rồng: Nhà Rồng được khởi công xây dựng ngày 4 tháng 3 năm 1863, do “Công ty vận tải đường biển” Pháp Messageries Maritimes xây cất để làm nơi ở cho viên Tổng quản lý và nơi bán vé tàu. Nóc nhà gắn hình rồng, ở giữa thay vì trái châu thì là chiếc phù hiệu mang hình “Đầu ngựa và chiếc mỏ neo”. Phù hiệu “Đầu ngựa” hàm chỉ thời trước bên Pháp, công ty này chuyên lãnh chở đường bộ với ngựa kéo xe, còn “Mỏ neo” tượng trưng cho tàu thuyền. Trụ sở công ty được giới bình dân gọi là nhà Rồng, có nhiều thuyết về cái tên này: có thuyết nói rằng vì có gắn đôi rồng lớn bằng đất nung tráng men xanh trên nóc nhà[1], một thuyết khác cho rằng khác là Nhà Rồng có nghĩa là Gia Long với Nhà là Gia, Rồng là Long, bến Nhà Rồng được người Pháp đặt để nhớ tới quan hệ của vua Gia Long với nước Pháp[2]. Người lớn tuổi gọi tên là Sở Ông Năm, vì hãng tàu biển này do quan năm Pháp Domergue đứng ra sáng lập.

Vào tháng 10 năm 1865, người Pháp cho dựng cột cờ Thủ Ngữ. Từ “Thủ ngữ” có nghĩa là sở canh tuần tàu biển. Cột cờ treo cờ hiệu để cho tàu thuyền ra vào Cảng nên biết vào ngay hay chờ đợi. Năm 1893, trụ sở công ty Nhà Rồng dùng đèn điện, dùng bóng đèn 16 nến, sáng leo lét, kém xa mấy ngọn đèn lồng thắp dầu lửa mà tòa đô chính cho thắp thử ở đường Catina (Đồng Khởi). Gần cuối năm 1899, công ty được phép xây cất bến cho tàu cập vào. Bến lót ván dày, đặt trên trụ sắt dọc theo mé sông 42 mét (phía tàu cặp vào). Bến này cách bến kia 18 mét. Bề ngang của moai bến vào phía trong bờ là 8 mét. Từ bờ ra bến có cầu rộng 10 mét. Ban đầu xây hai bến rồi xây thêm bến thứ ba. Năm 1919, công ty được phép xây bến bằng xi măng cốt sắt, nhưng không thực hiện được, phải đến tháng 3 năm 1930 mới hoàn thành bến mới, chỉ một bến nhưng dài 430 mét. Toàn bộ kiến trúc xưa của tòa trụ sở thương cảng Nhà Rồng hầu như còn nguyên vẹn cho đến ngày nay.

Đây là nơi mà bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, nó là một trong những di tích gắn với hòa bình của dân tộc ta.

Thuyết minh về Bến Nhà Rồng – Mẫu 8

Từ thành phố Hồ Chí Minh, tại Bến Nhà Rồng, Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước vì thế trong 64 tỉnh thành chỉ duy nhất nơi đây được vinh dự mang tên Bác kính yêu và Bến Nhà Rồng được xây dựng thành bảo tàng Hồ Chí Minh trở thành địa chỉ thân thương với nhân dân cả nước nói chung, nhân dân thành phố nói riêng.

Ngót một thế kỉ rưỡi (150 năm) trải qua bao biến cố thăng trầm, Bến Nhà Rồng vẫn sừng sững uy nghi tại số 1 đường Nguyễn Tất Thành quận 4 thành phố Hồ Chí Minh (xưa là đường Trịnh Minh Thế). Ngay một cửa ngõ thương cảng sầm uất nhất nước-cảng Sài Gòn. Bến Nhà Rồng nằm ngay trung tâm, trước mặt là bến Bạch Đằng lộng gió. Khi thành phố lên đèn cả khu vực lung linh huyền ảo góp phần tô điểm thành phố thêm lộng lẫy, xứng danh là “hòn ngọc của Viễn Đông” Ngày 4/3/1863, ngay sau khi chiếm được thành Gia Định, thực dân Pháp tiến hành mở cảng Sài Gòn và xây dựng trụ sở của công ty vận tải Hoàng Đế. Tòa nhà 3 tầng (2 lầu) được xây dựng theo lối kiến trúc phương Tây nhưng trên nóc nhà được gắn 2 con rồng lớn bằng đất hình trái châu theo mô típ “Lưỡng long chầu nguyệt”. Vì thế tòa nhà được gọi là Nhà Rồng và bến cảng được gọi là Bến Nhà Rồng (giới bình dân gọi là “Sở ông Năm” do viên quân Năm xứ Pháp đứng ra xây dựng). Khi chính quyền Mĩ ngụy tiếp quản thì đã chỉnh sửa đầu rồng quay qua 2 phía. Năm 1979, Ủy ban nhân dân thành phố trao cho Sở văn hóa thông tin thành phố xây dựng nơi đây thành khu lưu niệm Bác Hồ. Tháng 10/1995, Khu lưu niệm tiếp tục chỉnh lí, nâng cấp thành bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tòa nhà được xây dựng theo lối kiến trúc phương Tây nhưng có kết hợp kiến trúc phương Đông. Trên nóc nhà có kiến trúc đền chùa. Phía trên nóc có gắn phù điêu mang biểu tượng của công ty hình đầu ngựa và hình mỏ neo… Gọi là bến Nhà Rồng nhưng đến tháng 10/1865 nơi đây mới được xây dựng cột cờ thủ ngữ để treo cờ hiệu để tàu thuyền cập bến. năm 1899, mới xây dựng bến bằng ván dày gồm nhiều bến mỗi bến cách nhau 18 m. lúc đầu chỉ xây 1 bến, về sau công ty mới xây bến thứ 3. Năm 1919, mới xây bến bằng bê tông và đến tháng 3/1930 bến mới hoàn thành chỉ có 1 bến dài 430 m. Năm 2001, bức tượng Nguyễn Tất Thành được tạc nên ngay chính diện tòa nhà làm bảo tàng thêm uy nghi xứng tầm vóc lớn lao…

Thời gian trôi qua càng ngày Bến Nhà Rồng càng trở thành địa chỉ được lưu giữ những sự kiện trọng đại gắn liền với vận mệnh dân tộc. Ngày 5/6/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành với 2 bàn tay trắng đã bước xuống con tàu Latouche Treville trong cuộc hành trình “ 30 năm ấy chân không nghỉ”

Đón nhận ánh sáng của chủ nghĩa Mác Lênin tìm ra mặt trời chân lí rồi trở về lãnh đạo cả dân tộc tổng khởi nghĩa tháng 8/19945 thắng lợi lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Và sau đó vẫn theo tư tưởng của Người, nhân dân ta tiếp tục cuộc hành trình “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” để từ mùa xuân 1975 non sông gấm vóc thân thương nối liền một dải. Suốt những năm kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ nơi đây được nhân dân thành phố chọn làm địa điểm tổ chức những cuộc mít tinh biểu tình, bãi công… để phản đối chính quyền thực dân và bọn tay sai. Xúc động nhất là sự kiện vào ngày 13/5/1975 con tàu Sông Hồng cập bến chính thức nối con đường biển thông thương giữa 2 miền Nam-Bắc.

Hoa viên Với diện tích gần 1500m² xây dựng làm tòa nhà thì diện tích còn lại trong 1200m², 400 gốc cây các loại quanh năm tươi xanh góp một phần làm trong sạch môi trường thành phố. Trong số này có chậu mai chiếu thủy trồng từ năm 1946, có cây đa Tân Trào do chính cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh mang từ ngoài Bắc vào, có cây bồ đề do Tổng thống Ấn Ðộ trong lưu niệm trong chuyến thăm chính thức nước ta vào năm 1946. Ngoài ra còn có 23 cây Hoàng nam do sứ quán Thái Lan mang tặng….

Bến Nhà Rồng, bảo tàng Hồ Chí Minh đã vinh dự được chọn làm biểu tượng của thành phố nhân ngày kỉ niệm 300 năm Sài Gòn Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày ngày lớp lớp các thế hệ con cháu về đến cúi đầu trước tượng đài của Người thắp nén nhang để bày tỏ lòng tôn vinh và tri ân con người đẹp nhất mọi thời đại của dân tộc để xây dựng đất nước đàng hoàng to đẹp, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Thuyết minh về Bến Nhà Rồng – Mẫu 9

“Thành phố Hồ Chí Minh quê ta đã viết nên thiên anh hùng ca, thiên anh hùng ca ngàn năm sáng chói lưu danh đến muôn đời…”. Lời ca ngân, lên trong mỗi người niềm tự hào được là công dân của thành phố anh hùng mang trong mình bao dấu ấn lịch sử thiêng liêng suốt hành trình đấu tranh oai hùng của dân tộc để: “Việt Nam ta lại gọi tên mình”. Từ thành phố này, tại Bến Nhà Rồng, Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước vì thế trong hơn sáu mươi tỉnh thành chỉ duy nhất nơi đây được vinh dự mang tên Bác kính yêu. Bến Nhà Rồng được xây dựng thành bảo tàng Hồ Chí Minh và là địa chỉ thân thương với nhân dân cả nước nói chung, nhân dân thành phố nói riêng.

Advertisement

Ngót một thế kỉ rưỡi (150 năm), trải qua bao biến cố thăng trầm, Bến Nhà Rồng vẫn sừng sững uy nghi tại số 1 đường Nguyễn Tất Thành, quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh (xưa là đường Trịnh Minh Thế). Ngay một cửa ngõ thương cảng sầm uất nhất nước – cảng Sài Gòn. Bến Nhà Rồng nằm ngay trung tâm, trước mặt là bến Bạch Đằng lộng gió. Khi thành phố lên đèn cả khu vực lung linh huyền ảo góp phần tô điểm thành phố thêm lộng lẫy, xứng danh là “hòn ngọc của Viễn Đông”.

Bến Nhà Rồng hiện nay là Bảo tàng Hồ Chí Minh — Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, là một chi nhánh nằm trong hệ thống các bảo tàng và di tích lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cả nước. Nơi đây, trước ngày 30/4/1975 là trụ sở của Tổng Công ty Vận tải Hoàng đế (Messageries Impériales) – một trong những công trình đầu tiên do thực dân Pháp xây dựng sau khi chiếm được Sài Gòn. Tòa nhà được xây dựng từ giữa năm 1862 đến cuối năm 1863 hoàn thành với lối kiến trúc phương Tây nhưng trên nóc nhà gắn hai con rồng châu đầu vào mặt trăng theo mô típ “lưỡng long chầu nguyệt”, một kiểu trang trí quen thuộc của đền chùa Việt Nam. Với kiến trúc độc đáo đó nên Tổng Công ty Vận tải Hoàng Đế được gọi là Nhà Rồng và bến cảng mang tên Bến cảng Nhà Rồng. Năm 1955, sau khi thực dân Pháp thất bại, thương cảng Sài Gòn được chuyển giao cho chính quyền miền Nam Việt Nam quản lí, họ đã tu sửa lại mái ngói ngôi nhà và thay thế hai con rồng cũ bằng hai con rồng mới với tư thế quay đầu ra ngoài. Với diện tích gần 1500m² xây dựng làm tòa nhà, diện tích còn lại là hoa viên tràn ngập màu xanh lá với không khí thoáng mát, khung cảnh thơ mộng bao gồm trên 400 gốc cây quý từ khắp mọi miền của đất nước hội tụ về đây khoe sắc tỏa hương. Ta bồi hồi khi ngắm gốc cây Tân Trào của cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, gốc cây bồ đề của Tổng thống Ấn Độ.

Thời gian trôi qua càng ngày Bến Nhà Rồng càng trở thành địa chỉ được lưu giữ những sự kiện trọng, đại gắn liền với vận mệnh dân tộc. Ngày 5/6/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành với hai bàn tay trắng đã bước xuống con tàu Latouche Treville trong cuộc hành trình “30 năm ấy chân không nghỉ”: Người đi khắp hóng cờ châu Mĩ, châu Phi Những đất tự do những trời nô lệ.

Với lịch sử thiêng liêng của Bến Nhà Rồng, nơi đây đã lưu truyền biết bao tư liệu, hiện vật quý giá giúp mọi người hiểu rõ hơn về cuộc đời, sự nghiệp cách mạng của vị lãnh tụ thiên tài, người cha già kính yêu của dân tộc – Hồ Chí Minh. Qua nhiều lần chỉnh lí về cơ bản bảo tàng xây dựng thành 12 phòng trưng bày khoảng 170 tư liệu, hình ảnh, hiện vật. Nếu ai đã từng đến với bảo tàng đều lặng người xúc động khi được nhìn tận mắt chứng kiến những kỉ vật về Người.

Bảo tàng là một trong những địa chỉ để nhân dân đến nghiên cứu, giao lưu, tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Bác. Hằng năm, bảo tàng thu hút hàng triệu du khách trong nước và ngoài nước. Bến Nhà Rồng, bảo tàng Hồ Chí Minh đã vinh dự được chọn làm biểu tượng của thành phố nhân ngày kỉ niệm 300 năm Sài Gòn Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày ngày lớp lớp các thế hệ con cháu vẫn đến cúi đầu trước tượng đài của Người thắp nén nhang để bày tỏ lòng thành kính và tri ân con người đẹp nhất mọi thời đại của dân tộc:

Thuyết minh về Bến Nhà Rồng – Mẫu 10

Bến nhà Rồng gắn liền với hòa bình của dân tộc chính là nơi mà Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước. tìm cái mới mẻ, tìm cái hòa bình cho đất nước ngày nay. Ngày nay, bến nhà Rồng vẫn được hiên ngang và đi vào lịch sử của dân tộc ta và mãi không bao giờ phai trong lòng mọi người.

Nhà Rồng hay có tên gọi khác là bến cảng nhà Rồng, nó được xây dựng vào năm 1864. Được nằm trên sông Sài Gòn và cũng là một hương cảng lớn nhất của nước ta.

Bến cảng được nằm giữa con sông Sài Gòn, ranh giới giữa quận 1 và quận 4. Nơi đây có vẻ đẹp vô cùng cuốn hút của các du khách. Bến Nhà Rồng nằm ngay trung tâm, trước mặt là bến Bạch Đằng lộng gió. Khi thành phố lên đèn cả khu vực lung linh huyền ảo góp phần tô điểm thành phố thêm lộng lẫy và bến nhà rồng còn mang tên gọi nữa đó là “hòn ngọc của Viễn Đông”.

Bến nhà rồng được xây dựng theo lối kiến trúc phương Tây nhưng có kết hợp kiến trúc phương Đông. Trên nóc nhà có kiến trúc đền chùa. Phía trên nóc có gắn phù điêu mang biểu tượng của công ty hình đầu ngựa và hình mỏ neo… Và toàn bộ kiến trúc xưa của tòa trụ sở thương cảng Nhà Rồng hầu như còn nguyên vẹn cho đến ngày nay.

Bến nhà rồng trong đó có bảo tàng, trong bảo tàng này được trưng bày rất nhiều kỷ vật mà được coi là lịch sử là giá trị văn hóa cao và còn được coi là giá trị nhân văn cao của dân tộc. Ngày ngày lớp lớp các thế hệ con cháu vẫn đến cúi đầu trước tượng đài của Người thắp nén nhang để bày tỏ lòng tôn vinh và tri ân những người đã có cống hiến lớn cho đất nước cũng như sự khâm phục những người đã có đóng góp to lớn cho bến cảng này.

Không chỉ vậy, bến cảng nhà Rồng con khơi gợi được tinh thần hiên ngang bất khuất của nó như một dân tộc, như con người Việt Nam ta. Nó luôn xứng danh với những cương vị tầm vóc cao của lịch sử của các nước năm châu.

Bến Nhà Rồng, bảo tàng Hồ Chí Minh đã vinh dự được chọn làm biểu tượng của thành phố nhân ngày kỷ niệm 300 năm Sài Gòn Thành phố Hồ Chí Minh. Và là một di tích lịch sử của dân tộc mang tính vĩ đại và cao cả nhất.

Thuyết minh về Bến Nhà Rồng – Mẫu 11

Mỗi tỉnh thành trên dải đất hình chữ S thân yêu lại mang những nét bản sắc riêng, một phần được tạo nên từ các địa danh gắn với lịch sử hay những danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Nếu thủ đô Hà Nội có Hồ Gươm trong xanh bên tháp rùa cổ kính hay Huế mộng mơ lại nổi tiếng với dòng sông Hương yêu kiều thì thành phố Hồ Chí Minh lại được mọi người biết đến với địa danh Bến Nhà Rồng gắn liền với những bước đi tìm đường cứu nước đầu tiên của Hồ Chủ tịch.

Bến Nhà Rồng còn có một tên gọi khác là Bảo tàng hồ Chí Minh. Ban đầu bến Nhà Rồng được biết đến là một thương cảng lớn nằm bên sông Sài Gòn, được xây dựng vào năm 1863 bởi công ty vận tải đường biển Pháp là Messageries Maritimes. Sau hơn hai năm thi công thì công trình này đã hoàn thành, nằm trên khu vực cầu Khánh Hội (nay thuộc quận 4). Mục đích ban đầu của bến cảng Nhà Rồng là nơi ở cho viên Tổng quản lí và để bán vé tàu. Đến cuối năm 1899, công ty mới được phép xây cất để tàu cập bến. Bến lót ván dày, đặt trên trụ sắt dọc theo mé sông dài 42 mét. Mỗi nơi neo đậu tàu cách nhau 18m. Bề ngang của mỗi bên vào phía trong bờ là 8m. Từ bờ ra bến có một chiếc cầu rộng 10 mét. Ngôi nhà được xây dựng theo lối kiến trúc phương Tây hiện đại nhưng vẫn có những nét cổ kính của phương Đông. Ở trên nóc nhà gắn hai con rồng châu đầu vào mặt trăng theo motip “lưỡng long chầu nguyệt” – kiểu kiến trúc quen thuộc của đình chùa Việt Nam đặc biệt vào thời Lí Trần. Ở giữa nóc nhà, thay vì trái châu thì là chiếc phù hiệu mang hình đầu ngựa và chiếc mỏ neo. Phù hiệu mỏ neo hàm chỉ rằng khi còn ở bên Pháp thì công ty này chuyên chở bằng hàng bằng ngựa còn chiếc mỏ neo lại tượng trưng cho tàu thuyền. Cũng chính bởi kiến trúc độc đáo đó mà bến cảng này mới mang tên là Bến Nhà Rồng. Năm 1955, sau khi thực dân Pháp bị thất bại tại Việt Nam , thương cảng Sài Gòn được chuyển giao cho chính quyền miền nam Việt Nam quản lí. Họ đã tu bổ lại toàn bộ ngôi nhà, thay thế hai con rồng cũ bằng hai con rồng mới với một tư thế khác là quay đầu ra. Toàn bộ kiến trúc xưa của tòa trụ sở thương cảng Nhà Rồng hầu như còn nguyên vẹn tới ngày nay.

Trước hết, Bến Nhà Rồng là một di sản kiến trúc thu hút rất nhiều khách du lịch. Mỗi năm nơi đây đón hàng triệu lượt khách tham quan, đem lại nguồn lợi nhuận kinh tế không hề nhỏ cho người dân và chính quyền nơi đây. Đó chính là nơi ghi dấu ấn cho Sài Gòn- TP Hồ Chí Minh vốn là một thương cảng sầm uất vào bậc nhất ở khu vực Đông Dương.

Cùng nhìn lại, ngẫm lại thật sâu thì ta còn thấy bến Cảng Nhà Rồng ẩn chứa trong mình những vẻ đẹp của lịch sử, vẻ đẹp của văn hóa và vẻ đẹp của sự thiêng liêng. Đây chính là nơi tụ hội và khởi hành cho những chuyến đi. Tại nơi đây, vào ngày 5/6/1911, vị lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh đã xuống con tàu Amiral Latouche Tréville làm phụ bếp để có điều kiện ra nước ngoài tìm đường cứu nước. Người đã ra đi khi non sông bị giày xéo xâm lược. suốt 30 năm bôn ba, chắc chắn Người luôn khắc khoải về nơi này như Chế Lan Viên đã viết trong bài “Người đi tìm hình của nước” rằng:

Hồ Chí Minh ra đi từ bến nhà rồng chỉ với một ước mơ giải phóng dân tộc khỏi xiềng xích nô lệ. Khi thống nhất sơn hà, Bến Nhà Rồng được cải tạo và nâng cấp thành khu lưu niệm chủ tịch Hồ Chí Minh. Gắn với Người, Bến Nhà Rồng càng thiêng liêng hơn. Sau này bến cảng được chính thức chuyển thành Bảo tàng Hồ Chí Minh. Bảo tàng có nhiệm vụ sưu tầm, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt là sự kiện ra đi tìm đường cứu nước và thể hiện mối quan hệ tình cảm của Bác với đồng bào.

Vẻ đẹp của Bến Nhà Rồng còn được chọn làm bối cảnh cho nhiều bộ phim lừng lẫy như “hẹn gặp lại Sài Gòn”, “búp sen xanh”, …

Bến Nhà Rồng là một di tích có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, được bao thế hệ con cháu gìn giữ và vun đắp. Nơi uy nghi và tráng lệ này đã khắc tạc tầm vóc đi lên của đất nước Việt Nam.

8 Phim Trinh Thám Hay Nhất Giúp Bạn Thông Minh Hơn

Nếu bạn là kiểu người thích suy luận những bí ẩn về bản chất con người ngay cả khi rảnh rỗi, thì việc xem một bộ phim trinh thám sẽ là một lựa chọn hoàn hảo đấy. chúng mình đã chọn ra tám bộ phim trinh thám hay nhất sẽ giúp bạn giải trí trong nhiều giờ và kéo dài thời gian để bạn có thể thỏa sức suy luận.

Män som hatar kvinnor (2009)

Phiên bản tiếng Thụy Điển của The Girl with the Dragon Tattoo (Cô gái có hình xăm rồng) trước đó không quá bóng bẩy như phiên bản Mỹ. Đây thực chất là một bộ phim kể về những người bình thường đôi khi phải sống cạnh những kẻ vô lại. Mặc dù có rất nhiều tuyến cốt truyện, nhưng khi kết hợp với nhau lại thành một tổng thể hài hòa, với mỗi tuyến nhân vật tạo nên một phần quan trọng của bộ phim.

Nguồn: BRIGHTSIDE

L.A. Confidential (1997)

Män som hatar kvinnor (2009)

Với cốt truyện thông minh lấy bối cảnh Los Angeles những năm 1950 đầy nắng, và có sự tham gia tuyệt vời của Kim Basinger và Russell Crowe quyến rũ. L.A. Confidential thực sự là một bộ phim tuyệt vời và đầy kịch tính. Hai cảnh sát dũng cảm đã điều tra hàng loạt vụ giết người và khám phá bí mật tội phạm của thành phố huyền thoại của Mỹ. Nếu bạn là một fan của phim trinh thám thì không nên bỏ lỡ bộ phim này.

L.A. Confidential (1997)

Mindhunters (2004)

L.A. Confidential (1997)

Trên một hòn đảo xa xôi, bảy đặc vụ FBI tương lai thực hiện một bài kiểm tra đầy thử thách. Họ phải có khả năng ghép lại hồ sơ tâm lý của một tên tội phạm trên cơ sở những bằng chứng không đáng kể và hạn chế nhất. Nhưng ngay sau đó, thật bất ngờ, bài kiểm tra lại trở thành một trò chơi chết người dẫn đến cái chết của một trong những đặc vụ. Bộ phim tuyệt vời, uốn cong tâm trí này không bao giờ dừng lại để người xem có cơ hội thở phào.

Mystery Road (2013)

Mindhunters (2004)

Bộ phim với bầu không khí diễn ra với tốc độ nhàn nhã, không bị gò bó, được quay ở Úc, với các sự kiện diễn ra dựa trên những cảnh quan mê hoặc của lục địa xa xôi này. Trong câu chuyện có kịch bản tuyệt vời này, một cảnh sát điều tra vụ giết một cô gái thổ dân trong khi chống lại sự miễn cưỡng giúp đỡ của đồng nghiệp, sự thờ ơ của người dân địa phương và một số khám phá rất không thỏa đáng.

True Detective (2014 — 2024)

Mystery Road (2013)

Một loạt các tập phim trinh thám đầy kịch tính đã có hai mùa, mỗi phần có cốt truyện và nhân vật riêng. Đầu tiên xoay quanh hai thám tử điều tra một vụ giết người bất thường ở một vùng hẻo lánh của Louisiana. Từng mảnh, từng mảnh ghép lại với nhau thành một bức tranh, từ từ nhưng chắc chắn, đưa họ đến kết luận về những gì đã xảy ra.

True Detective (2014 — 2024)

Zodiac (2007)

True Detective (2014 — 2024)

Hai thám tử truy lùng một kẻ giết người hàng loạt đã khiến San Francisco khiếp sợ trong 25 năm. Có biệt danh là ‘Zodiac’, kẻ sát nhân không chỉ thích giết người mà còn thích chơi trò mèo vờn chuột với các điều tra viên – không phải ai trong số họ cũng có thể chịu đựng được thử thách này.

Memento (2000)

Zodiac (2007)

Leonard Shelby đang truy lùng kẻ đã giết vợ mình. Mọi chuyện trở nên phức tạp khi anh ta mất trí nhớ ngắn hạn sau một cú đánh vào đầu. Anh ta chỉ nhớ những gì đã xảy ra trước khi án mạng – mọi thứ khác chỉ nằm trong đầu anh ta vỏn vẹn 15 phút. Shelby cuối cùng phải sử dụng nhiều thủ thuật khác nhau để nhớ lại những gì đang xảy ra, trong khi cố gắng tiếp tục cuộc điều tra của mình.

Memento (2000)

Angel Heart (1987)

Angel Heart (1987)

Suy luận cũng là một cách rất tốt giúp bộ não nhanh nhạy và linh hoạt. Hy vọng tám bộ phim trên sẽ đem đến những giây phút tuyệt vời cho những fan phim trinh thám!

Đăng bởi: Hoài Nguyễn

Từ khoá: 8 Phim trinh thám hay nhất giúp bạn thông minh hơn

10 Bài Văn Thuyết Minh Về Đồ Dùng Học Tập Hay Nhất

Bài văn thuyết minh về chiếc cặp

Suốt quãng đời cắp sách tới trường, người học sinh luôn bầu bạn với sách, vở, bút, thước,… và coi đó là những vật dụng không thể thiếu được. Trong số những dụng cụ học tập ấy thì vật dụng để đựng các thứ kể trên chính là chiếc cặp – một vật đã gắn bó với tôi nhiều năm và chắc trong tương lai sẽ còn hữu ích với tôi lắm!

Cặp sách được sử dụng nhiều trong quá trình học tập cũng như trong đời sống. Chắc chắn một điều rằng, cặp sách có thể được đưa vào danh sách hàng loạt những phát minh quan trọng của loài người. Việc phát minh ra cặp sách là do người Mỹ nghĩ ra vào năm 1988.

Về cấu tạo, bên ngoài, ta dễ thấy nhất: Nắp cặp, quai xách, kẹp nắp cặp, một số cặp có quai đeo, một số khác có bánh xe nhỏ được dùng để kéo trên đường,… Cấu tạo bên trong, có thể có một hoặc nhiều ngăn dùng để đựng tập sách, đồ dùng học tập, áo mưa, có thể có ngăn đựng ví tiền hay cả đồ ăn, nước uống nữa,…

Về quy trình, cho dù quy trình làm ra chiếc cặp như thế nào đi nữa thì nó cũng chỉ có những công đoạn chính gồm: Lựa chọn chất liệu, xử lí, khâu may, ghép nối. Chất liệu thì có rất nhiều loại cho phù hợp với yêu cầu của người dùng: Vải nỉ, vải bố, da cá sấu, vải da,…

Dù làm bằng chất liệu gì thì cặp cũng phải chắc, vì nó phải khiêng vác rất nặng các tập sách. Kèm theo đó, kiểu dáng cặp cũng phải phù hợp, ví dụ như con trai thì thường đeo cặp có quai sang một bên cho có khí phách, năng động. Con gái mặc áo dài thì ôm cặp trước ngực để có vẻ dịu dàng, thùy mị. Con nít thì đeo cặp ra sau lưng để dễ dàng chạy nhảy, vui đùa. Cùng với màu sắc, hiện đang thịnh hành rất nhiều loại cặp với nhiều màu sắc, hình ảnh đa dạng, phong phú, bắt mắt phù hợp cho từng lứa tuổi.

Một số lời khuyên về việc sử dụng cặp cho đúng cách: Chiếc cặp khi đeo không nên vượt quá 15% trọng lượng cơ thể của mình. Nên xếp những đồ vật nặng nhất vào phần trong của cặp (phần tiếp giáp với lưng). Xếp sách vở và đồ dùng học tập sao cho chúng không bị xô lệch.

Chắc chắn rằng những vật dụng để trong cặp đều cần thiết cho các hoạt động trong ngày. Đối với cặp hai quai, chúng ta không nên đeo lủng lẳng một quai, dễ cong vẹo người. Đối với cặp chỉ có một quai, nên thay đổi vai đeo để tránh cong vẹo người. Khi mua cặp, nên chọn loại quai đeo có độn bông, mút hoặc vải,…

Ngày nay, có rất nhiều nhãn hiệu nổi tiếng như Miti, Samsonite, Tian Ling, Ling Hao,… phổ biến ở khắp mọi nơi như Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc,… Nhưng cho dù chúng đẹp đến đâu, bền cỡ nào đi chăng nữa, cũng từ từ theo thời gian mà hỏng dần đi nếu như chúng ta không biết cách bảo quản nó, chẳng hạn như quăng chúng ình ình mỗi khi gặp chuyện bực mình hoặc ham vui mà quăng nó đi. Thế nên, chúng ta không nên quăng cặp bừa bãi, mạnh tay, thường xuyên lau chùi cặp cho sạch sẽ.

Nói tóm lại, cặp sách là một vật dụng rất cần thiết trong việc học tập và cả trong đời sống của chúng ta. Nếu chúng ta sử dụng đúng cách, nó sẽ mang lại cho chúng ta nhiều lợi ích và có thể được coi là người bạn luôn luôn đồng hành với mỗi chúng ta. Đặc biệt là đối với học sinh – chủ nhân tương lai của đất nước.

Bài văn thuyết minh về chiếc bút bi

Bài văn thuyết minh về chiếc cặp

Trong việc học tập của mỗi bạn học sinh, có rất nhiều dụng cụ hữu ích phục vụ quá trình tiếp thu và lĩnh hội kiến thức một cách hiệu quả. Một trong số những đồ dùng học tập không thể thiếu, luôn đồng hành giúp các bạn ghi lại những kiến thức của mình, đó chính là cây bút bi.

Về nguồn gốc xuất xứ, bút bi được phát minh bởi nhà báo Hungari Lazo Biro vào những năm 1930, quyết định và nghiên cứu ông phát hiện mực in giấy rất nhanh khô tạo ra một loại bút sử dụng mực như thế. Phải đến năm 1938, cây bút bi đầu tiên trên thế giới mới ra đời.

Bút bi là một loại bút có cấu tạo đơn giản và nguyên lí hoạt động không phức tạp. Cấu tạo của một chiếc bút bi thông thường gồm hai bộ phận chính là vỏ bút và ruột bút.Vỏ bút là một ống trụ tròn dài từ 15 – 20 cm, được làm bằng nhựa dẻo, nhựa cứng hoặc nhựa màu, trên thân thường có các thông số ghi ngày, nơi sản xuất…

Phần thứ hai là ruột bút, đó là một ống chứ mực nhỏ và dài khoảng từ 10 – 15cm tùy loại bút, ngòi bút được làm bằn kim loại không rỉ. Ở đầu ngòi bút có gắn một viên bi, đường kính viên bi tùy thuộc vào mẫu mã mà to nhỏ khác nhau từ 0,5 đến 0,7 mm. Viên bi ấy có khả năng chuyển động tròn đều đẩy cho mực ra đều.

Ngoài ra bút còn có các bộ phận nhỏ đi kèm khác như lò xo, nút bấm, nắp đậy, bên trên vỏ có đai để gắn vào túi áo, vở…. Những bộ phận này tuy nhỏ bé nhưng ngược lại rất hữu ích và đảm bảo cho hoạt động của bút diễn ra bình thường.

Bút bi trên thị trường hiện nay rất đa dạng về kiểu dáng và màu sắc, tùy theo sở thích và lứa tuổi…Có loại bút chỉ có một ngòi nhưng cũng có những loại có hai, ba, bốn ngòi với đủ màu mực như xanh, đỏ, đen, tím…Hiện nay trên thị trường xuất hiện nhiều thương hiệu bút nổi tiếng: Thiên Long, Bến Nghé…Giá của một chiếc bút bi rẻ hơn nhiều so với các loại bút khác khoảng từ 2500 đến 10 000VNĐ

Bút bi là một vật bất li thân của mỗi học sinh. Đó là vật dụng cần thiết, là người bạn đồng hành với con người trong cuộc sống. Bút bi được dùng trong nhiều lĩnh vực. Bút theo sinh viên, học sinh học tập dùng để viết, vẽ, bút cùng người trưởng thành ghi chú, tính toán sổ sách. Bút còn là món quà tặng dễ thương và giàu ý nghĩa.

Loại bút này được ưa chuộng nhất trên thị trường so với bút máy hay bút chì là bởi ưu điểm bút bền, đẹp, nhỏ gọn dễ mang, dễ vận chuyển. Bút ngòi trơn thích hợp ghi chép nhanh, không phải mất thời gian bơm mực như bút máy, giá thành lại rẻ. Tuy nhiên, bên cạnh đó, bút bi có hạn chế là nếu viết nhanh dễ bị nhòe mực và chữ khi viết bút bi không được đẹp như khi viết bằng bút máy

Bút bi là một loại bút rất dễ trong việc bảo quản. Trong các bộ phận của bút bi, ngòi bút rất quan trọng và dễ bị vỡ bi nên khi dùng xong ta nên bấm cho ngòi bút thụt vào hoặc đậy nắp lại để tránh hỏng bi. Chúng ta cũng nên tránh để bút rơi xuống đất vì dễ hỏng bi, vỡ vỏ bút, tránh để nơi có nhiệt độ cao.

Bút bi không phải chỉ tiện dụng trong học tập mà còn như một người bạn gắn bó với cuộc đời của mỗi người. Bút bi là dụng cụ lưu giữ bao nhiêu bài giảng, là dụng cụ giúp những cô gái trẻ mộng mơ ghi chép bao nhiêu lời bài hát của thần tượng, ghi chép bao nhiêu dòng nhật kí, dòng lưu bút của lứa tuổi học trò. Bút bi là vật lưu giữ bao kỉ niệm đẹp của một thời.

Dù hiện nay, máy tính đang dần được con người sử dụng rộng rãi, người ta thay vì viết bằng bút bi sẽ tạo lập văn bản trên máy tính. Nhưng dù thế nào đi nữa, bút bi chắc chắn vẫn sẽ là một vật dụng tiện ích không thể thiếu trong hôm nay và mai sau.

Bài văn thuyết minh về chiếc bút bi

Bài văn thuyết minh về máy tính bỏ túi

Bài văn thuyết minh về chiếc bút bi

Trong năm đầu kỉ 21, toàn nhân loại bước vào cách mạng công nghệ. Có thể nói năm giao thời hai thế kỷ người ta chứng kiến đời loạt ngành công nghiệp đại. Cùng với đời hàng triệu thiết bị đại, máy tính bỏ túi, đồ dùng học tập thân thuộc với hệ học sinh, sinh viên đời.

Tưởng chừng máy tính bỏ túi phát minh cách vài chục năm. Đằng sau máy tính nhỏ bé chặng đường khổng lồ dài 4000 năm với cải tiến nhà khoa học giới. Từ năm 2000 TCN, bàn tính cổ thương nhân Ai Cập với hạt xâu thành chuỗi theo chiều dọc khung gỗ chữ nhật đời nhu cầu muốn giảm thời gian tính tiền thương nhân.

Rồi sau cải tiến máy đếm học sơ khai Pascal, trải qua bánh xe huyền thoại Leibniz, máy tính CS-10A Sharp nặng 25 kg, qua bao nỗ lực đến ELK 6521 giảm xuống kg, LE-120A “HANDY” Busicom bỏ túi, cuối qua hàng loạt cải tiến nâng cấp chương trình phần cứng, có máy tính bỏ túi chiếm ngăn nhỏ cặp học sinh mà khối lượng chưa đến 200g.

.

Hiện nay, thị trường, có nhiều hãng sản xuất máy tính bỏ túi, hãng sản xuất Casio với nhiều loại máy khác. Dựa theo công dụng chúng, ta chia thành loại: loại đồ họa có hình rộng, dùng để vẽ đồ họa; loại lập trình chứa nhiều hàm toán học, có khả lập trình tốt; loại khoa học-tài có nhớ lớn, lưu nhiều chương trình, hình giống hình vi tính; loại hiển thị sách giáo khoa, loại chủ yếu sử dụng bạn học sinh, sinh viên.

Loại máy dùng cho giảng viên, giáo viên lớp học, suốt, có đầy đủ chức năng, chiếu trực tiếp lên máy chiếu OHP, nối với máy vi tính loại cuối loại Bộ Giáo dục Đào tạo cho phép mang vào phòng thi, kỳ thi: Tốt nghiệp THPT, Tuyển sinh Đại học… gồm máy tính bỏ túi loại FX-220, FX-500A, FX-500 MS, FX-570 MS. Nhưng dù thuộc loại máy tính bỏ túi có cấu tạo giống.

Cấu tạo máy tính bỏ túi gồm phần: phần thân máy phần nắp. Phần thân máy chia làm phần: phần nhập gồm nút ấn phần xuất hình tinh thể lỏng. Bên máy tính bỏ túi, có chip vi xử lý đơn để giải phép tính thuật toán. Bên cạnh trang bị bảng mạch với nút cao su nhựa phía để ta nhập liệu phép tính.

Giống người, chịu kích thích từ một trường phát sinh xung thần kinh theo nơron trung ương thần kinh phân tích truyền kết đến làm có để trả lời kích thích tương ứng, ta bấm nút bàn phím, mạch điều khiển đóng phía lớp cao su gửi xung điện đến chip xử lý, đồng thời gửi tín hiệu đến hình hiển thị.

Màn hình hầu hết máy tính bỏ túi loại hình LED hay đi-ốt chân không. Sau này, việc sử dụng hình tinh thể lỏng hay hình LCD giúp tiết kiệm điện Nguồn lượng sử dụng máy tính bỏ túi pin, máy tính sử dụng hệ thống pin cồng kềnh khiến cho chúng có kích thước lớn.

Ngày nay, công nghệ lượng phát triển giúp pin ngày nhỏ gọn hơn, giúp giảm bớt kích thước máy tính bỏ túi đại. Từ năm 1970, có nhiều loại máy tính bỏ túi trang bị tế bào lượng mặt trời để cung cấp điện Các máy tính bỏ túi có khả lưu trữ liệu ngắn hạn nhớ, tương tự nhớ RAM.

Ngày nay, máy tính bỏ túi tiếp tục phát triển với công nghệ khoa học kỹ thuật tiên tiến, giúp có thêm nhiều chức tính toán phức tạp Bên cạnh đó, máy tính đại không dùng để tính toán phép tính nữa, mà sử dụng nhiều ứng dụng khác tính toán khối lượng thể kết hợp với hàm lượng calo cần thiết ngày, chuyển đổi tiền tệ hay đơn vị, tính toán lượng khí thải…

Nhưng, để máy tính có tác dụng hiệu quả, phải cần phải biết sử dụng cách. Khi muốn mở máy để tính toán, cần mở nắp máy ấn ON. Nếu muốn tắt máy, ta cần ấn nút Off. Các nút ấn thân máy chia thành nhóm: nhóm trắng ấn trực tiếp, nhóm vàng ấn sau nút Shift, nhóm đỏ ấn sau nút Alpha, nhóm xanh tím ấn trực tiếp chương trình gọi.

Không cần biết cách sử dụng mà cần phải biết cách bảo quản máy tính cách để máy tính có “tuổi thọ” lâu dài. Trong trình sử dụng không nên để rơi để vật nặng đè lên máy tính, điều gây vỡ hình, nhớ phải thay pin định kỳ năm/lần, pin yếu làm giảm độ bền máy tính.

Chúng ta nên tránh sử dụng cất máy nơi có nhiệt độ, độ ẩm cao, bụi bặm nơi có từ trường mạnh. Chúng ta không nên ấn phím đầu bút bi hay vật nhọn hay dùng hóa chất để chùi rửa bộ chữ bàn phím, nên dùng khăn mềm ẩm lau.

Ngày nay, công nghiệp đại ngày phát triển, với sáng tạo nỗ lực nghiên cứu không ngừng, nhà khoa học tìm nhiều phương pháp cải tiến máy tính bỏ túi trở nên hữu ích, giúp sống ngày đơn giản dễ dàng. Dù tương lai máy tính bỏ túi người bạn thân thiết lứa tuổi học trò, công cụ vô quan trọng đời sống hàng ngày người

Bài văn thuyết minh về hộp bút

Bài văn thuyết minh về máy tính bỏ túi

Chẳng có điều gì là xuất hiện lẻ loi trong xã hội loài người, mọi vật luôn đi cùng nhau để hỗ trợ lẫn nhau. Thế nên từ khi học sinh biết đến trường sẽ có những chiếc cặp ra đời. Từ khi người ta biết dùng bút, thước phục vụ cho học tập, công việc thì bút, thước cũng từ đó mà xuất hiện. Hộp đựng bút – một dụng cụ rất quen thuộc đối với học sinh nhưng để hiểu hết về nó ta cần xem xét trên nhiều phương diện.

Chưa có một tiêu chí cụ thể nào để phân loại dụng cụ đựng viết này,nhưng nếu dựa vào chất liệu của nó, ta tạm chia ra thành các loại: hộp bút nhựa, hộp bút gỗ, bóp viết bằng vải, bóp viết bằng nỉ…Dựa trên phân loại của nó, ta có thể phần nào hình dung được sự đa dạng, phong phú của dụng cụ đựng viết về màu sắc, họa tiết, hoa văn…

Nếu như trước kia dụng cụ đựng viết chỉ dừng lại ở những hộp gỗ màu nâu sẫm hoặc đen bóng thì ngày nay nó nổi bật bởi hàng trăm nghìn màu sắc. Chúng ta dễ dàng tìm thấy những hộp đựng viết có hình doremon chuột Micky… cho những bạn nữ. Những bóp viết hình siêu nhân, người nhện…cho các chàng trai. Để tạo cảm giác mới lạ cho người dùng, nhà sản xuất còn khắc tên, logo theo nhu cầu trên từng bóp viết khác nhau.

Mặc dù rất đa dạng về chủng loại, nhưng nhìn chung dụng cụ đựng viết có cấu tạo hai phần: vỏ ngoài và ngăn bên trong chứa viết. Vỏ ngoài có in nhiều hình ảnh bắt mắt và thêm logo của các nhà sản xuất. Một số bóp viết bên ngoài còn có ngăn kéo nhỏ để chứa compa, giấy vụn…

Bên trong bóp viết được bảo vệ bằng lớp dây kéo chắc chắn, nơi đây học sinh đựng viết, thước kẻ, phấn màu..và một số vật dụng khác. Với nhiều hộp đựng viết bằng nhựa hoặc gỗ thì dây kéo được thay thế bằng chốt khóa hay nút gài.

Nhờ có hộp bút, bóp viết mà học sinh có thể sắp xếp những vật dụng học tập như: viết, thước, compa, phấn màu, giấy ghi chú…gọn gàng ngăn nắp, nhờ đó mà chúng ta có thể mang đi học, vào phòng thi tiện lợi. Không chỉ vậy, dụng cụ đựng viết còn có chức năng bảo vệ bút, thước an toàn.

Bóp viết, hộp đựng viết là người bạn đồng hành của học sinh, sinh viên và một số ngành nghề khác. Với chúng ta nó không chỉ là nơi chứa đựng vật dụng cần thiết mà còn là nơi cất giấu kỉ niệm như một cánh thư tay, một trang nhật kí, một dòng lưu niệm hoặc một cái kẹo mà cô bạn cùng bạn dành tặng. Chính vì thế mỗi chúng ta phải trân trọng đồ vật này và giữ gìn nó cẩn thận, tránh để bóp viết cọ sát, rơi xuống đất hoặc làm lem mực.

“Mực tím dễ thương áo trắng ai

Đừng đem mây xuống vắng chân trời”

Tuổi học trò với màu áo trắng và những khát vọng tương lai không thể thiếu những người bạn tốt như bút, thước, cặp sách và cả hộp đựng bút. Cảm ơn những người bạn tưởng chừng như vô tri này, tôi sẽ sử dụng chiếc hộp đựng bút của tôi hiệu quả nhất và ý nghĩa nhất.

Bài văn thuyết minh về chiếc máy vi tính

Bài văn thuyết minh về hộp bút

Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ như ngày nay, đối với người học sinh, ngoài những người bạn thân quen như sách vờ, bút thước… chúng em còn có thêm một người bạn đặc biệt khác: Máy vi tính.

Chiếc máy vi tính đầu tiên ra đời năm 1956. Ban đầu, chiếc máy vi tính có kích thước rất lớn, nó to bằng cả một căn phòng và chỉ thực hiện được một số phép tính đơn giản. Theo thời gian, bằng sự nỗ lực của các nhà khoa học, kích thước chiếc máy tính đã được thu gọn lại như ngày nay.

Máy vi tính để bàn gồm hai bộ phận lớn tách rời nhau là CPU và màn hình. CPU là bộ phận quan trọng nhất của máy vi tính, đó là nơi xử lí các thông tin dữ liệu rất tinh vi. CPU có hình hộp chữ nhật, kích thước thường là 50 cm * 10 cm * 40 cm. Vỏ ngoài được làm bằng kim loại có phủ sơn cách điện.

Bên trong là ổ cứng, bộ vi xử lí, các mạch điện, dây dẫn… Mặt trước của máy vi tính là hình chữ nhật kích thước 10 cm * 40 cm. Tại đây có các bộ phận nhỏ để nhận đĩa mềm, kết nối USB và máy, hệ thống nút điều khiển máy… Mặt sau của CPU là ổ cắm dây nối CPU với nguồn điện, màn hình, bàn phím và con trỏ chuột.

Màn hình máy vi tính thường có kích thước và hình dáng tương đương một chiếc ti vi 21 inch. Nhưng ngày nay do sự phát triển của công nghệ, màn hình máy vi tính chỉ mỏng chừng 2 cm đến 3 cm và được làm bằng tinh thể lỏng.

Ngoài hai bộ phận trên còn cần có bàn phím và con trỏ chuột mới có thể hoàn chỉnh một chiếc máy vi tính. Bàn phím có hình chữ nhật, kích thước vào khoảng 16 cm * 25 cm, có các phím chữ nổi lên giúp nhập thông tin vào máy. Con trỏ chuột thon nhỏ, vừa tay nắm, có ba nút để điều khiển các lệnh trên màn hình.

Việc sử dụng máy tính khá đơn giản. Với người học sinh, công dụng chủ yếu là tạo lập văn bản, sử dụng các phần mềm ứng dụng, khai thác Internet và … chơi game!

Để sử dụng máy, trước tiên, ta phải cắm phích vào ổ điện, bật máy CPU và bật máy màn hình. Tiếp đó, nếu tạo lập văn bản, ta nhấn hai lần chuột trái vào biểu tượng “W” (microsolf word) trên màn hình rồi sử dụng các phím chữ, đấu… nhập thông tin vào trang trắng trên màn hình. Để sử dụng các chương trình khác, ta cũng mở máy rồi sử dụng bàn phím và con chuột để nhập thông tin và tạo các lệnh.

Nhờ chiếc máy vi tính, người học sinh có thể trao đổi thông tin học tập, tâm tư tình cảm nhanh chóng, tiện dụng, có thể xem và thực hiện các thí nghiệm vật lí, hóa học, có thể tìm kiếm các thông tin cần thiết cho việc học tập… Ngoài ra, ta có thể giải trí bằng cách chơi trò chơi trên máy tính…

Chiếc máy vi tính là người bạn vô cùng hữu ích đối với người học sinh. Để bảo vệ người bạn đặc biệt này, chúng ta cần thường xuyên vệ sinh bàn phím, phủi bụi cho các bộ phận cùa máy. Ngoài ra, ta cần để máy nơi khô ráo, tránh ẩm ướt. Đặc biệt, nên cài một chương trình diệt “virus” – tác nhân có thể phá hoại dữ liệu trong máy.

Bài văn thuyết minh về chiếc máy vi tính

Bài văn thuyết minh về quyển sách giáo khoa Ngữ văn 8

Bài văn thuyết minh về chiếc máy vi tính

Từ xưa đến nay, sách luôn là kho tàng lưu trữ kiến thức, là một công cụ học tập hữu ích của con người. Sách cung cấp cho ta đầy đủ tri thức về mọi lĩnh vực trên thế giới, giúp ta thư giãn, giải trí và đôi khi còn làm thay đổi một phần nào đó trong cuộc sống của chính chúng ta. Trong đó cuốn sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập một là một cuốn sách vô cùng bổ ích và không thể thiếu đối với mỗi học sinh Trung học cơ sở.

Cuốn sách nào cũng vậy, trang bìa rất quan trọng bởi nó thể hiện lĩnh vực mà cuốn sách muốn truyền đạt tới người đọc. Như bao cuốn sách khác, sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập một được trình bày rất đẹp và hợp lí. Bìa sách được làm bằng giấy cứng màu hồng nhạt trông rất sáng và đẹp.

Ở góc dưới cùng bên phải của bìa là tên và logo của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Ở giữa cuốn sách là một khóm hoa thủy tiên đang đua nhau khoe sắc như đang đón chào chúng ta đến với kho tàng kiến thức dành cho học sinh lớp 8. Phía bên trên là dòng chữ “Ngữ văn” màu xanh dương kết hợp với con số 8 màu trắng được in nổi bật trên nền bìa màu hồng. Kích thước 17 x 24 cm vừa vặn, phù hợp với tầm tay của học sinh.

Cuốn sách dày gần hai trăm trang chứa đựng biết bao kiến thức bổ ích. Bìa sau cuốn sách cũng được làm bằng chất liệu giấy cứng màu trắng. Phía trên cùng in hình biểu tượng chất lượng mà sách đạt được. Ở giữa là tên sách giáo khoa của 11 bộ môn. Sau trang bìa, trang đầu tiên là “Lời nói đầu” giới thiệu cho người đọc biết mục đích và nội dung chung mà cuốn sách sẽ mang lại cho học sinh. Giấy in sách màu trắng có độ sáng hài hòa, chữ viết in đậm rõ ràng giúp học sinh nhìn rõ, đảm bảo thị lực cho học sinh.

Cuốn sách có tất cả 17 bài, phía trên mỗi bài đều có nội dung kiến thức cần đạt được. Cấu trúc mỗi bài thường có ba phần: phần Văn bản, phần Tiếng Việt và phần Tập làm văn được in theo một thứ tự nhất định, rõ ràng. Sau mỗi bài học thường có phần Ghi nhớ được đóng khung rõ ràng, cẩn thận. Phía dưới là phần Luyện tập giúp học sinh củng cố lại kiến thức vừa học và nâng cao kiến thức hơn.

Phần truyện gồm nhiều loại như truyện ngắn, tiểu thuyết, hồi kí giúp ta hiểu được cuộc sống của người nông dân Việt Nam và phẩm chất cao quý của họ dưới xã hội thuộc địa phong kiến. Phần thơ gồm thơ yêu nước đầu thế kỉ XX của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Trần Tuấn Khải,…

Các tác phẩm thơ này không chỉ mang ý nghĩa giáo dục về tư cách đạo đức, về lòng yêu nước sâu sắc mà còn cho học sinh thấy được những vẻ đẹp khác nhau của các tác phẩm trữ tình. Bên cạnh các tác phẩm văn học Việt Nam là một phần văn học nước ngoài như đưa ta đến những chân trời mới lạ: Đan Mạch, Mĩ, Nga, Tây Ban Nha,…

Những truyện ngắn tuy nhẹ nhàng nhưng toát lên tinh thần nhân đạo cao cả, tình yêu thương những người cùng khổ, đồng thời cho ta hiểu được một phần nào về xã hội của các nước bạn trong thế kỉ XIX, XX. Phần Tiếng Việt rèn cho học sinh cách sử dụng từ ngữ, câu văn, dấu câu sao cho phù hợp với tình huống, hoàn cảnh giao tiếp.

Phần Tập làm văn giúp học sinh nâng cao, củng cố một số kiến thức về văn bản, rèn luyện cho học sinh kĩ năng cơ bản về quá trình tạo lập văn bản như xây dựng bố cục, liên kết đoạn văn, các phương pháp để viết một bài văn. Ở lớp 8, học sinh tập trung học ba kiểu văn bản là tự sự, thuyết minh và nghị luận.

Sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập một là một cuốn sách quý giá, là một kho tàng kiến thức không thể thiếu đối với mỗi học sinh Trung học cơ sở chúng ta.

Bài văn thuyết minh về bút máy

Bài văn thuyết minh về quyển sách giáo khoa Ngữ văn 8

Có ai trong đời mà không viết hay chỉ đơn giản là vẽ vài nét? Như vậy, không có ai là không một lần cầm chiếc bút nói chung cũng như bút máy nói riêng.

Mọi đối tượng đều dùng bút, không cần phân biệt độ tuổi hay nghề nghiệp. Trong đời sống, giá trị của những chiếc bút là một vật dụng thiết yếu, một người bạn thân thiết với người học. Đối với những người mà không được ở gần nhau, chiếc bút máy giúp con người bày tỏ những suy nghĩ, những điều muốn nói, mà họ không có điều kiện nói chuyện với nhau.

Chiếc bút giúp tình cảm con người dù xa cách nhau, có thể vượt không gian và thời gian để xích lại gần nhau hơn; và chiếc bút trở thành thông điệp kết nối những trái tim. Còn có rất nhiều những tác phẩm văn học nghệ thuật nổi tiếng được tạo nên từ những cây bút nhỏ xinh. Cây bút giúp con người xây dựng nên một nền văn hóa phong phú và kho tàng kiến thức cho nhân loại.

Ở trường hợp khác, những nhà sử học, những người lính trong kháng chiến, đã dùng cây bút để ghi lại những sự kiện lịch sử, những bài ca để đời. Chiếc bút cũng giống như cỗ máy thời gian của chú mèo máy Doraemon đưa con người quay lại quá khứ và ngắm nhìn lại những sự kiện trong quá khứ. Vậy đấy, bút máy thật có giá trị với con người. Nhưng để có chiếc bút máy tiện lợi như ngày hôm nay, đã có một quá trình dài phát triển.

Có thể nói, chiếc bút đầu tiên là những hòn than hay những viên đá được khắc lên hang đá hay mai rùa. Khoảng 3000 năm trước, người Xume là những người đầu tiên sử dụng hình thức viết trên phiến đất sét để ghi lại lịch sử. Đến thời đại của nền văn minh Ai Cập cổ, khái niệm bút và giấy mới chính thức được hình thành (lúc đó con người đã phát minh ra giấy).

Chiếc bút thời ấy được làm từ thân cây sậy với đuôi được nghiền nát để giữ chất màu. Sau một thời gian, bút cây sậy sắc nhọn hơn với đường rãnh ở cuối. Từ đó, lịch sử chiếc bút mở sang trang mới, đó là bút lông (lông thiên nga, lông ngỗng,…), khi viết chấm đầu bút vào nghiên mực. Loại bút này có ưu điểm là đầu dễ vót nhọn, dễ uốn hơn và ít gãy hơn dưới lực ép của bàn tay.

Chính vì vậy, loại bút này tồn tại mấy trăm năm, và tạo nên nền văn hóa là viết thư pháp và vẽ tranh phổ biến rộng rãi ở phương Đông (Trung Quốc là đất nước có nền văn hóa phát triển gắn với chiếc bút lông). Còn ở phương Tây, vào thế kỉ XIX, người ta đã phát minh ra chiếc bút cũng dưới dạng chấm mực, nhưng ngòi bút không dùng lông động vật và dùng kim loại, để bút bền và nét viết chuẩn xác hơn.

Tuy nhiên, loại bút này có hạn chế là luôn phải kèm theo lọ mực, mực viết thì ra không được đều. Năm 1884 là năm diễn ra một bước tiến lớn của bút, vào năm nay, chiếc bút máy đầu tiên đã ra đời, bởi ông Lewis Waterman. Sự sáng tạo quan trọng này của ông là một sự rất tình cờ và ngẫu nhiên: Ông thấy rất phiền phức khi lúc nào cũng phải kè kè lọ mực, tốc độ viết chậm chạp, nét mực thì chỗ đậm chỗ nhạt khó coi, điều này làm ảnh hưởng đến công việc của ông.

Waterman quyết tâm tìm ra câu trả lời mà hàng trăm chuyên gia đã bất lực. Cuối cùng ông cũng đã hiểu lực hút mao dẫn có mối liên hệ động lực với áp suất khí quyển. Làm thế nào để một cây bút chứa bình mực và làm cho mực chỉ chảy xuống khi người viết sử dụng? Câu trả lời là trong ống dẫn (đưa mực xuống đầu bút và xuống trang giấy), Waterman tạo ra hai hoặc ba rãnh để không khí và mực đồng thời vận động.

Không khí sẽ thế chỗ của phần mực đã sử dụng. Vậy là chiếc bút máy được ra đời và tồn tại đến ngày hôm nay. Chiếc bút máy có hai bộ phận cơ bản là vỏ và ruột. Vỏ bút thường làm bằng kim loại để bảo vệ bút và để việc viết chữ được dễ dàng hơn. Còn phần ruột bút có kết câu khá phức tạp, đầu tiên là bộ phận dẫn đến cuộc cách mạng bút là bình mực dự trữ. Đó là một khoảng rỗng bên trong để chứa mực.

Khi bơm mực chỉ cần cắm đầu bút vào lọ mực, bóp nhẹ ống mực và thả ra. Nhưng đến thế kỉ XX, người ta chế tạo ra kiểu bút thay mực, loại này không cần phải bơm mực. Nối tiếp bình mực là ống dẫn. Đây là một hệ thống ống dẫn gồm các rãnh. Hệ thống này đảm bảo khả năng rò rỉ mực ở áp suất thấp nhất, khiến mực ra đều. Bộ phận chính đảm nhiệm việc đó là lưỡi gà.

Lưỡi gà hình trụ, mặt ôm vào ngòi bút có rãnh thẳng ăn khớp với rãnh của ngòi bút để dẫn mực. Cái rãnh này ở phần gốc mỏng dần về phía đầu ngòi bút. Lưỡi gà và ngòi bút áp sát nhau nên kiểm soát được mực. Nét viết mảnh, thanh. Cuối cùng là ngòi bút. Ngòi bút thường được làm bằng kim loại. Ngòi bút hình thuôn nhỏ dần, hình lòng máng ôm lấy lưỡi gà.

Đầu ngòi bút nhọn, có một viên bi rất nhỏ gọi là “hạt gạo” để nét viết trơn và tránh bị rách giấy. Đầu ngòi có rãnh xẻ giúp mực chảy đều. Trên bề mặt ngòi bút thường được in logo của nhà sản xuất. Tất cả các bộ phận trên được ghép lại và tạo ra một đồ vật quan trọng trong cuộc sống của chúng ta.

Ngày nay, công nghệ phát triển, để có một chiếc bút máy có rất nhiều lựa chọn. Rất nhiều hãng sản xuất nổi tiếng và uy tín ở Việt Nam và cả thế giới như Hồng Hà, Thiên Long, Waterman, Parker, Montblanc, Pelikan Không chỉ phong phú về hãng mà bút máy còn vô cùng phong phú về hình thức.

Bút máy bây giờ có nhiều màu sắc và có những họa tiết khác nhau. Có những chiếc bút còn gắn cả các hình ngộ nghĩnh được các em nhỏ yêu thích như chuột Mickey, mèo Kitty,… Nếu ngày xưa, bút máy chỉ đơn thuần với những chất liệu không quá cầu kì, thì ngày nay con người đã khẳng định đẳng cấp với những chiếc bút có ngòi làm bằng kim loại quý hiếm, vỏ hộp đựng bút đính những viên kim cương hay đá quý.

Bút máy còn là những món quà thiết thực và vô cùng ý nghĩa. Bút có khi còn là những phụ kiện trang sức không thể thiếu của nhiều người. Hiện nay, khi mà công nghệ thông tin phát triển, trở nên quan trọng nhưng con người không thể nào quên những chiếc bút máy giản dị mà thân thiết. Là một học sinh, em yêu bút máy, và em luôn ngân ca câu hát:

Nào bàn nào ghế,

Nào sách nào vở

Nào mực nào bút

Nào phấn nào bảng…

Bút máy luôn là người bạn đồng hành với chúng em trên con đường học tập.

Bài văn thuyết minh về bút máy

Bài văn thuyết minh về cục tẩy

Bài văn thuyết minh về bút máy

Đối với các bạn học sinh, người bạn hàng ngày đến trường với mỗi người là thước kẻ, bút chì, sách vở,… nhưng cũng không thể nào thiếu được người bạn giúp chúng ta tẩy xóa lỗi sai chính là cục tẩy. Cục tẩy bé xinh mà có nguồn gốc ra đời vô cùng lâu đời và có nhiều công dụng đối với con người.

Cục tẩy đầu tiên ra đời cách đây đã hàng trăm năm trước, khi ấy bút chì còn được làm bằng chì và thiếc, rất cứng, người ta dùng ruột bánh mì để tẩy những chữ viết sai. Cùng với sự phát triển của bút chì, cục tẩy cũng có bước chuyển mình đáng kể. Người đầu tiên phát minh ra cục tẩy gần với cục tẩy hiện đại là một kĩ sư người anh tên là Edward Nairne, cục tẩy được phát minh trong một cuộc thi sáng chế, sau đó nó được sử dụng một cách rộng rãi và phổ biến trên thị trường.

Sau khi đạt giải ông Edward đã tâm sự, ông nảy ra ý tưởng làm chiếc tẩy này là do trên đường ông nhặt được miếng cao su và vô tình phát hiện ra tính năng tẩy các vết bẩn của nó. Dựa trên sự phát hiện đó ông đã sáng chế ra cục tẩy đầu tiên. Ta có thể thấy rằng những phát minh vĩ đại luôn đến với chúng ta một cách thật bất ngờ, người thông minh là người nhìn nhận ra vấn đề và đưa nó ứng dụng vào thực tế.

Cục tẩy có cấu tạo gồm hai phần: tẩy và vỏ tẩy. Vỏ của tẩy thường được làm bằng giấy cứng, trên có ghi mã vạch, nhãn hiệu hoặc có được trang trí bằng những hình ảnh bắt mắt khác nhau. Ruột tẩy rất đa dạng, phong phú về màu sắc: trắng, đen, xanh, đỏ,… thường được làm từ hỗn hợp dầu ăn, đá bọt và sulfur, chúng được kết dính với nhau nhờ cao su.

Có rất nhiều loại tẩy khác nhau. Có loại tẩy đi kèm với bút chì, chúng thường được gắn với đầu bút chì, khi viết sai có thể ngay lập tức sử dụng chúng để tẩy. Loại tẩy này thường có màu hồng, chứa cao su cứng nên việc tẩy đôi khi khó khăn, tẩy quá mạnh tay sẽ rách giấy nên ít khi được sử dụng.

Loại tẩy màu trắng dẻo, được làm từ nhựa vinyl tẩy dễ dàng, giấy sạch nên được ưa chuộng hơn. Ngoài ra còn một loại tẩy khác được gọi là tẩy nhào. Tẩy nhào ít xuất hiện trên thị trường, loại này mềm hơn hai loại trên rất nhiều, chúng ta có thể nhào trong tay như cục bột. Nó hấp thụ các hạt than chì ở bút chì nên khi tẩy sẽ không để lại vụn,… sử dụng loại tẩy này rất thích, vết bẩn được tẩy hoàn toàn, lại không gây bụi bẩn.

Ngoài ra, khoa học kĩ thuật hiện đại phát triển người ta còn phát minh ra tẩy điện, loại này có một chiếc nút bấm, khi cần tẩy chỉ cần ấn vào nút và đưa bút đến diện tích cần tẩy là sẽ xóa được hết vết bẩn. Loại này giá thành cao nhưng vết bẩn đi dễ dàng, giấy không bị xây xước và tiết kiệm được thời gian cho người sử dụng.

Sử dụng tẩy rất đơn giản, ngoài loại tẩy điện có cách sử dụng riêng thì các loại tẩy còn lại đều có cách sử dụng giống nhau. Khi viết sai chúng ta chỉ cần mài tẩy vào phần đó, chà đi chà lại một cách nhẹ nhàng là vết bẩn sẽ bay đi. Các bạn lưu ý, chớ chà mạnh sẽ khiến giấy rách.

Khi sử dụng xong tẩy chúng ta chỉ cần cất gọn gàng. Tránh để tẩy rơi xuống đất, khi tẩy bị bám bẩn các bạn dùng cho lần tiếp theo sẽ vấy bẩn lên trang giấy. Vật dụng nào cũng vậy, khi sử dụng xong chúng ta cần cất cẩn thận, thì mới có thể dụng chúng lâu dài được.

Tẩy là một công cụ phổ biến trong học tập của học sinh, sinh viên, người thiết kế,… nó có ý nghĩa quan trọng với mỗi người. Cục tẩy giúp ta xóa đi những phần viết sai, viết nhầm,..

Từ khi được phát minh cho đến bây giờ tẩy luôn được mọi người ưa chuộng. Dù khoa học kĩ thuật có phát triển hơn nữa, tẩy vẫn sẽ là người bạn đồng hành với các bạn học sinh, sinh viên, kĩ sư,…

Bài văn thuyết minh về chiếc thước kẻ

Bài văn thuyết minh về cục tẩy

Cuộc đời mỗi con người ai cũng đã từng trải qua thời học sinh. Cái thời cắp sách đến trường đầy kỉ niệm mà mỗi chúng ta khó có thể quên được. Những đồ dùng học tập như: bút, thước, tập, sách,… luôn gắn bó với học sinh như những người bạn thân thiết. Và trong số đó, cây thước là đồ dùng học tập quan trọng được sử dụng rộng rãi.

Nguồn gốc: Cây thước có nhiều loại khác nhau như thước thẳng, ê-ke, thước đo độ,…Thước thẳng có dạng hình chữ nhật và độ dài, rộng rất đa dạng. Thường thì nó dài 15cm – 20cm và rộng khoảng 2cm -3cm.Cũng có nhiều loại thước dài tới 30 hay 40cm. Chiều dày của thước cũng khác nhau, như thước gỗ thường dày gần 1cm còn những cây thước mà học sinh dùng chỉ dày 1mm.

Khác với thước thẳng, ê-ke có dạng hình tam giác vuông hay tam giác vuông cân. Ê-ke thường có độ dài đáy khoảng mười mấy cm và chiều cao 5cm – 6cm. Độ dày của nó cũng giống thước thẳng, thường là 1mm. Cũng như thước thẳng, độ lớn của ê-ke rất đa dạng. Có những cây ê-ke to hơn gấp 6 – 7 lần cây thước ê-ke thường thấy. Loại này thường dành cho giáo viên hay kĩ sư. Còn một loại thước thông dụng nữa đó là thước đo độ.

Thước này thường được học sinh cấp 2, cấp 3 dùng nhiều. Nó có dạng nửa hình tròn hay còn gọi là hình bán nguyệt. Như bao cây thước khác, thước đo độ cũng có nhiều kích thước khác nhau. Thường thì đường kính hình tròn khoảng 10cm. Nhiều loại có đường kính dài hơn.

Thước được làm từ nhựa, gỗ, hay kim loại nhưng phổ biến nhất là thước nhựa. Những cây thước bằng nhựa thường nhẹ, bền, dễ sử dụng, giá thành rẻ nhưng dễ gãy. Giá của một cây thước nhựa chỉ từ 2000đ – 5000đ. Vì thế mà thước nhựa được sử dụng rộng rãi đặc biệt là đối với học sinh. Ta dễ dàng mua được một bộ thước nhựa từ 4 đến 5 cây với giá không quá 10.000đ.

Hiện nay, còn xuất hiện một loại thước được làm từ nhựa dẻo. Đối với loại thước này, ta có thể bẻ cong thoải mái mà không lo bị gãy. Khác với thước nhựa, thước bằng kim nặng hơn, có giá mắc hơn chút ít nhưng bền hơn, cũng dễ sử dụng, khó gảy. Thước bằng kim loại thì thường được làm bằng nhôm hoặc sắc.

Trong các loại, thước gỗ có giá thành mắc nhất. Tuy nhiên, nó cũng rất bền, dễ sử dụng và khó gảy. Thước gỗ còn thể hiện được sự tinh tế và sang trọng. Ngoài ra, còn có nhiều loại thước có khả năng khác như: thước máy tính, thước lược, thước vẽ những đường tròn, những đường cong,…

Màu sắc của thước thì rất đa dạng và phong phú, đặc biệt là thước nhựa. Thước dành cho tiểu học thì có màu sắc sặc sỡ, in hình những nhân vật hoạt hình hay truyện tranh nổi tiếng. Các em tiểu học thường chọn màu thước là màu sắc mà mình yêu thích. Các bé gái hay chọn thước màu hồng hay vàng còn các bé trai là màu xanh lá, xanh dương.

Học sinh cấp 2 lại chọn thường những cây thước trong suốt, ít hoa văn để dễ dàng sử dụng. Một số khác dùng thước bằng kim loại màu bạc hay bằng gỗ. Còn giáo viên lại dùng những cây thước gỗ màu nâu để kẻ bảng. Hầu hết tất cả cây thước đều có vạch chia cm. Một số khác vừa có vạch chia cm vừa có vạch chia inch. Những cây thước của nhãn hiệu nổi tiếng như Thiên Long hay Win đều in lô-gô của mình trên cây thước.

Thước ê-ke có 2 loại. Một là thước hình tam giác vuông cân có một góc 90o, hai góc còn lại 45o. Hai là thước hình tam giác vuông có một góc 90 độ, một góc 60 độ và góc còn lại 30 độ. Thước ê-ke thường có ghi số đo góc cho 2 góc khác 90 độ. Hai cạnh góc vuông của của cây thước thường có vạch chia. Một cạnh góc vuông là vạch chia cm, cạnh còn lại là vạch chia inch.

Thước đo độ thường thì đáy có vạch chia cm. Trên mặt thước có những đường thẳng phân độ xuất phát từ tâm hình tròn. Thước được chia độ từ 0 độ đến 180 độ ứng với những đường phân độ. Khoảng cách giữa hai đường phân độ là 10 độ. Dãy số đo độ được ghi từ trái sang phải và ngược lại từ phải sang trái.

Do mọi người hay đo góc từ trái sang phải nên dạy số đo độ này được làm to hơn. Thước là một đồ dùng học tập quan trọng và cần thiết, thế nên ta phải sử dụng và bảo quản nó đúng cách. Chỉ nên dùng để kẻ hay đo. Khi dùng xong, phải bỏ vào hộp bút để tránh làm mất thước. Khi thước bị dính bẩn thì ta rửa sạch hoặc dùng khăn sạch lau chùi. Ta phải sử dụng thước một cách nhẹ nhàng, nâng niu. Xem thước như một người bạn đồng hành trong suốt quãng đời học sinh.

Không biến thước thành vũ khí để châm chọc bạn bè. Ví dụ như dùng nó để đánh bạn hay đâm đầu nhọn của thước vào bạn. Không nên cứ mỗi lần tức giận là bẻ gãy thước cho hả giận. Ngoài ra, không nên dùng thước để khắc lên bàn, ghế hay thân cây. Không quăng thước lung tung, bừa bãi và giữ gìn thước cẩn thận, tránh bị mờ số.

Cây thước rất hữu dụng đối với tất cả mọi người. Thước thẳng giúp ta đo lường và kẻ những đường thẳng. Nó cũng giúp ta vẽ được những đoạn thẳng với độ dài cho trước và gạch chân những điều quan trọng. Thước ê-ke giúp ta kiểm tra góc vuông, dễ dàng vẽ được các hình trong môn hình học. Ngoài ra, nó cũng có thể dùng để đo hay kẻ thẳng.

Thước đo độ thì dùng để đo số đo của các góc, vẽ được góc, hình với số đo cho sẵn. Nhờ những cây thước mà chúng ta mới có thể làm được các bài tập thầy cô giao. Giúp ta biết được kích thước của những thứ xung quanh và đặc biệt là vẽ bản vẽ kĩ thuật. Đối với kiến trúc sư thì thước vô cùng quan trọng vì nó giúp vẽ ra được những bản thiết kế chính xác và đẹp mắt. Nhờ những bản thiết kế này mà người ta mới có thể xây dựng những công trình hay nhà ở.

Cây thước là người bạn thân thiết đối với học sinh và tôi cũng đã gắn bó với nó suốt nhiều năm qua. Nó như người bạn tri âm, tri kỉ đối với tôi. Nó đồng hành với tôi mỗi ngày. Lâu lâu, nhìn thấy nó thì lòng tôi lại nhớ đến kỉ niệm xưa khi tôi đã dùng thước khắc tên mình lên mặt bàn vào cuối năm lớp 5. Tôi yêu những cây thước mà tôi dùng hằng ngày. Thước chỉ là những thứ vô tri vô giác nhưng với tôi, nó đánh dấu kỉ niệm, là vật mà tôi trân trọng. Những thứ vô tri vô giác này đã giúp tôi ngày càng trưởng thành hơn.

Không thể phủ nhận được, cây thước là đồ dùng học tập quan trọng và cần thiết. Thước cũng giống như tập, sách – là những thứ học sinh luôn mang theo khi đến trường. Tôi rất trân trọng những cây thước của tôi. Ôi! Tôi yêu cây thước làm sao.

Bài văn thuyết minh về chiếc bút chì

Bài văn thuyết minh về chiếc thước kẻ

Bút chì là một sản phẩm quen thuộc được tạo ra để phục vụ đời sống con người, nhất là trong học tập và đối với học sinh chúng ta. Có thể nói, chiếc bút chì đã trở thành một người bạn thân thiết theo ta đã lâu, có lẽ từ lúc vào lớp một chúng ta đã được làm quen và kết bạn.

Đã từ lâu, bút chì xuất hiện với con người mang theo rất nhiều công dụng. Đơn giản, dễ dùng. Những thế kỉ trước chiếc bút chì có hình dáng khá to, gấp ba, bốn lần so với bút chì hiện nay. Thân ngoài được làm bằng gỗ, gồ ghề, không được mài nhẵn, trông rất lạ và vui mắt, nếu trông không kĩ, mọi người đều hiểu nhầm nó chỉ là một khúc gỗ thường mà thôi. Đầu cây bút là một khúc chì nhô ra, chắc vì khi đó. Đồ chuốt bút chì chưa được phát minh nên ngòi bút khá cụt. Đó là những chiếc bút chì đầu tiên của nhân loại.

Hàng trăm năm trôi qua, một thời gian khá dài, chiếc bút chì vẫn là thứ công cụ đơn giản nhưng được làm ra với hình dáng công phu hơn. Chiếc bút dài cỡ một gang tay, hình dáng dài, nhỏ gọn. Ruột bên trong là khúc chì dài được bao bọc bởi một lớp gỗ. Lớp gỗ bên ngoài sau nhiều năm cải tiến thì đã được nhẵn phẳng hơn, gỗ tốt, khó gãy.

Đầu bút khi mới mua chưa được chuốt nhọn, ruột bút và lớp vỏ có chiều dài bằng nhau. Sau khi chuốt, đầu bút nhọn ra như hình tam giác. Chiếc bút chì còn hữu dụng hơn khi cuối thân bút được gắn vào một cục tẩy nhỏ. Chiếc bút chì của chúng ta cũng khá đơn giản đúng không nào.

Hiện nay, bút mực, bút bi được ưa chuộng nhiều nhưng vẫn không ai bỏ quên được cây bút chì quen thuộc. Từ nhỏ, ta đã được cầm chiếc bút, lựng khựng vẽ từng vòng tròn rồi dần dần là rèn từng nét chữ. Bạn có nghĩ rằng, bút chì đã trở thành một người bạn tri kỉ của chúng ta? Từ những trang vở đầu tiên những dòng viết, nét bút nghuệch ngoạc cũng đã để lại cho chúng ta những kỉ niệm về người bạn ấy.

Ngoài ra, chiếc bút chì còn cho ta những bức vẽ, những sự vật, con người được tái hiện bởi bàn tay khéo léo của những người họa sĩ tài ba. Để được một bức tranh, chúng ta luôn cần đến bút chì, một chiếc bút khá hữu dụng. Bút chì còn có đặc điểm rất hay đó là khi chúng ta vô tình viết sai hay vẽ không đúng thì tẩy được, còn bút bi thì không được. Điều đó góp phần làm cho chiếc bút chì có nhiều công dụng và nét đặc sắc hơn, giúp cho mọi người không bao giờ quên nó.

Tuy chiếc bút chì được biết đến và được nhiều người yêu quý nhưng vẫn có bạn vô tâm bỏ quên nó, vứt nó và thậm chí còn bẻ gãy nó. Mặc dù giá thành chiếc bút rất vừa túi tiền và thậm chí là rẻ, nhưng nó có rất nhiều công dụng và có ích.

Bút chì còn có nhiều độ đậm nhạt khác nhau nên nhà sản xuất đều chú thích độ đậm đó lên thân bút tạo thuận tiện cho người sử dụng khi mua. Ngoài ra, hiện nay trên thị trường còn cho ra những chiếc bút chì bấm khá nhiều màu sắc, rất thu hút trẻ em. Nhưng tôi nghĩ, một chiếc bút chì truyền thống lại gần gũi với con người hơn.

Các bạn có từng nghĩ rằng, chiếc bút chì được khắc tên sẽ trở nên rất ý nghĩa nếu chúng ta dùng làm quà tặng. Tuy chỉ là một vài chiếc bút chì bình thường nhưng trong nó là cả một tình thương yêu và một niềm tin rất lớn. Khi chúng ta tặng cho bạn mình những chiếc bút đó, nó sẽ giúp cho người bạn ghi bài, vẽ những bức tranh thật đẹp hay trưng ở một góc nào đó, để khi nhìn thấy chiếc bút, người bạn ấy sẽ nhớ về chúng ta.

Tóm lại, chiếc bút chì là một người bạn rất thân thiết và gần gũi đối với chúng ta, là một chiếc bút thông dụng, giá thành thì rẻ. Chiếc bút chì thật ý nghĩa phải không nào, hãy giữ gìn nó cẩn thận và nếu có thể, hãy cố gắng phát huy thêm công dụng của chiếc bút để chiếc bút chì luôn là đồ vật và là người bạn cần thiết của học sinh chúng ta.

Đăng bởi: Thủy Tiên

Từ khoá: 10 bài văn thuyết minh về đồ dùng học tập hay nhất

Cập nhật thông tin chi tiết về 8 Cuốn Sách Hay Nhất Của Nhà Văn Minh Nhật trên website Fsey.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!