Xu Hướng 2/2024 # Bản Đồ Cộng Hòa Nam Phi Khổ Lớn Phóng To Năm 2023 # Top 4 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Bản Đồ Cộng Hòa Nam Phi Khổ Lớn Phóng To Năm 2023 được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Fsey.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

INVERT cập nhật mới nhất năm 2023 về bản đồ hành chính đất nước Nam Phi chi tiết như giao thông, du lịch, hành chính, vị trí địa lý, rất hi vọng bạn đọc có thể tra cứu những thông tin hữu ích về bản đồ Nam Phi khổ lớn phóng to chi tiết nhất.

Sơ lược về đất nước Nam Phi

Nam Phi là một quốc gia nằm ở mũi phía nam lục địa Châu Phi. Nước này giáp biên giới với Namibia, Botswana, Zimbabwe, Mozambique, Swaziland, và bao quanh toàn bộ đất nước Lesotho. Nam Phi có tên chính thức là Cộng hòa Nam Phi. Với tổng diện tích là 1.219.912 km² (470 979 mi²) là nước lớn thứ 25 trên thế giới.

Vị trí địa lý: Nằm ở cực nam châu Phi, giáp Na-mi-bi-a, Bốt-xoa-na, Dim-ba-bu-ê, Mô-dăm-bích, Xoa-di-len, Lê-xô-thô, Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương. Bờ biển dài 3000 km. Tọa độ: 29o00 vĩ nam, 24o00 kinh đông.

Diện tích: 1.219.900 km2

Thủ đô: Prê-tô-ria (Pretoria)

Lịch sử: Trước thế kỷ XVII trên lãnh thổ Nam Phi chỉ có người Phi sinh sống. Sau đó người Hà Lan lập ra xứ thuộc địa Kếp vào năm 1662. Đầu thế kỷ XIX, Anh chiếm thuộc địa này. Năm 1843, Anh thôn tính Na-tan và sau chiến tranh Bô-ê(1899 – 1902), Anh chiếm thêm Tơ-ran-xơ-van và O-ran-giép. Năm 1910, các lãnh thổ này và xứ Kếp hợp nhất thành Liên bang Nam Phi. Năm 1961, nước này tuyên bố rút khỏi Liên hiệp Anh và tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nam Phi. Trong nhiều năm, chính quyền ở Nam Phi thi hành chính sách phân biệt chủng tộc. Phong trào đấu tranh của nhân dân chống chủ nghĩa A-pác-thai ở Nam Phi phát triểu mạnh mẽ. Ngày 18/11/1993, Nam Phi đã chính thức thông qua bản hiến pháp mới, chấm dứt ba thế kỷ của chế độc phân biệt chủng tộc ở nước này.

Quốc khánh: 27/4 (1994)

Khí hậu: Phần lớn là bán khô cằn; cận nhiệt đới dọc theo bờ biển phía đông; nhiều nắng nhiệt độ chệnh lệnh ngày và đêm cao. Nhiệt độ trung bình hằng tháng: 12 – 23oC. Lượng mưa trung bình: 60 mm đến 2.000 mm.

Địa hình: Bên trong là cao nguyên rộng lớn, bao quanh là đồi và đồng bằng hẹp ven biển.

Tài nguyên thiên nhiên: Vàng, crôm, ăngtimoan, than đá, quặng sắt, mangan, niken, phốt phát, thiếc, uranium, kim cương, đồng, muối, khí tự nhiên, v.v..

Dân số: 52.982.000 người (ước tính tháng 2013)

Các dân tộc: Người da đen (75, 2%); da trắng (13,6%); da màu (8,6%); Ấn Độ (2,6%).

Ngôn ngữ chính: Tiếng Afrikaan, tiếng Anh. Các thổ ngữ cũng được sử dụng.

Tôn giáo: Đạo Thiên chúa (68%), đạo Hồi (2%), đạo Hin-đu (1,5%), tín ngưỡng truyền thống (28,5%).

Kinh tế:

Tổng quan: Với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, tiềm năng kinh tế lớn, có công nghiệp, nông nghiệp phát triển, khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, Nam Phi là một nước phát triển nhất ở châu Phi. GDP của Nam Phi chiếm 1/3 GDP của toàn châu lục, là nước xuất khẩu vàng lớn nhất thế giới và là đầu tàu thúc đẩy sự phát triển của 14 nước miền Nam châu Phi. Chính phủ đã đưa ra Chiến lược kinh tế vĩ mô (tháng 6-1996), có tên gọi “Tăng trưởng, việc làm và phân phối lại”, đưa ra các ưu đãi về thuế để khuyến khích đầu tư mới trong các dự án thu hút nhiều lao động, mở rộng các dịch vụ cơ sở hạ tầng cơ bản, cơ cấu lại và tư nhân hoá một phần tài sản nhà nước.

Sản phẩm công nghiệp: Platin, vàng, crôm (hàng đầu thế giới), ô tô, máy móc, hàng dệt, sắt và thép, hóa chất, phân hoá học, thực phẩm, v.v..

Sản phẩm nông nghiệp: Ngô, lúa mì, mía, hoa quả, rau; thịt bò, gia cầm, thịt cừu; len; các sản phẩm sữa.

Văn hoá: Nam Phi được mệnh danh là “đất nước cầu vồng” vì đây là một đất nước đa chủng tộc cũng như mang nhiều dấu ấn văn hóa rất phong phú và đặc sắc, bao gồm khoảng 20 sắc dân cùng chung sống. Tại Nam Phi tồn tại 11 ngôn ngữ chính thức và 8 ngôn ngữ không chính thức.

Đến Nam Phi, bạn có thể bắt gặp người da trắng (có nguồn gốc từ châu Âu) và người da màu (người dân bản địa và dân nhập cư gốc Ấn). Chính điều này đã làm cho Nam Phi trở thành một quốc gia mà ở đó là sự hòa quyện giữa văn hóa châu Phi, châu Á và văn minh phương Tây.

Giáo dục: Hiện nay, sự phân biệt đối xử trong giáo dục đã được xoá bỏ. Người da đen được giảng dạy bằng ngôn ngữ bản xứ của họ cho đến năm lớp 7, sau đó là sự lựa chọn giữa tiếng Anh và tiếng Afrikaan để tiếp tục học tập. Có 19 trường đại học ở Nam Phi.

Các thành phố lớn: Cape Town, Johannesburg, Durban, Port Elizabeth…

Đơn vị tiền tệ: rand (R); 1 R = 100 cent

Danh lam thắng cảnh: Prê-tô-ri-a, Cape Town, Công viên quốc gia Cru-gơ, Công viên rắn ở Durban, Viện Bảo tàng Hải dương học ở Port Elizabeth, Viện Bảo tàng châu Phi ở Johannesburg, v.v..

Tham gia các tổ chức quốc tế: AfDB, BIS, ECA, FAO, G-77, IAEA, IBRD, ICAO, IFAD, ILO, IMF, IMO, Interpol, ICO, ISO, ITU, OAU, UN, UNCTAD, UNESCO, UPU, WFTU, WHO, WMO, WTrO, v.v..

Lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam: ngày 22/12/1993.

Quốc kỳ Nam Phi có 6 màu, gồm đen, vàng, xanh lá cây, trắng, đỏ và xanh dương với biểu tượng chính có hình chữ Y Tên chính thức Cộng hòa Nam Phi Tên tiếng Anh South Africa Đơn vị tiền tệ Rand Nam Phi (ZAR) Thủ đô Bloemfontein (Thủ đô tư pháp) Ngày Quốc Khánh 27/4 (1994) Thành phố lớn Cape Town, Johannesburg, Durban, Port Elizabeth… Diện tích 1.221.037 km² (hạng 24) Vị trí địa lý Nằm ở cực nam châu Phi có toạ độ 29o00 vĩ nam, 24o00 kinh đông Địa hình cao nguyên rộng lớn, bao quanh là đồi và đồng bằng hẹp ven biển Loại chính phủ Cộng hòa nghị viện Tên miền quốc gia .za Dân số 60.389.296 người Ngôn ngữ chính Tiếng Anh, Afrikaans, Zulu, Xhosa, Swazi, Nam Ndebele, Bắc Sotho, Sotho, Tsonga, Tswana, Venda Tôn giáo Đạo Thiên chúa (68%), đạo Hồi (2%), đạo Hin-đu (1,5%), tín ngưỡng truyền thống (28,5%). Tài nguyên thiên nhiên Vàng, crôm, ăngtimoan, than đá, quặng sắt, mangan, niken, phốt phát, thiếc, uranium, kim cương, đồng, muối, khí tự nhiên,  Múi giờ SAST (UTC+2) Mã điện thoại +27 Giao thông bên Bên trái

Tóm tắt lịch sử Nam Phi

Trước thế kỷ XVII trên lãnh thổ Nam Phi chỉ có người Phi sinh sống. Sau đó người Hà Lan lập ra xứ thuộc địa Kếp vào năm 1662. Đầu thế kỷ XIX, Anh chiếm thuộc địa này.

Năm 1843, Anh thôn tính Na-tan và sau chiến tranh Bô-ê(1899 – 1902), Anh chiếm thêm Tơ-ran-xơ-van và O-ran-giép.

Năm 1910, các lãnh thổ này và xứ Kếp hợp nhất thành Liên bang Nam Phi.

Năm 1961, nước này tuyên bố rút khỏi Liên hiệp Anh và tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nam Phi. Trong nhiều năm, chính quyền ở Nam Phi thi hành chính sách phân biệt chủng tộc.

Phong trào đấu tranh của nhân dân chống chủ nghĩa A-pác-thai ở Nam Phi phát triểu mạnh mẽ.

Ngày 18/11/1993, Nam Phi đã chính thức thông qua bản hiến pháp mới, chấm dứt ba thế kỷ của chế độc phân biệt chủng tộc ở nước này 

Bản đồ hành chính nước Nam Phi khổ lớn năm 2023

PHÓNG TO

PHÓNG TO

PHÓNG TO

PHÓNG TO

PHÓNG TO

PHÓNG TO

PHÓNG TO

PHÓNG TO

PHÓNG TO

PHÓNG TO

PHÓNG TO

Bản đồ gồm 09 đơn vị hành chính của nước Nam Phi

Bản đồ du lịch nước Nam Phi

Một số danh lam thắng cảnh tại Nam Phi như: Prê-tô-ri-a, Cape Town, Công viên quốc gia Cru-gơ, Công viên rắn ở Durban, Viện Bảo tàng Hải dương học ở Port Elizabeth, Viện Bảo tàng châu Phi ở Johannesburg,

Bản Đồ Hành Chính Đất Nước Iraq (Iraq Map) Phóng To Năm 2023

INVERT cập nhật mới nhất năm 2023 về bản đồ hành chính đất nước Iraq chi tiết như giao thông, du lịch, hành chính, vị trí địa lý, rất hi vọng bạn đọc có thể tra cứu những thông tin hữu ích về bản đồ Iraq khổ lớn phóng to chi tiết nhất.

1. Giới thiệu đất nước Iraq

Vị trí địa lý: Nằm ở Trung Đông, giáp Thổ Nhĩ Kỳ, I-ran, vịnh Péc-xích, Cô-oét, A-rập Xê-út, Gioóc-đa-ni, Xy-ri. Tọa độ: 33000 vĩ bắc, 44000 kinh đông.

Diện tích: 437.072 km2.

Khí hậu: Chủ yếu là sa mạc, mùa đông lạnh, mùa hè khô, nóng. Các vùng núi phía bắc dọc biên giới với I-ran và Thổ Nhĩ Kỳ mùa đông có tuyết. Nhiệt độ trung bình tháng 1: 70C, tháng 7: 330C. Lượng mưa trung bình: 60-1500 mm.

Địa hình: Chủ yếu là đồng bằng rộng; các đầm lầy ngập nước dọc biên giới phía nam; các dãy núi nằm trên biên giới với I-ran và Thổ Nhĩ Kỳ.

Tài nguyên thiên nhiên: Dầu mỏ, khí tự nhiên, phốt phát.

Dân số: khoảng 33.417.500 người (2013)

Các dân tộc: Người A-rập (75 – 80%); người Cuốc (15 – 20%); người Thổ Nhĩ Kỳ và các dân tộc khác (5%).

Ngôn ngữ chính: Tiếng A-rập và tiếng Cuốc; tiếng Anh, Ác-mê-ni và Ác-sy-ri cũng được sử dụng.

Lịch sử: Là một trong những quốc gia xuất hiện sớm nhất trên thế giới. Với nền văn minh lưỡng hà và nhà nước Ba-bi-lon cách nay trên 4000 năm (2500 đến 1900 năm trước công nguyên). Từ thế kỷ XVI đến cuối Chiến tranh thế giới thứ nhất, I-rắc bị đế chế Ốt-tô-man thống trị. Sau đó, I-rắc bị Anh thống trị. Theo hiệp ước giữa Anh và I-rắc năm 1930, I-rắc trở thành một nước độc lập, nhưng trên thực tế vẫn phụ thuộc vào Anh. Ngày 14/7/1958, một nhóm sĩ quan cao cấp cùng quân đội nổi dậy lật đổ chế độ quân chủ của vua Pa-rúc, tuyên bố thành lập nước Cộng hòa I-rắc. Cuộc chiến tranh I-ran – I-rắc (từ tháng 9-1980 đến tháng 8-1988) và hai cuộc chiến tranh vùng Vịnh (cuối 1990 - đầu 1991 và năm 2003) đã để lại cho I-rắc nhiều hậu quả nghiêm trọng. Hiện I-rắc có một nền chính trị chưa ổn định.

Tôn giáo: Đạo Hồi dòng Shi’a (60 – 65%), đạo Hồi dòng Sun-ni (32 – 37%); Đạo Thiên chúa và các tôn giáo khác (3%).

Kinh tế: Khu vực chủ đạo của kinh tế I-rắc là dầu mỏ, chiếm 95%, là nguồn thu ngoại tệ chủ yếu của nước này. Trước chiến tranh, sản xuất dầu thô của I-rắc đứng thứ 6 thế giới, thứ 2 trong OPEC với trữ lượng dầu khoảng 112 tỷ thùng. Trong những năm 1980, cuộc chiến tranh giữa Iran và I-rắc kéo dài 8 năm đã tiêu tốn của I-rắc khoảng 100 tỷ USD, buộc chính phủ nước này phải thực hiện chính sách khắc khổ và vay nợ nước ngoài. Khi I-rắc đưa quân vào Cô-oét, cuộc chiến tranh vùng Vịnh diễn ra đã khiến cho nước này lâm vào tình trạng hết sức khó khăn, bị cấm vận kinh tế. Cuộc chiến tranh do Mỹ phát động năm 2003 càng làm I-rắc khủng hoảng toàn diện, mãi đến nay vẫn chưa có một giải pháp hữu hiệu nào thúc đẩy phát triển nền kinh tế.

Sản phẩm công nghiệp: dầu mỏ, hóa chất, hàng dệt, vật liệu xây dựng, thực phẩm.

Sản phẩm nông nghiệp: Lúa mì, lúa mạch, gạo, rau quả, chà là, bông, gia súc, cừu.

Giáo dục: Cấp tiểu học là bắt buộc để xóa nạn mù chữ nhưng nhiều trẻ em nông thôn không đủ điều kiện đi học. Chỉ có khoảng 60% trẻ em 15 tuổi là biết chữ. Irắc có 7 trường đại học, khoảng 30 viện nghiên cứu kỹ thuật.

Thủ đô: Bát-đa (Baghdad)

Các thành phố lớn: Basrah, As Sulaymaniyah, Irbill, Mosul …

Đơn vị tiền tệ: dina I-rắc (ID); 1 ID = 1000 fils

Quốc khánh: 17-7 (1968)

Danh lam thắng cảnh: Thủ đô Bát-đa, di tích Nineve, di tích “Tháp Baben” ở Numrud, v.v..

Quan hệ quốc tế: Tham gia các tổ chức quốc tế: FAO, G-77, IAEA, IBRD, ICAO, IFAD, ILO, IMF, IMO, Interpol, IOC, ITU, OPEC, UN, UNCTAD, UNESCO, UNIDO, UPU, WFTU, WHO, WIPO, WMO, v.v..

Quan hệ ngoại giao với Việt Nam

Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao: 10/7/1968

2. Bản đồ hành chính nước Iraq khổ lớn năm 2023

PHÓNG TO

PHÓNG TO

PHÓNG TO

PHÓNG TO

PHÓNG TO

PHÓNG TO

PHÓNG TO

PHÓNG TO

PHÓNG TO

PHÓNG TO

PHÓNG TO

PHÓNG TO

PHÓNG TO

3. Bản đồ Google Maps của nước Iraq

Nhìn Lại Năm 2023 Đáng Nhớ Cùng Cộng Đồng Việt Nam Ơi

Năm 2023 vừa qua là một năm đầy cảm xúc đối với cộng đồng Việt Nam Ơi khi năm nay cũng là năm Việt Nam Ơi chính thức được thành lập với nhiều hoạt động ý nghĩa, kết nối được nhiều anh chị em trên khắp vùng miền cả nước.

Nhằm ghi dấu lại những kỉ niệm đáng nhớ của một năm qua, cộng đồng Việt Nam Ơi đã tổ chức contest “2024 năm đáng nhớ” thu hút nhiều sự quan tâm của mọi người.

2024 là một năm đáng nhớ của nhiều người. (Ảnh: FB Lee Ky/ Group: Việt Nam Ơi)

Sau khi cuộc thi được phát động, có rất nhiều hình ảnh chất lượng được gửi về tham gia. Trong đó có các bài viết ấn tượng về các chuyến đi, đặc biệt là chuyến đi Hà Giang của tác giả Ý Huỳnh Như Trần. “Với mình, giá trị lớn nhất mình có được trong những chuyến đi đó là ánh mắt của trẻ em. Mỗi ánh mắt ấy là một niềm hi vọng…”.

Ánh mắt của những đứa trẻ Hà Giang là những ánh mắt chứa đầy niềm hy vọng. (Ảnh: Group Việt Nam Ơi)

Bên cạnh đó, dù 2023 là một năm đầy biến động của kinh tế do dịch covid hoành hành nhưng chính cộng đồng Việt Nam Ơi đã tạo cảm hứng và động lực giúp Phan Bá Lộc hoàn thành chuyến đi xuyên Việt của mình.

Những cảm hứng được truyền đi mạnh mẽ giúp tác giả thực hiện những chuyến đi của mình. (Ảnh: Group Việt Nam Ơi)

Ngoài ra, năm 2023 cũng là một năm đáng nhớ khi tác giả Nguyên Võ đã thực hiện chuyến đi của mình để gặp những người bạn “mạng xã hội”, được gắn kết và biến những người bạn qua mạng trở thành những người bạn hiện thực của mình để cùng ghi dấu lại những khoảnh khắc đáng nhớ cùng nhau, chia sẻ nhau nghe về những chuyến đi, về công việc, về những vui buồn cuộc sống hàng ngày… Tác giả thổ lộ: “Đối với mình đi bao nhiêu không quan trọng, quan trọng là trải nghiệm sâu đến đâu và kết nối được đến những Ai.”

“Điều đúng đắn nhất mình làm ở 2023 là tham gia group Việt Nam Ơi để có cơ hội kết nối anh chị em bạn bè cả nước”. (Ảnh: Group Việt Nam Ơi)

Đặc biệt, đối với Nguyễn Hoàng Anh, “năm 2023 được gói gọn lại bằng 2 từ “bài học”. Hoàng Anh đã học được cách yêu thương bản thân và mọi người, học cách chữa lành bản thân,… Tác giả bộc bạch: “2024 là một năm với rất nhiều đau thương, mất mát! Đại dịch, thiên tai và rất rất nhiều chuyện buồn xảy ra mỗi ngày, nhưng tôi tin sau giông bão, ai rồi cũng sẽ trở nên cứng cáp hơn, mạnh mẽ hơn và cuối cùng sẽ tìm được bình an cho riêng mình”.

Những “bài học” trong năm 2023 đều là những bài học quý giá giúp con người trưởng thành hơn rất nhiều. (Ảnh: Group Việt Nam Ơi)

Đăng bởi: Nhật Huỳnh Minh

Từ khoá: Nhìn lại năm 2023 đáng nhớ cùng cộng đồng Việt Nam Ơi

Khổ Thật, Khổ Ảo, Khổ Khổ, Nhưng Chắc Gì Bạn Đã Khổ

Bạn thấy mình khổ quá, nhưng hãy bình tĩnh, bạn khổ thật chứ?

Như ở bài viết trước (Chán đời, bế tắc thì làm gì?), khi anh em thấy chán đời, bế tắc, khổ đau gì thì cứ tập trung đi tập thể thao 3 tháng đi, phải liên tục 1 tuần 4 buổi (tuần nào bê tha không tập thì đếm lại từ đầu). Muốn đạp xe, chạy bộ, đi bơi, tập tạ, đá bóng gì cũng được… miễn là anh em có toát ra mồ hôi thì khí huyết lưu thông, cải thiện nhịp tim và cân bằng lại quá trình trao đổi chất trong cơ thể.

Tôi biết chuyện tập 3 tháng không sót buổi nào không hề đơn giản, nhưng anh em hãy thử 1 lần trong đời làm gì đó thực sự ngoài sức tưởng tượng của mọi người xem. Ít nhất anh em có câu chuyện kể cho con cháu nghe, hồi trước Ba đã thay đổi cuộc đời mình như thế !!! nghe oách chưa?

Chốt lại lần nữa cốt lõi của phần 1 là, khi giải phóng sự ì ạch, bế tắc của phần Thân, thì phần Tâm của anh em cũng được giải tỏa theo. Cơ chế là như thế, anh em cứ kỷ luật làm đi, rồi kiểm chứng xem tôi nói đúng không. Chứ than chán đời hoài mà không chịu đi tập thì cuộc đời anh em sẽ chẳng có gì đổi mới cả.

Hôm nay, phần 2, tôi sẽ viết sâu hơn, sau 3 tháng tập thì chuyện gì sẽ xảy ra với anh em, nhưng trước khi biên thì tôi nói qua về 2 loại Khổ trong game đời mà anh em sẽ đối diện. Đó là Khổ thật và Khổ ảo.

Khổ ảo

Sự thật mà tôi quan sát thì đa phần cái khổ ở đời đều là khổ ảo – là cái khổ do chúng ta tự tưởng tượng ra, chứ nó chưa xảy ra hoặc nó không có thật.

Ví dụ, anh em đang ngồi tự nhiên ho ra máu, lên google search, Bác sĩ Gú-gồ bảo “chúc mừng bạn đã ung thư vòm họng !”… thế là anh em đái ra quần ngay, tay chân quờ quạng, mặt xanh nhờn, lý trí tê liệt, rồi tự làm khổ mình.

Dù trên sự thật, ho ra máu có hàng trăm nguyên nhân khác nhau. Từ thời điểm đó đến ngày gặp được bác sĩ, tâm trí anh em hoang mang, càng lên google đọc thì càng chán nản, thôi sắp chết mẹ rồi… mất ăn, mất ngủ mất ngày liền… đến khi đi khám thì phát hiện viêm họng thông thường thôi. Đó là một loại khổ ảo.

Cái rõ hơn nữa mà anh em rất hay gặp, đó là hay tưởng tượng đối phương đang nghĩ không tốt về mình. Ảo kiểu này cực mệt, cực khổ anh em ạ. Cứ tưởng tượng không biết người ta nghĩ gì, rồi tự đặt ra viễn cảnh và tình huống, rồi tự làm khổ mình luôn. Cái này ở game đời cực nhiều, nó cũng là cái khổ ảo khá nặng đô mà ít ai nhận ra được.

Game đời có vô vàn cái khổ ảo, để anh em ngẫm rồi tự liệt kê cho riêng mình. Đơn giản như tự thấy mình quan trọng cũng là một loại khổ ảo, rồi khi có ai đối xử với mình không giống người quan trọng thì mình tự ái, thế là khổ.

Quy chung lại, khổ ảo, là cái chưa thực sự xảy ra ngay hiện tại, nhưng do anh em vọng tưởng ra viển cãnh bi quan nên tự làm mình khổ đau, bế tắc ngay trước khi nó xảy ra luôn. Dù phần nhiều là nó sẽ không xảy ra.

Còn Khổ Thật thì sao?

Anh em ra đường trời nắng, nóng quá, anh em khó chịu, đó là cái khổ Thật. Anh em chọc tay vào ổ điện, nó giật anh em tím người, cái khổ đó cũng thật.

Khổ thật, theo giác quan của con người, là để giúp chúng ta học tập cách sinh tồn trong thế giới tự nhiên, nên cái khổ này rất cần thiết.

Anh em ăn bậy, đau bụng, cái khổ này là cần thiết, là thật, để bữa sau né món đó ra.

Tuy nhiên, trong cái khổ thật cũng phát sinh 1 cái khổ khác nữa (cũng từ vọng tưởng mà ra, đó là Khổ – Khổ.

Khi anh em đau gì trên cơ thể, mà anh em càng cố muốn giải quyết nó nhanh, đưa bản ngã mình vào thì nó sinh ra cái khổ – khổ này. Kiểu anh em bị trúng 1 cung tên vào chân, nhưng tâm trí anh em muốn phải lành ngay, khỏi ngay… thì cái ức chế tâm đó sẽ như bắn thêm 2-3 cái cung tên nữa vào đúng chỗ anh em vừa bị trúng mũi đầu tiên.

Đó là tại sao, khi thân anh em đang khổ tự nhiên (khổ thật) thì tốt nhất là đi ngủ đi, vì khi ngủ, anh em không nghĩ, anh em không can thiệp cái bản ngã mình vào cái công tác hồi phục của cơ thể. Anh em đừng khinh thường sự thông minh của các tế bào li ti trong cơ thể anh em, nó tự làm việc được hết, miễn anh em đừng làm phiền nó !

Sinh – lão – bệnh – tử, cũng là 1 loại khổ thật. Game đời, chơi thời gian, thì anh em phải có bệnh này bệnh kia, rồi già phải chết. Già với bệnh thì chắc chắn khổ thân rồi, nhưng nếu anh em chấp nhận quy luật vô thường đó thì anh em không có khổ Tâm.

Đến đây, anh em hiểu Khổ Ảo và Khổ thật chưa? Khổ thật thì cần thiết, còn khổ ảo thì do anh em tự làm mình khổ thêm.

Muốn hết khổ thì hãy… tập thể thao

Đa phần các bạn inbox hỏi tôi, đều có những vấn đề rất nhức nhói trong cuộc sống mà không giải quyết được, nên đâm ra các bạn khổ và bế tắc. Nhưng sự thật, tôi nói các bạn đừng buồn, thì đa số cái khổ mà các bạn đang đối diện đều là khổ Ảo, do bạn tự nghĩ ra viển cảnh đó.

Mà để nhận ra đâu là khổ Ảo thì tâm trí anh em phải thảnh thơi, thoải mái, không vướng bận, chứ giờ đầu đang rối thì sao nhận ra được.

Nên tập thể thao sẽ giải phóng Thân, giải tỏa Tâm, Tâm sáng thì trí tuệ cũng sinh, từ đó nhìn ra được các vấn đề của mình trước đó không còn là vấn đề nữa. Sự thật là thế, anh em tỉnh ngộ chưa?

Quay lại chuyện chị kia ở phần 1, hai vợ chồng đã hết tình cảm, muốn ly dị mà thấy 2 đứa con thiếu cha thiếu mẹ thì nó khổ. Tôi cũng nói đi tập thể dục đi, đúng là sau đó tự bản thân chị ấy cũng nhận ra, thà con cái nó ở với 1 người mà cho thật trọn vẹn 1 người còn hơn bắt nó sống trong cái môi trường mà không có tình thương thực sự gì cả. Còn làm kẹt nguyên đám khổ với nhau.

Giải phóng cho tất cả, rất nhiều đứa con mồ côi không cha không mẹ, nó cũng trưởng thành hết mà. Đôi lúc cũng chỉ là tưởng tượng của chính mình rồi tự làm khổ, dù chia tay cũng khổ thật mà không khổ đến mức như anh em nghĩ đâu.

Rất nhiều ví dụ trong game đời để thấy chúng ta cực kỳ u mê và ảo tưởng rất nhiều về thực tại, mà trước tôi cũng biên nhiều rồi. Còn ảo thì sẽ còn khổ, vì toàn khổ ảo do tâm trí bản ngã chúng ta tự nghĩ ra, nên nói cho đúng, “đời là bể khổ ảo” thì mới chuẩn.

Rồi, anh em nào đã hiểu thông thì vác cái thân đi tập thể thao đi, 3 tháng sau, cuộc đời anh em sẽ khác. Dù có thể anh em chưa giải quyết được gì đáng kể, nhưng do cái khổ ảo đã tan biến nên anh em cũng nhẹ người hơn.

Đăng bởi: Viên Khế

Từ khoá: Khổ thật, khổ ảo, khổ khổ, nhưng chắc gì bạn đã khổ

Lịch Sử 12 Bài 17: Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Soạn Sgk Sử 12 Trang 122

Sơ đồ tư duy lịch sử 12 bài 17

Lý thuyết  Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa I. Tình hình nước ta sau cách mạng tháng tám 1945

1. Khó khăn

a. Ngoại xâm và nội phản

* Miền Bắc (từ vĩ tuyến 16 trở ra): 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc kéo vào nước ta theo sau là các đảng phái tay sai nhưViệt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc), Việt Nam cách mạng đồng chí hội (Việt Cách) hòng giành lại chính quyền.

* Miền Nam (từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam)

– Quân Anh kéo vào, dọn đường cho Pháp trở lại xâm lược nước ta. Lợi dụng tình hình, bọn phản động ngóc đầu dậy làm tay sai cho Pháp chống phá cách mạng.

– Trên cả nước còn 6 vạn quân Nhật chờ giải giáp, theo lệnh Anh chống cách mạng.

– Như vậy kẻ thù còn đông và mạnh.

b. Đối nội

– Chính quyền cách mạng vừa thành lập, chưa được củng cố, lực lượng vũ trang non yếu.

– Nạn đói cuối 1944 đầu 1945 chưa khắc phục được; nạn lụt lớn làm vỡ đê 9 tỉnh Bắc Bộ; hạn hán kéo dài.

– Cơ sở công nghiệp chưa phục hồi, hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt, đời sống nhân dân nhiều khó khăn.

– Ngân sách Nhà nước trống rỗng, tiền mất giá của Trung Hoa Dân Quốc tung ra thị trường, làm tài chính nước ta rối loạn

2. Thuận lợi cơ bản

– Nhân dân đã giành quyền làm chủ, được hưởng quyền lợi do chính quyền cách mạng mang lại nên phấn khởi và gắn bó với chế độ.

– Cách mạng nước ta có Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng suốt lãnh đạo.

– Hệ thống XHCN đang hình thành, phong trào cách mạng thế giới phát triển.

– Phong trào đấu tranh vì hòa bình, dân chủ phát triển ở nhiều nước tư bản.

II. Bước đầu xây dựng chính quyền cách mạng, giải quyết nạn đói, nạ dốt và khó khăn về tài chính

1. Xây dựng chính quyền cách mạng

– Ngày 06/01/1946, hơn 90% cử tri trong cả nước đi bỏ phiếu bầu Quốc hội và đã bầu ra 333 đại biểu.

– Ngày 02/03/1946, Quốc hội thông qua danh sách Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, lập ra Ban dự thảo Hiến pháp.

– Ngày 09/11/1946: Ban hành Hiến pháp đầu tiên.

– Các địa phương thuộc Bắc Bộ và Trung Bộ bầu cử hội đồng nhân dân các cấp (tỉnh, huyện, xã) theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu

– Lực lượng vũ trang được xây dựng.

– Việt Nam giải phóng quân đổi thành Vệ quốc đoàn (9/1945), rồi Quân đội quốc gia Việt Nam (22/5/1946).

– Cuối năm 1945, lực lương dân quân tự vệ tăng lên hàng chục vạn người.

* Ý nghĩa:

– Thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

2. Giải quyết nạn đói

a. Biện pháp cấp thời

– Hồ Chủ Tịch kêu gọi “nhường cơm sẻ áo”, lập “Hũ gạo cứu đói”, tổ chức “Ngày đồng tâm”.

– Quyên góp, điều hòa thóc gạo giữa các địa phương trong cả nước, nghiêm trị những kẻ đầu cơ tích trữ, không dùng gạo, ngô, khoai, sắn để nấu rượu.

b. Biện pháp lâu dài

– Tăng gia sản xuất “Tấc đất tấc vàng”, “Không một tấc đất bỏ hoang”.

– Bỏ thuế thân và các thứ thuế vô lý.

– Giảm tô, thuế ruộng đất 25 %, chia lại ruộng đất công.

– Kết quả: sản xuất nông nghiệp nhanh chóng được phục hồi, nạn đói bị đẩy lùi.

3. Giải quyết nạn dốt

– Xóa nạn mù chữ là nhiệm vụ cấp bách. Ngày 8/9/1945, Hồ Chủ Tịch ký sắc lệnh lập Nha Bình dân học vụ, kêu gọi nhân dân xóa nạn mù chữ.

– Từ 9/1945 đến 9/1946, trên toàn quốc gần 76 nghìn lớp học, xóa mù chữ cho hơn 2,5 triệu người.

– Trường học các cấp phổ thông và đại học sớm khai giảng, nội dung và phương pháp giáo dục được đổi mới theo tinh thần dân tộc dân chủ

4. Giải quyết khó khăn về tài chính

– Kêu gọi tinh thần tự nguyện đóng góp của nhân dân cả nước qua “Quỹ độc lập” và “Tuần lễ vàng”, thu được 370 kg vàng, 20 triệu đồng vào “Quỹ độc lập”, 40 triệu đồng vào “Quỹ đảm phụ quốc phòng”.

– Ngày 23/11/1946. Quốc hội cho lưu hành tiền Việt Nam trong cả nước.

III. Đấu tranh chống ngoại xâm, nội phản, bảo vệ chính quyền cách mạng

1. Kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược ở Nam Bộ

– Ngay sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh, chính phủ Pháp thành lập đạo quân viễn chinh do tướng Lơ cơ léc chỉ huy, cử Đác giăng li ơ làm Cao Ủy Đông Dương để tái chiếm Đông Dương

– Ngày 02/09/1945, nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn tổ chức mít tinh chào mừng “Ngày Độc lập”, Pháp xả súng vào đám đông là nhiều người chết và bị thương.

– 6/9/1945 quân Anh vào giải giáp quân Nhật, đến Sai gòn, theo sau là quân Pháp. yêu cầu ta giải tán lực lượng vũ trang, thả hết tù binh Pháp

– Đêm 22 rạng sáng 23/09/1945, được sự giúp đỡ của quân Anh, Pháp đánh úp trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ và cơ quan tự vệ thành phố Sài Gòn, xâm lược nước ta lần thứ hai.

– Quân dân Nam Bộ nhất tề đứng lên chiến đấu chống quân xâm lược, đột nhập sân bay tân Sơn Nhất, đốt cháy Tàu Pháp, đánh kho tàng …

– Từ 5/10/1945, sau khi có thêm viện binh,Pháp phá vòng vây Sài Gòn – Chợ Lớn, mở rộng đánh chiếm Nam Bộ và Nam Trung Bộ.

– Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch lãnh đạo cả nước chi viện cho Nam Bộ và Nam Trung bộ kháng chiến, các “đoàn quân Nam tiến” sát cánh cùng nhân dân Nam Trung Bộ chiến đấu; tổ chức quyên góp giúp nhân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ kháng chiến.

2. Đấu tranh với Trung hoa Dân Quốc và bọn phản cách mạng ở miền Bắc

* Đối với quân Trung Hoa Quốc Dân Đảng

– Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch chủ trương tạm thời hòa hoãn, tránh xung đột với quân Trung Hoa Dân Quốc.

– Tháng 3/1946 Quốc hội khóa I đồng ý:

+ Nhượng cho Việt Quốc, Việt cách 70 ghế trong Quốc hội,4 ghế Bộ trưởng trong Chính phủ liên hiệp, cho Nguyễn Hải Thần (lãnh tụ Việt Cách) giữ chức Phó Chủ tịch nước.

+ Cung cấp một phần lương thực thực phẩm, phương tiện giao thông vận tải, nhận tiêu tiền Trung Quốc.

– Để giảm bớt sức ép của kẻ thù, tránh hiểu lầm, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố “tự giải tán” (11-1945), nhưng là tạm thời rút vào hoạt động bí mật, tiếp tục lãnh đạo chính quyền cách mạng.

– Đối với các tổ chức phản cách mạng, tay sai, chính quyền dựa vào quần chúng, kiên quyết vạch trần âm mưu và hành động chia rẽ, phá hoại của chúng, nếu có đủ bằng chứng thì trừng trị theo pháp luật. Ban hành một số sắc lệnh trấn áp bọn phản cách mạng.

* Ý nghĩa: hạn chế mức thấp nhất các hoạt động chống phá của Trung Hoa Dân Quốc và tay sai, làm thất bại âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng của chúng.

3. Hòa hoãn với Pháp nhằm đẩy quân Trung Hoa Dân Quốc ra khỏi nước ta. Hiệp định Sơ bộ Việt – Pháp (6/3/1946)

a. Nguyên nhân việc ta hòa hoãn với Pháp (Hoàn cảnh ký Hiệp định Sơ bộ Việt – Pháp (6/3/1946)

– Sau khi chiếm Nam Bộ, Pháp thực hiện kế hoạch tiến quân ra bắc

– Ngày 28/2/1946, Pháp và Trung Hoa Dân Quốc ký Hiệp ước Hoa – Pháp:

+ Pháp trả lại một số quyền lợi về kinh tế, chính trị cho Trung Hoa Dân Quốc và cho Trung Quốc vận chuyển hàng hoá qua cảng Hải Phòng miễn thuế.

+ Đổi lại cho Pháp đưa quân ra Bắc giải giáp quân đội Nhật.

– Hiệp ước Hoa – Pháp đã đặt nhân dân ta trước sự lựa chọn:

+ Hoặc cầm súng chiến đấu chống thực dân Pháp.

+ Hoặc hòa hoãn, nhân nhượng Pháp để tránh tình trạng phải đối phó một lúc với nhiều kẻ thù.

– Đảng quyết định chọn con đường “hòa để tiến” với Pháp, ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946.

b. Nội dung Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946

Ngày 6/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ ký với đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định Sơ bộ tại Hà Nội với nội dung:

– Pháp công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một quốc gia tự do, có Chính phủ, Nghị viện, quân đội và Tài chính riêng là thành viên của Liên bang Đông Dương nằm trong khối Liên Hiệp Pháp.

– Chính phủ Việt Nam thỏa thuận cho 15.000 quân Pháp ra miền Bắc thayquân Trung Hoa Dân Quốc giải giáp quân Nhật, và số quân này sẽ rút dần trong thời hạn 5 năm.

– Hai bên ngừng xung đột ở miền Nam, tạo thuận lợi đi đến đàm phán chính thức.

c. Ý nghĩa

– Ta tránh được việc phải đương đầu cùng lúc với nhiều kẻ thù, đẩy được 20 vạn quân Trung Hoa Dân Quốc và tay sai ra khỏi nước ta.

– Có thêm thời gian hòa bình để củng cố, chuẩn bị mọi mặt cho kháng chiến lâu dài chống Pháp.

d. Tạm ước Việt – Pháp ngày 14 /9/1946

– Ta tranh thủ điều kiện hòa bình để ra sức củng cố, xây dựng và phát triển lực lượng về mọi mặt, chuẩn bị để đối phó với thực dân Pháp.

– Thực dân Pháp liên tiếp vi phạm Hiệp định: Gây xung đột ở Nam Bộ, tìm cách trì hoãn và phá hoại các cuộc đàm phán, làm cho cuộc đàm phán ở Phông-ten-nơ-blô giữa hai Chính phủ bị thất bại. Nguy cơ bùng nổ chiến tranh đến gần.

-Hồ Chủ tịch ký với Pháp Tạm ước 14.09.1946, nhân nhượng cho Pháp một số quyền lợi kinh tế, văn hóa, tạo điều kiện cho ta có thêm thời gian xây dựng, củng cố lực lượng, chuẩn bị vào cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp lâu dài.

Giải bài tập SGK Lịch sử 12 Bài 17 Câu 1

Những khó khăn của cánh mạng nước ta sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã được Đảng và Chính phủ cách mạng giải quyết như thế nào? Nêu kết quả và ý nghĩa?

Advertisement

Gợi ý đáp án

– Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 nước ta đứng trước tình thế hiểm nghèo với rất nhiều khó khăn, khác nào “ngàn cân treo sợi tóc”.

* Biện pháp giải quyết các khó khăn:

– Ổn định đất nước, xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng:

+ Về chính trị: tiến hành bầu Quốc hội, ban hành Hiến Pháp, thành lập Quân đội quốc gia Việt Nam.

+ Về kinh tế: thực hiện chủ trương trước mắt là nhường cơm, xẻ áo; hũ gạo tiết kiệm, chủ tương lâu dài là tăng gia sản xuất.

+ Văn hóa, giáo dục: Ngày 8 – 9 – 1945, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ, đổi mới giáo dục theo tinh thần dân tộc, dân chủ.

– Đấu tranh chống ngoại xâm và nội phản:

+ Hòa hoãn với Tưởng để chống Pháp ở miền Nam.

+ Hòa hoãn với Pháp nhằm đẩy quân đội Trung Hoa Dân quốc ra khỏi miền Bắc.

* Kết quả:

– Chính quyền cách mạng bước đầu được củng cố, tạo dựng các cơ sở pháp lý quan trọng của một thể chế chính trị mới.

– Bằng việc thực hiện các biện pháp tăng gia sản xuất thì nạn đói đã được đẩy lùi, tài chính bước đầu được gây dựng lại.

– Giải quyết nạn mù chữ và xây dựng một nền giáo dục mới.

* Ý nghĩa:

– Tạo dựng niềm tin cho nhân dân về một chế độ xã hội mới mà ở đó tinh thần dân chủ và quyền công dân được xem trọng.

-Trong quan hệ ngoại giao, đã hạn chế đến mức thấp nhất các hoạt động chống phá, âm mưu lật đổ chính quyền của kẻ thù. Tránh cùng lúc phải đối diện với nhiều kẻ thù, có điều kiện tranh thủ hòa bình để tập hợp lực lượng, củng cố vững chắc nền tảng cho cuộc kháng chiến lâu dài.

Câu 2

Đảng và Chính phủ cách mạng đã thực hiện chủ trương, sách lược như thế nào đối với Pháp trong thời gian trước ngày 6 – 3 và từ ngày 6 -3 -1946?

Gợi ý đáp án

* Từ ngày 2 – 9 – 1945 đến trước ngày 6 – 3 – 1946:

– Chủ trương: Hòa với quân Tưởng ở miền Bắc để tập trung lực lượng chống Pháp ở miền Nam.

– Sách lược: Nhượng cho tay sai của Tưởng 70 ghế trong Quốc hội và 4 ghế trong chính phủ không qua bầu cử, nhân nhượng một số quyền lợi về kinh tế và chính trị như nhận cung cấp lương thực thực phẩm, nhận tiêu tiền mất giá của Tưởng.

* Từ ngày 6 – 3 – 1946 đến ngày 19 – 12 – 1946:

– Chủ trương: Hòa với Pháp để đuổi nhanh quân Tưởng, tranh thủ thời gian để chuẩn bị kháng chiến lâu dài.

– Sách lược: Ký Hiệp định Sơ bộ (6 – 3 – 1946) và Tạm ước (14 – 9 – 1946), nhân nhượng của Pháp một số quyền lợi về kinh tế, văn hóa. Tạm ước là giới hạn cuối cùng của sự nhân nhượng.

Đảng Cộng Sản Việt Nam Ra Đời Sự Ra Đời Của Đảng Cộng Sản Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền và là chính đảng duy nhất được phép hoạt động tại Việt Nam theo Hiến pháp. Cơ quan cao nhất của Đảng là Đại hội Đại biểu toàn quốc, nơi sẽ bầu ra Ban Chấp hành Trung ương giữa các kỳ Đại hội Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng là cơ quan tối cao quyết định các vấn đề của Đảng. Sau Đại hội, Trung ương sẽ bầu ra Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ủy ban Kiểm tra Trung ương và bầu một Ủy viên Bộ Chính trị làm Tổng Bí thư.

a. Hoàn cảnh trong nước

– Chính sách thống trị của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi, cụ thể:

+ Kinh tế: Thực dân Pháp cấu kết với giai cấp địa chủ để thực hiện chính sách bóc lột tàn bạo, cướp đoạt ruộng đất để lập đồng điền, ra sức vơ vét tài nguyên, cùng nhiều hình thức thuế khóa nặng nề, vô lý, xây dựng một số cơ sở công nghiệp, hệ thống đường giao thông, bến cảng phục vụ chính sách khai thác thuộc địa.

+ Chính trị: Pháp thi hành chính sách cai trị thực dân, tước bỏ quyền lực đối nội, đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn, đó là một chính sách chuyên chế điển hình, chúng đàn áp đẫm máu các phong trào và hành động yêu nước của người dân, mọi quyền tự do bị cấm. Chúng chia rẽ ba nước Đông Dương, chia Việt Nam thành ba kỳ và thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng.

+ Văn hóa: Thực dân Pháp tiến hành chính sách ngu dân, chúng bưng bít, ngăn cản ảnh hưởng của văn hóa tiến bộ trên Thế giới, khuyến khích văn hóa độc hại, xuyên tạc lịch sử, giá trị văn hóa Việt Nam và dung tính, duy trì các hủ tục lạc hậu.

– Các cuộc khởi nghĩa và phong trào đấu tranh của quần chúng chống thực dân Pháp câm lược diễn ra mạnh mẽ nhưng đều bị thất bại, xã hội Việt Nam rơi vào khủng hoảng về đường lối cách mạng.

+ Phong trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến như phong trào Cần Vương đã chấm dứt với sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo (1896); phong trào nông dân Yên Thế của Hoàng Hoa Thám kéo dài 30 năm cũng không giành được thắng lợi.

+ Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản do các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Lương Văn Can lãnh đạo cũng rơi vào bế tắc. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học lãnh đạo cũng bị tất bại… Cách mạng Việt Nam chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước.

b. Hoàn cảnh thế giới

– Chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Các nước tư bản đế quốc vừa tăng cường bóc lột nhân dân lao động trong nước vừa xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa. Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt. Những cuộc phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ ở các nước thuộc địa.

– Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản vào tháng 03/1919 đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

– Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, chủ nghĩa Mác-Lênin từ lý luận đã trở thành hiện thực, mở ra một thời đại mới, thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc.’

Năm 1929 phong trào dân tộc dân chủ ngày càng phát triển, kết thành làn sóng mạnh mẽ. Đặc biệt sự phát triển của phòng trào cách mạng quá khả năng lãnh đạo của các tổ chức cách mạng. Đặc biệt là sự xuất hiện các tổ chức cộng sản bao gồm:

+ Đông Dương Cộng sản Đảng:

Tháng 3/1929, một số hội viên tiên tiến của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Bắc Kỳ họp tại số nhà 5Đ, phố Hàm Long (Hà Nội), lập ra Chi bộ cộng sản đầu tiên ở Việt Nam có 7 Đảng viên mở cuộc vận động lập Đảng cộng sản. Từ ngày 01 – 09/05/1929, tại Đại hội lần thứ nhất của Hội VN cách mạng thanh niên tại Hương Cảng (Trung Quốc), đoàn đại biểu Bắc Kỳ đặt vấn đề thành lập Đảng Cộng sản song không được chấp nhận nên bỏ về nước.

17/6/1929 đại biểu cộng sản miền Bắc họp tại nhà số 312, phố Khâm Thiên (Hà Nội) quyết định thành lập Đông Dương cộng sản đảng, thông qua Tuyên ngôn, điều lệ Đảng, ra báo Búa Liềm, cử ra Ban chấp hành Trung ương Đảng.

+ An Nam Cộng sản Đảng:

8/1929: Những cán bộ tiên tiến trong Tổng bộ và kỳ bộ Việt Nam cách mạng thanh niên ở Nam kỳ thành lập An Nam cộng sản đảng, ra tờ báo Đỏ là cơ quan ngôn luận.

+ Đông Dương cộng sản liên đoàn:

9/1929: Một số đảng viên tiên tiến của Tân Việt lập Đông Dương cộng sản liên đoàn.

Tuy nhiên sự ra đời của ba tổ chức cộng sản không tránh khỏi sự phân tán về lực lượng và tổ chức, không thể thống nhất về tư tưởng và hành động. Trách nhiệm lịch sử là phải thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất, chấm dứt tình trạng chia rẽ phong trào Cộng sản ở Việt Nam.

Từ ngày 6/1 đến ngày 7/2/1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp ở bán đảo Cửu Long thuộc Hồng Kông (Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc thay mặt cho Quốc tế Cộng sản.Tham dự Hội nghị gồm: Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh (đại biểu của Đông Dương Cộng sản đảng), Châu Văn Liêm, Nguyễn Thiệu (đại biểu của An Nam Cộng sản đảng). Hội nghị đã nhất trí thống nhất các tổ chức cộng sản thành lập một đảng, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị đã thông qua các văn kiện gồm: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng và Lời kêu gọi của đồng chí Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Việt Nam gửi đến công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh và tất cả đồng bào bị áp bức, bóc lột nhân dịp thành lập Đảng.

Trong đó, Chính cương vắn tắt của Đảng và sách lược vắn tắt của Đảng phản ánh nội dung cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản có ý nghĩa như Đại hội thành lập Đảng. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960) đã quyết nghị lấy ngày 3 tháng 2 dương lịch mỗi năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam (ngày 03/02/1930) là một tất yếu khách quan, bắt nguồn từ thực tiễn cuộc đấu tranh của nhân dân chống sự nô dịch đế quốc, được soi rọi dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, phù hợp với quy luật vận động của cách mạng thế giới và sự nghiệp cách mạng nước ta. Đảng ra đời đã đáp ứng những yêu cầu khách quan, thiết yếu và cấp bách của dân tộc là độc lập, tự do và phát triển. Đảng thành lập là kết quả của nhiều yếu tố, trong đó có vai trò to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người thực hiện sứ mệnh lịch sử sáng lập chính đảng vô sản ở Việt Nam, với những sáng tạo lý luận xuất sắc. Từ đây, cách mạng Việt Nam có một đảng cách mạng chân chính dẫn đường cho toàn dân đứng lên đánh đổ ách áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến đem lại độc lập cho dân tộc, ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

Vai trò của chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự ra đời của Đảng ta được thể hiện:

– Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy và lựa chọn con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc ta.

Từ cuối thế kỷ XIX, do sự bất lực của triều đình nhà Nguyễn, Việt Nam từ một quốc gia độc lập, thống nhất có chủ quyền bị thực dân Pháp xâm lược và biến thành thuộc địa. Chế độ cai trị độc tài và chuyên chế đã làm cho xã hội Việt Nam biến đổi toàn diện, mạnh mẽ, với sự lệ thuộc, lạc hậu của xã hội và sự bần cùng của đại đa số dân cư. Với truyền thống yêu nước và tinh thần quật cường dân tộc, ngay khi đất nước đối đầu với họa ngoại xâm, khi triều Nguyễn ngày càng lún sâu vào vũng bùn đầu hàng, từ bỏ chủ quyền quốc gia cho thực dân Pháp, nhiều phong trào yêu nước đã diễn ra. Mục tiêu chung là bảo vệ, khôi phục nền độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất quốc gia, chấn hưng đất nước, tiêu biểu như khởi nghĩa Ba Đình, khởi nghĩa Bãi Sậy, khởi nghĩa Hương Khê, phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế trong hệ tư tưởng phong kiến cuối thế kỷ XIX, qua các phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, Duy Tân theo xu hướng dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX, phong trào chống thuế ở Trung Kỳ… Tuy nhiên, các phong trào yêu nước đó đều đi đến thất bại.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thất bại của các phong trào yêu nước, song nguyên nhân chính là thiếu lực lượng lãnh đạo, chưa có hệ tương tưởng khoa học dẫn đường, chưa có lý luận và đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo và nhất là chưa có một tổ chức lãnh đạo đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Sự thất bại của các phong trào yêu nước thể hiện sự khủng hoảng, bế tắc của các phương cách cứu nước truyền thống Việt Nam trước sự chuyển biến của thời cuộc. Song sự thất bại đó không hề vô ích, nó là động lực thôi thúc ý chí vươn lên sáng tạo của con người Việt Nam, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp bách phải có một ánh sáng mới soi đường, dẫn dắt.

Trong bối cảnh lịch sử đó, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh với lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, lại sớm được tiếp thu những tư tưởng tiến bộ của nhân loại về “tự do, bình đẳng, bắc ái” được truyền đến Việt Nam, với tầm nhìn chiến lược và phương pháp tư duy sáng tạo đã sớm hình thành ý chí cứu nước, cứu đồng bào ở Người. Người nhận thấy những bất cập và bế tắc của con đường cứu nước của thế hệ cha anh đang tiến hành và yêu cầu bức bách đối với dân tộc là phải tìm kiếm con đường cách mạng mới và Người đã đảm đương trọng trách đó.

Trải qua gần 10 năm nghiên cứu, khảo nghiệm, học tập, tìm tòi, hoạt động không ngừng ở nhiều quốc gia, ở hầu khắp các châu lục. Tháng 7/1920, lần đầu tiên Người đọc: Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đăng trên báo Nhân Đạo (L’Humanite), số ra ngày 16 và 17/7/1920. Luận cương lập tức thu hút sự chú ý đặc biệt của Nguyễn Ái Quốc. Người tìm thấy ở đó con đường đi đúng đắn giải phóng đất nước khỏi ách thực dân, cứu dân cứu nước là theo con đường cách mạng vô sản, con đường có mục đích cao cả là giải phóng dân tộc để tiến tới giải phóng con người. Sau này Người viết: “Luận cương của Lênin đã làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đày đọa và đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng cho chúng ta!

Nguyễn Ái Quốc trở thành người Việt Nam đầu tiên, nghiên cứu, tổng kết, tìm ra bản chất của các học thuyết, các cuộc cách mạng trên thế giới, chắt lọc, vận dụng và phát triển cho phù hợp với dân tộc mình. Năm 1927, trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Người khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” (2). Cũng trong tác phẩm đó, Người đã thấy sự cần thiết phải có Đảng để lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người đặt vấn đề cách mệnh trước hết phải có cái gì? Người chỉ rõ: “Trước hết phải có Đảng cách mệnh” và “Đảng có vững cách mệnh thì mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt… Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam” (3).

Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức sâu sắc sự gắn bó mật thiết giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Và Người cũng sớm nhận thức rõ, chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa dân tộc chân chính là một động lực lớn của cách mạng và đã kết hợp tài tình chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa Mác – Lênin – học thuyết cách mạng tiên tiến nhất của thời đại. Người nhận thức, chỉ có kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước mới có thể xây dựng được một Đảng cách mạng chân chính đảm bảo cho cách mạng phát triển đúng hướng và đi đến thắng lợi.

– Nguyễn Ái Quốc tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào trong nước và chuẩn bị những điều kiện cho sự thành lập Đảng.

Bằng nhiều hoạt động, trong giai đoạn 1921 – 1929, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng:

Về chính trị: Người tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào trong nước. Nguyễn Ái Quốc đã phác thảo những vấn đề cơ bản về đường lối cứu nước đúng đắn của cách mạng Việt Nam, thể hiện tập trung trong những bài giảng của Người cho những cán bộ cốt cán của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tại Quảng Châu (Trung Quốc). Năm 1927, những bài giảng của người trong các lớp huấn luyện được in thành sách lấy tên là Đường Kách mệnh. Tác phẩm chỉ ra vấn đề then chốt có tác dụng lớn không chỉ đối với Việt Nam, mà còn đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa Phương Đông. Những vấn đề đó là: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chủ yếu là công nông, vì vậy phải tổ chức quần chúng lại; cách mạng muốn thành công phải có một Đảng Cộng sản lãnh đạo; phải có đường lối và phương pháp cách mạng đúng; cách mạng giải phóng dân tộc phải liên hệ chặt chẽ với cách mạng vô sản thế giới…

Về tư tưởng: Nguyễn Ái Quốc đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam nhằm làm chuyển biến nhận thức của quần chúng, đặc biệt là giai cấp công nhân, làm cho hệ tư tưởng Mác – Lênin từng bước chiếm ưu thế trong đời sống xã hội, làm chuyển biến mạnh mẽ phong trào yêu nước xích dần đến lập trường của giai cấp công nhân. Nội dung truyền bá là những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin được cụ thể hóa cho phù hợp với trình độ của các giai tầng trong xã hội. Những bài viết, bài giảng với lời văn giản dị, nội dung thiết thực đã nhanh chóng được truyền thụ đến quần chúng. Đồng thời, Người đã vạch trần bản chất xấu xa, tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân thuộc địa, nhân dân Việt Nam. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Người tố cáo thực dân Pháp đã bắt dân bản xứ phải đóng “thuế máu” cho chính quốc… để “phơi thây trên chiến trường châu Âu”; “đày đọa” phụ nữ, trẻ em thuộc địa; các thống sứ, quan lại thực dân “độc ác như một bầy thú dữ” v.v… Tác phẩm đã “hướng các dân tộc bị áp bức” đi theo con đường cách mạng Tháng Mười Nga, tiêu diệt “hai cái vòi của con đỉa đế quốc” – một “vòi” bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc, một “vòi” bám vào nhân dân thuộc địa và đề ra cho dân Việt Nam con đường cách mạng vô sản theo chủ nghĩa Mác – Lênin.

Về tổ chức: Nguyễn Ái Quốc đã dày công chuẩn bị về mặt tổ chức cho sự ra đời của chính đảng vô sản của giai cấp công nhân Việt Nam. Đó là huấn luyện, đào tạo cán bộ, từ các lớp huấn luyện do Người tiến hành ở Quảng Châu (Trung Quốc) để vừa chuẩn bị cán bộ, vừa truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin. Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, ra báo Thanh niên, mở lớp đào tạo cán bộ cách mạng cho 75 đồng chí. Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã giúp cho những người Việt Nam yêu nước xuất thân từ các thành phần, tầng lớp dễ tiếp thu tư tưởng cách mạng của Người, phản ánh tư duy sáng tạo và là thành công của Người trong chuẩn bị về mặt tổ chức cho Đảng ra đời.

Trong những năm 1928 – 1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục phát triển mạnh về số lượng và chất lượng. Chủ nghĩa Mác – Lênin được Nguyễn Ái Quốc và những chiến sĩ tiên phong truyền bá về trong nước, cùng với phong trào “vô sản hoá” đã làm chuyển biến phong trào công nhân, giác ngộ họ và tổ chức họ đấu tranh cách mạng một cách tự giác. Thông qua phong trào “vô sản hoá”, lớp lớp thanh niên yêu nước được rèn luyện trong thực tiễn, giác ngộ lập trường giai cấp công nhân sâu sắc, hiểu rõ nguyện vọng, lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, thúc đẩy phong trào công nhân và phong trào yêu nước phát triển mạnh mẽ, tiến tới sự ra đời của các tổ chức cộng sản đầu tiên ở Việt Nam, tạo điều kiện chín muồi và hợp qui luật cho sự ra đời của Đảng.

Có thể thấy rằng, sự chuẩn bị đầy đủ về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho việc ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam vào những ngày đầu năm 1930 là những đóng góp to lớn, vững chắc và là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc – Người thanh niên yêu nước chân chính, tài ba, lỗi lạc.

– Thứ ba, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản.

Năm 1929, Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Xiêm (Thái Lan), mặc dù chưa nhận được chỉ thị của Quốc tế cộng sản về yêu cầu thống nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Song với sự nhạy bén về chính trị, sự chủ động cao, thực hiện trọng trách lịch sử đối với dân tộc, với vai trò, trách nhiệm trong Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã chủ động triệu tập Hội nghị hợp nhất, thực hiện sứ mệnh lịch sử của người sáng lập Đảng Cộng Sản Việt Nam. Từ ngày 06/01/1930 đến ngày 07/02/1930, tại Cửu Long – Hồng Công (Trung Quốc), Hội nghị hợp nhất đã được tiến hành dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc. Tham dự Hội nghị có các đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng (2 đại biểu) và An Nam Cộng sản Đảng (2 đại biểu) và 2 đại biểu hải ngoại (Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn). Còn Đông Dương Cộng sản Liên đoàn đã thành lập, song chưa có liên hệ, nên chưa được triệu tập đại biểu đến dự (và ngày 24/02/1930, tổ chức này được hợp nhất vào Đảng Cộng sản Việt Nam). Với sự nhất trí cao, Hội nghị đặt tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam

Advertisement

và thông qua Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Điều lệ vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Các văn kiện đã trở thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.

Hội nghị hợp nhất các tổ chức đảng cộng sản ở Việt Nam thành một Đảng Cộng sản duy nhất – Đảng Cộng sản Việt Nam – theo một đường lối chính trị đúng đắn, tạo nên sự thống nhất về tư tưởng, chính trị và hành động của phong trào cách mạng cả nước, hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp, là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam và hệ tư tưởng Mác-Lênin đối với cách mạng Việt Nam. Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kiện lịch sử cực kỳ trọng đại, một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc ta.

– Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã mở ra thời kì mới cho cách mạng Việt Nam – thời kì đấu tranh giành độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng ra đời, đã xác định được những nội dung cơ bản nhất của con đường cách mạng Việt Nam; đáp ứng được những nhu cầu bức thiết của lịch sử và trở thành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết thống nhất các tổ chức cộng sản, các lực lượng cách mạng và toàn thể dân tộc.

– Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là một bước ngoặt vô cùng quan trọng của lịch sử cách mạng Việt Nam, quyết định sự phát triển của dân tộc, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX. Đó là kết quả của sự vận động, phát triển và thống nhất phong trào cách mạng trong cả nước; sự chuẩn bị công phu về mọi mặt của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và sự đoàn kết nhất trí của những chiến sỹ tiên phong vì lợi ích của giai cấp, của dân tộc.

– Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là thành quả của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam; chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng.

Sự thâm nhập của chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân dẫn đến sự hình thành chính đảng của giai cấp công nhân. V. I. Lênin chỉ ra rằng, Đảng Cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân.

Nhưng trong mỗi nước, sự kết hợp ấy là sản phẩm của lịch sử lại được thực hiện bằng những con đường đặc biệt, tùy theo điều kiện không gian và thời gian. Ở nhiều nước thuộc địa, nửa thuộc địa thì Đảng Cộng sản ra đời là kết quả của sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước.

Đảng Cộng sản ra đời đánh dấu sự phát triển nhảy vọt của phong trào công nhân từ tự phát lên tự giác, cuộc đấu tranh vì lợi ích kinh tế trong giới hạn của chủ nghĩa tư bản cho phép chuyển sang cuộc đấu tranh chính trị nhằm lật đổ giai cấp tư sản, xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

Cập nhật thông tin chi tiết về Bản Đồ Cộng Hòa Nam Phi Khổ Lớn Phóng To Năm 2023 trên website Fsey.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!