Xu Hướng 2/2024 # Đoạn Trích Chí Khí Anh Hùng Trích Từ Câu 2213 Đến Câu 2230 Trong Tác Phẩm Truyện Kiều # Top 2 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Đoạn Trích Chí Khí Anh Hùng Trích Từ Câu 2213 Đến Câu 2230 Trong Tác Phẩm Truyện Kiều được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Fsey.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Đoạn trích Chí khí anh hùng

Chí khí anh hùng I. Đôi nét về tác giả Nguyễn Du 1. Cuộc đời

– Nguyễn Du sinh năm 1765 tại Thăng Long, tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên.

– Tổ tiên Nguyễn Du vốn từ làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc Hà Nội), sau đó di cư vào xã Nghi Xuân, huyện Tiên Điền (nay là làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh).

– Cha là Nguyễn Nghiễm (1708 – 1775) và mẹ là Trần Thị Tần (1740 – 1778).

– Vợ của Nguyễn Du là con gái Đoàn Nguyễn Thục, quê ở Quỳnh Côi, trấn Sơn Nam (nay thuộc Thái Bình).

– Nguyễn Du may mắn được tiếp nhận truyền thống văn hóa của nhiều vùng quê khác nhau.

– Thời thơ ấu và niên thiếu, Nguyễn Du sống tại Thăng Long trong một gia đình phong kiến quyền quý.

– Năm 10 tuổi, Nguyễn Du mồ côi cha.

– Năm 13 tuổi, mồ côi mẹ, Nguyễn Du đến sống với người anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản.

– Trong khoảng thời gian này, ông đã có dịp hiểu biết về cuộc sống phong lưu, xa hoa của giới quý tộc phong kiến – những điều đó đã để lại dấu ấn trong sáng tác của ông sau này.

– Năm 1783, Nguyễn Du thi Hương đỗ tam trường (tú tài) và được tập ấm nhận một chức quan võ nhỏ ở Thái Nguyên.

– Từ năm 1789, Nguyễn Du đã rơi vào cuộc sống khó khăn gian khổ hơn chục năm ở các vùng nông thôn khác nhau đã tạo điều kiện cho Nguyễn Du có một vốn sống thực tế phong phú thô thúc ông suy ngẫm nhiều về xã hội, thân phận con người tạo tiền đề cho việc hình thành tài năng và bản lĩnh văn chương.

– Sau nhiều năm sống chật vật ở các vùng quê khác nhau, năm 1802, Nguyễn Du ra làm quan cho nhà Nguyễn.

– Năm 1802, ông nhậm chức Tri huyện Phù Dung (nay thuộc Khoái Châu, Hưng Yên), sau đổi thành Tri phủ Thường Tín (nay thuộc Hà Nội).

– Từ năm 1805 – 1809, ông được thăng chức Đông Các điện học sĩ.

– Năm 1809, Nguyễn Du được bổ làm Cai bạ dinh Quảng Bình.

– Năm 1813, ông được thăng Cần Chánh điện học sinh và giữ chức Chánh sứ đi Trung Quốc.

– Đến khi sang Trung Quốc, Nguyễn Du được tiếp xúc trực tiếp với nền văn hóa mà từ nhỏ đã quen thuộc.

– Năm 1820, Nguyễn Du được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc, nhưng chưa kịp lên đường đã mất vào ngày 10 tháng 8 năm 1820.

– Năm 1965, Hội đồng Hòa bình thế giới đã công nhận Nguyễn Du là danh nhân văn hóa thế giới.

2. Sự nghiệp văn học

a. Các sáng tác chính

* Sáng tác bằng chữ Hán: gồm 249 bài thơ chữ Hán do Nguyễn Du viết vào các thời kỳ khác nhau.

– Thanh Hiên thi tập (Tập thơ của Thanh Hiên): 78 bài viết chủ yếu trong những năm tháng trước khi ra làm quan nhà Nguyễn.

– Nam trung tạp ngâm (Các bài thơ ngâm khi ở phương Nam): 40 bài viết thời gian làm quan ở Huế và Quảng Bình, những địa phương ở phía nam Hà Tĩnh quê hương ông.

– Bắc hành tạp lục (Ghi chép trong chuyến đi sang phương Bắc) gồm 131 bài thơ sáng tác trong chuyến đi sứ Trung Quốc.

* Sáng tác bằng chữ Nôm: Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều) và Văn chiêu hồn.

b. Một vài đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của thơ văn Nguyễn Du

* Đặc điểm nội dung:

– Tình cảm chân thành, sự cảm thông sâu sắc của tác giả đối với cuộc sống và con người, đặc biệt là những con người nhỏ bé, bất hạnh, phụ nữ.

– Nguyễn Du đã đề cập đến một vấn đề rất mới, nhưng cũng rất quan trọng của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học: xã hội cần phải trân trọng những giá trị tinh thần, do đó cần phải trân trọng chủ thể sáng tạo ra những giá trị tinh thần đó.

– Sáng tác của Nguyễn Du cũng đề cao hạnh phúc của con người tự nhiên, trần thế.

* Đặc điểm nghệ thuật

– Thể thơ phong phú: ngũ ngôn cổ thi, ngũ ngôn luật, thất ngôn luật và ca, hành (nhạc phủ)…

Advertisement

– Góp phần trau dồi ngôn ngữ văn học dân tộc, làm giàu cho tiếng Việt qua việc Việt hóa yếu tố ngôn ngữ ngoại nhập.

II. Giới thiệu về đoạn trích Chí khí anh hùng 1. Vị trí đoạn trích

– Đoạn trích “Chí khí anh hùng” thuộc phần Gia biến và lưu lạc (từ câu 2213 đến câu 2230).

– Nội dung chính: Cuộc đời Kiều tưởng chừng như sẽ rơi vào bế tắc khi lần thứ hai rơi vào lầu xanh. Thì bỗng nhiên Từ Hải xuất hiện và cứu nàng thoát khỏi cảnh ô nhục. Từ Hải đã cho Kiều một danh phận cũng như giúp nàng báo ân, báo oán. Nửa năm trôi qua, cuộc sống của hai người đương hạnh phúc. Từ Hải không bằng lòng với cuộc sống êm đềm mà muốn có sự nghiệp lớn nên đã từ biệt Kiều ra đi để gây dựng sự nghiệp.

2. Bố cục

Gồm 3 phần:

Phần 1. 4 câu đầu: Khát vọng công danh của Từ Hải.

Phần 2. 12 câu sau: Cuộc đối thoại giữa Từ Hải và Thúy Kiều.

Phần 3. 2 câu cuối: Sự ra đi quyết tâm của Từ Hải.

3. Nội dung

Qua đoạn trích Chí khí anh hùng, Nguyễn Du đã khắc họa hình ảnh người anh hùng Từ Hải với những phẩm chất và ý chí của bậc trượng phu, mang lại ánh sáng tươi đẹp cho đời và tình cảm sâu sắc của Từ Hải và Kiều.

4. Nghệ thuật

Nghệ thuật miêu tả, bút pháp ước lệ tượng trưng…

Đoạn Trích Lục Vân Tiên Cứu Kiều Nguyệt Nga Trích Truyện Lục Vân Tiên

Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga

Tài liệu sẽ giới thiệu về tác giả Nguyễn Đình Chiểu, cũng như nội dung đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga. Mời tham khảo nội dung chi tiết ngay bên dưới.

– Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), tục gọi là Đồ Chiểu, sinh tại quê mẹ ở làng Tân Thới, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh), quê cha ở xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

– Ông thi đỗ tú tài năm 21 tuổi (1843), nhưng 6 năm sau (1849) ông bị mù.

– Sau đó, ông về Gia Định dạy học và bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân.

– Trong giai đoạn thực dân Pháp xâm lược Nam Kỳ, ông tích cực tham gia phong trào kháng chiến cùng các vị lãnh tụ như bàn bạc việc đánh giặc hay sáng tác văn học để khích lệ tinh thần nhân dân. – Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ lớn của dân tộc. Khi Nam Kỳ bị giặc chiếm, ông về sống ở Ba Tri (Bến Tre).

– Các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu chủ yếu truyền bá đạo lý làm người và cổ vũ tinh thần yêu nước.

– Một số tác phẩm nổi tiếng: Truyện Lục Vân Tiên, Dương Từ – Hà Mậu, Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Thơ điếu Trương Định…

– “Truyện Lục Vân Tiên” được sáng tác vào khoảng đầu những năm năm mươi của thế kỉ XIX.

– Truyện được lưu truyền rộng rãi dưới hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian như “kể thơ”, “nói thơ Vân Tiên”, “hát Vân Tiên” ở Nam Kì và Nam Trung Kì.

– Truyện thơ Nôm.

– Có nhiều văn bản khác nhau, có khi thêm bớt cả trăm câu thơ nhưng văn bản thường dùng hiện nay có 2082 câu thơ.

Đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” nằm ở phần đầu của truyện.

a. Truyện Lục Vân Tiên

Ở quận Đông Thành, có một chàng trai khôi ngô tuấn tú, văn võ toàn tài, tên là Lục Vân Tiên. Triều đình mở khoa thi, Vân Tiên từ giã thầy xuống núi để dự thi. Trên đường trở về nhà thăm mẹ, chàng một mình đánh tan bọn cướp do Phong Lai, cứu được Kiều Nguyệt Nga. Mến mộ tài đức, Kiều Nguyệt Nga nguyện gắn bó suốt đời với Vân Tiên. Từ biệt Nguyệt Nga, chàng tiếp tục hành trình, gặp gỡ và kết bạn với Hớn Minh – một sĩ tử khác. Trên đường đi thi, Vân Tiên nghe tin mẹ mất thì bỏ thi trở về chịu tang. Dọc đường về chàng bị đau mắt nặng, rồi mù cả hai mắt lại bị kẻ xấu lừa đẩy xuống sông. Vân Tiên được gia đình Ngư ông cưu mang. Sau đó chàng lại bị cha con Võ Công hãm hại đem chàng vào rừng. Nhưng chàng may mắn gặp lại Hớn Minh. Kiều Nguyệt Nga vì nghe tin Lục Vân Tiên đã chết nên lập lời thề thủ tiết suốt đời. Bị kẻ giam hãm hại, nàng phải chạy trốn vào rừng, nương nhờ một bà lão dệt vải. Sau khi được tiên ông cho thuốc chữa sáng mắt, Lục Vân Tiên đi thi và đỗ Trạng Nguyên. Chàng được vua cử đi đánh giặc Ô Qua. Đánh tan quân giặc nhưng lại bị lạc vào rừng, tình cờ đến nhà bà lão bán vảo hỏi thăm đường thì gặp lại Kiều Nguyệt Nga. Sau khi về triều tâu hết sự tình, kẻ gian bị trừng trị, Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga được đoàn tụ.

b. Tóm tắt đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga

Ở quận Đông Thành, có một chàng trai khôi ngô tuấn tú, văn võ toàn tài, tên là Lục Vân Tiên. Triều đình mở khoa thi, Vân Tiên từ giã thầy xuống núi để dự thi. Trên đường trở về nhà thăm mẹ, chàng một mình đánh tan bọn cướp do Phong Lai, cứu được Kiều Nguyệt Nga. Mến mộ tài đức, Kiều Nguyệt Nga nguyện gắn bó suốt đời với Vân Tiên.

Gồm 2 phần:

Phần 1: Từ đầu đến “Bị Tiên một gậy thác rày thân vong”. Lục Vân Tiên đánh bọn cướp.

Phần 2. Còn lại. Lục Vân Tiên cứu được Kiều Nguyệt Nga và cuộc trò chuyện của cả hai.

– Nội dung: Đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” đã thể hiện khát vọng hành đạo giúp đời của tác giả và khắc họa những phẩm chất tốt đẹp của hai nhân vật: Lục Vân Tiên tài ba dũng cảm, trọng nghĩa khí; Kiều Nguyệt Nga hiền hậu nết na, ân tình.

– Nghệ thuật: Vận dụng thể thơ dân gian, ngôn ngữ đối thoại độc đáo…

(1) Mở bài

Giới thiệu về tác giả Nguyễn Đình Chiểu, tác phẩm Lục Vân Tiên và đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga.

(2) Thân bài

a. Lục Vân Tiên đánh bại bọn cướp

– Tình huống: Kiều Nguyệt Nga trên đường bị bọn cướp chặn xe, Lục Vân Tiên tình cờ đi qua thấy vậy liền đến cứu giúp.

– Hành động của Lục Vân Tiên:

“Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô”: sự nhanh trí, gan dạ của Lục Vân Tiên.

Kêu rằng: “Bớ đảng hung đồ/Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân” – bản lĩnh của một người quân tử, trước khi ra tay chàng đã nêu rõ lý do là vì chính nghĩa, không phải là hành vi đánh lén.

Trận đánh diễn ra cay cấn: “bốn phía phủ vây bịt bùng” vô cùng nguy hiểm đối với Lục Vân Tiên.

Nhưng chàng vẫn “tả xung hữu đột” chẳng khác nào Triệu Tử phá vòng Dương Dang.

– Kết quả: bốn phía vỡ tan, quang gươm giáo tìm đường chạy, thủ lĩnh Phong Lai không kịp trở tay bị Lục Vân Tiên tiêu diệt.

b. Lục Vân Tiên gặp và trò chuyện với Kiều Nguyệt Nga

– Khi nghe tiếng khóc ở trong xe, Lục Vân Tiên hỏi: “Ai than khóc ở trong xe này?”

Advertisement

– Người bên trong trả lời rõ sự tình: “Tôi thiệt người ngay/Sa cơ nên mới lầm tay hung đồ”.

– Lục Vân Tiên ngăn không cho hai cô gái ra ngoài: “Khoan khoan ngồi đó chớ ra/Nàng là phận gái ta là phận trai”: giữ đúng chuẩn mực đạo đức, nam nữ thụ thụ bất thân.

– Lục Vân Tiên hỏi thăm tên tuổi, xuất thân và lý do vì sao gặp nạn trên đường.

– Sau khi nghe lời lẽ của Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga biết người cứu mình là một nam tử hán, liền kể rõ sự tình: Nàng cùng với tì tất tên là Kim Liên, quê ở quận Tây Xuyên, cha là tri phủ miền Hà Khê nhận được bức thư của cha đến đó để định việc hôn nhân.

– Kiều Nguyệt Nga còn bộc lộ mong muốn Lục Vân Tiên đi cùng mình đến gặp cha để đền tạ công ơn.

– Lục Vân Tiên nghe vậy liền cười và từ chối: “Làm ơn há dễ trông người trả ơn…/Làm người thế ấy cũng phi anh hùng”.

(3). Kết bài

Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga.

Đoạn Trích Đánh Nhau Với Cối Xay Gió Trích Đôn Ki

Đánh nhau với cối xay gió

Nghe đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió

Chợt hai thầy trò phát hiện có ba bốn chục chiếc cối xay gió giữa đồng, và Đôn Ki-hô-tê vừa nhìn thấy liền nói với giám mã: “Vận may run rủi khiến cho sự nghiệp của chúng ta tốt đẹp quá sự mong muốn, vì kia kìa, anh bạn Xan-chô Pan-xa ơi, có đến ba bốn chục tên khổng lồ ghê gớm, ta quyết giao chiến giết hết bọn chúng; và với những chiến lợi phẩm thu được, chúng ta sẽ bắt đầu giàu có: bởi đây là một cuộc chiến đấu chính đáng, và quét sạch cái giống xấu xa này khỏi mặt đất là phụng sự Chúa đấy”. “Những tên khổng lồ nào cơ?” Xan-chô Pan-xa hỏi.

“Những đứa mà anh nhìn thấy kia kìa”, Đôn Ki-hô-tê đáp, “cánh tay chúng dài ngoẵng, có đứa, cánh tay dài tới hai dặm”. “Thưa ngài”, Xan-chô nói, “xuất hiện ở kia chẳng phải là các tên khổng lồ đâu mà chỉ là những cối xay gió, và cái vật trông giống cánh tay là những cánh quạt, khi có gió thổi, chúng sẽ quay tròn làm chuyển động cối đá bên trong”. “Xem ra anh chẳng thành thạo gì về những chuyện phiêu lưu”, Đôn Ki-hô-tê đáp, “đấy chính là những tên khổng lồ, và nếu anh sợ thì hãy lánh ra xa mà cầu kinh trong lúc ta sẽ đương đầu với chúng trong một cuộc giao tranh điên cuồng và không cân sức”. Nói rồi, Đôn Ki-hô-tê thúc con ngựa Rô-xi-nan-tê xông lên, chẳng thèm để ý đến giám mã Xan-chô đang hét bảo là rõ ràng lão đang xông vào đánh những cối xay gió chứ không phải là bọn khổng lồ.

Nhưng trong bụng vốn đinh ninh phía trước là những tên khổng lồ nên Đôn Ki-hô-tê chẳng những không nghe lời can của giám mã Xan-chô, mà khi đã tới gần cũng không nhận ra đấy là những chiếc cối xay; đã thế, lão còn thét lớn: “Chớ có chạy trốn, lũ hèn mạt nhát gan kia, bởi duy nhất chỉ có một hiệp sĩ tấn công bọn mi đây”. Vừa lúc đó nổi lên một làn gió nhẹ và các cánh quạt lớn của những chiếc cối xay gió bắt đầu chuyển động; thấy thế; Đôn Ki-hô-tê liền nói: “Dù cho bọn ngươi có vung nhiều cánh tay hơn cả gã khổng lồ Bri-a-rê-ô, các ngươi cũng sắp phải đền tội”. Nói xong, lão nhiệt thành tâm niệm cầu mong nàng Đuyn-xi-nê-a của mình cứu giúp cho trong lúc nguy nan này; rồi lấy khiên che kín thân, tay lăm lăm ngọn giáo, lão thúc con Rô-xi-nan-tê phi thẳng tới chiếc cối xay gió gần nhất ở trước mặt, và đâm mũi giáo vào cánh quạt: gió làm cánh quạt quay tít khiến ngọn giáo gãy tan tành, kéo theo cả ngựa và người ngã văng ra xa.

Xan-chô Pan-xa vội thúc lừa chạy đến cứu, và khi tới nơi thì thấy chủ nằm không cựa quậy: đó là kết quả cái ngã như trời giáng của lão và con Rô-xi-nan-tê. “Giúp tôi với, lạy Chúa!”, Xan-chô nói, “Tôi đã chẳng bảo ngài rằng phải coi chừng cẩn thận đấy ư, rằng đó chỉ là những chiếc cối xay gió, ai mà chẳng biết thế, trừ kẻ nào đầu óc cũng quay cuồng như cối xay!”

“Thôi im đi, anh bạn Xan-chô”, Đôn Ki-hô-tê đáp, “chuyện chinh chiến thường biến hóa khôn lường chứ không như các chuyện khác; bởi lẽ, ta cho rằng và đúng là như thế, chính lão pháp sư Phơ-re-xtôn trước đây đã đánh cắp thư phòng và sách vở của ta, bây giờ lại biến những tên khổng lồ kia thành cối xay gió để tước đi của ta niềm vinh quang đánh bại chúng, vì lão thâm thù ta lắm cơ; nhưng rồi các pháp thuật xấu xa của lão cũng sẽ không thể nào đối chọi được với thanh kiếm lợi hại của ta”. “Cầu Chúa hết sức phù hộ cho!” Xan-chô Pan-xa đáp và nâng Đôn Ki-hô-tê dậy, đỡ lão ngồi lại trên lưng con Rô-xi-nan-tê cũng bị toạc nửa vai.

Vừa bàn tán về cuộc phiêu lưu mới xảy ra, hai thầy trò vừa đi về phía cảng La-pi-xê, vì theo Đôn Ki-hô-tê, con đường này có lắm người qua lại chẳng thể nào không gặp nhiều chuyện phiêu lưu khác nhau[…]. “Nhưng kìa”, Xan-chô nói, “ngày ngồi thẳng lại một chút chứ, vì tôi thấy hình như ngài hơi vẹo sang một bên, chắc là do bị ngã lúc nãy”. “Đúng thế”, Đôn Ki-hô-tê đáp, “và ta không kêu đau là vì các hiệp sĩ giang hồ có bị thương thế nào cũng không được rên rỉ, dù xổ cả gan ruột ra ngoài”. “Nếu vậy, tôi chẳng biết trả lời ra sao”, Xan-chô đáp, “nhưng Chúa thấu hiểu cho ta là tôi có yên lòng không nếu thấy ngài rên la khi bị cái gì làm cho đau đớn. Còn tôi, có thể xin thưa với ngài rằng chỉ cần hơi đau một chút là tôi rên rỉ ngay, trừ phi cả đến giám mã của hiệp sĩ giang hồ cũng bị cấm không được rên rỉ”. Tính chất phác của giám mã làm Đôn Ki-hô-tê không nhịn được cười và lão bảo Xan-chô cứ việc rên la lúc nào và thế nào cũng được, dù muốn hay không, vì cho tới nay lão chưa đọc thấy có chuyện cấm đoán như thế bao giờ. Xan-chô nhắc chủ đã đến giờ ăn. Đôn Ki-hô-tê đáp là lúc này chưa cần ăn, còn nếu Xan-chô đói thì cứ tự nhiên. Được phép, Xan-chô ngồi lại cho thật thoải mái trên lưng lừa, lôi các thứ ở trong cái túi hai ngăn ra, vừa đi theo chủ vừa ung dung đánh chén, thỉnh thoảng lại tu bầu rượu một cách ngon lành khiến tay chủ quán rượu dễ thương nhất ở Ma-la-ga cũng phải phát ghen. Vừa đi vừa chè chén như thế, Xan-chô chẳng còn nhớ gì đến những lời hứa hẹn của chủ và cảm thấy cái nghề đi tìm kiếm chuyện phiêu lưu này dù có nguy hiểm đến đâu cũng chẳng vất vả gì mà lại thoải mái nữa là khác.

Đêm hôm ấy, hai người ở dưới các vòm cây, và Đôn Ki-hô-tê bẻ một cành khô, rút cái mũi sắt ở chiếc cán gãy lắp vào làm thành ngọn giáo. Đôn Ki-hô-tê suốt đêm không ngủ để nghĩ tới nàng Đuyn-xi-nê-a của lão, bắt chước những hiệp sĩ lão từng đọc trong sách thức trắng nhiều đêm ròng ở trong rừng hoặc nơi hoang mạc liên tưởng nhớ tới tình nương.

Xan-chô Pan-xa thì không thế, bởi vì dạ dày no căng toàn là rượu thịt, bác ngủ một mạch, và nếu như chủ không gọi, thì dù ánh nắng chiếu thẳng vào mặt, và vô số tiếng chim hót líu lo đón mừng một ngày mới có lẽ cũng không đủ để đánh thức bác. Vừa ngủ dậy, bác vớ ngay lấy bầu rượu, thấy nó nhẹ hơn tối hôm trước, nên buồn rầu vì xem chừng trên quãng đường này khó đào đâu ra ngay rượu để đổ vào cho đầy. Đôn Ki-hô-tê không muốn ăn sáng vì, như ta thường nói, chàng nghĩ đến người yêu cũng đủ no rồi.

– Xéc-van-tét (1547 – 1616) là một nhà văn người Tây Ba Nha.

– Ông vốn là một binh sĩ, bị thương năm 1957 trong một cuộc thủy chiến và bị bắt giam ở An-giê từ năm 1575 đến năm 1580.

– Khi trở về Tây Ba Nha, ông sống một cuộc đời cực nhọc và âm thầm mãi cho đến khi công bố tiểu thuyết Đôn Ki-hô-tê.

– Tác phẩm tiêu biểu: Hành trình đến Parnassus, Truyện làm gương, Đôn Ki-hô-tê .

– Văn bản Đánh nhau với cối xay gió được trích trong tiểu thuyết Đôn Ki-hô-tê.

– Tác phẩm “Đôn-ki-hô-tê” kể về nhân vật Đôn Ki-hô-tê, một lão quý tộc nghèo say mê đọc tiểu thuyết hiệp sĩ và muốn trở thành hiệp sĩ giang hồ. Lão lục tìm những binh giáp của tổ tiên để tự trang bị vũ khí cho mình, phong cho con ngựa gầy yếu của mình là chiến mã – đặt tên là Rô-xi-na-tê, còn mình là hiệp sĩ xứ Man-tra. Cùng đi với lão là bác giám mã Xan-chô Pan-xa. Sau nhiều phen thất bại ê chề, đến cuối cùng bị ốm nặng và qua đời.

– Đoạn trích “Đánh nhau với cối xay gió” được trích trong chương VIII và chương XIX của tiểu thuyết. Đoạn trích kể lại việc hai thầy trò đang trên đường phiêu lưu thì bắt gặp hàng chục chiếc cối xay gió. Đôn Ki-hô-tê một mực cho rằng đó là những gã khổng lồ và quyết tâm đánh bại chúng bất chấp lời khuyên của Xan-cho Pan-xa. Để rồi đến cuối cùng cả người và ngựa đều bị thương nặng.

Gồm 3 phần:

Phần 1: Từ đầu đền “chứ không phải là bọn khổng lồ”. Nhận định của hai thầy trò về những chiếc cối xay gió.

Phần 2: Tiếp theo đến “con Rô-xi-a-nết cũng bị toác nửa vai”. Hành động của mỗi người đối với những chiếc cối xay.

Phần 3. Còn lại. Cuộc bàn tán sau chuyến phưu lưu.

Đoạn trích kể lại việc hai thầy trò đang trên đường phiêu lưu thì bắt gặp hàng chục chiếc cối xay gió. Đôn Ki-hô-tê một mực cho rằng đó là những gã khổng lồ và quyết tâm đánh bại chúng bất chấp lời khuyên của Xan-cho Pan-xa. Để rồi đến cuối cùng cả người và ngựa đều bị thương nặng. Nhưng mặc dù bị thương nặng, Đôn Ki-hô-tê vẫn quyết không kêu đau. Không những vậy, chàng còn quyết không ăn uống gì mà chỉ cần nghĩ đến tình nương là cảm thấy no rồi. Xan-cho Pan-xa thấy vậy bèn bỏ rượu thịt ra chén một mình. Đôn Ki-hô-tô suốt đêm không ngủ và chỉ nghĩ tới tình nương.

Nhà văn đã tạo ra sự đối lập giữa Đôn Ki-hô-tê và Xan-cho Pan-xa tạo nên một cặp nhân vật bất hủ trong văn học thế giới. Từ đó, Xéc-van-tét cũng muốn phê phán những tiểu thuyết hiệp sĩ phiêu lưu hão huyền trong xã hội đương thời.

Xây dựng nhân vật đối lập, ngôn ngữ đối thoại, tình huống độc đáo…

(1) Mở bài

Dẫn dắt, giới thiệu về văn bản Đánh nhau với cối xay gió.

(2) Thân bài

a. Nhận định của hai thầy trò về những chiếc cối xay gió

– Đôn Ki-hô-tê: Cho rằng những chiếc cối xay gió là những tên khổng lồ, quyết tâm đánh nhau với chúng để bảo vệ chính nghĩa.

– Xan-chô Pan-xa:

Ngạc nhiên khi thấy Đôn Ki-hô-tê nói về những gã khổng lồ (Những tên khổng lồ nào cơ?).

Tỉnh táo nói với Đôn Ki-hô-tê rằng không có tên khổng lồ nào mà chỉ là những chiếc cối xay gió.

b. Hành động của mỗi người đối với những chiếc cối xay

– Đôn Ki-hô-tê:

Thúc con ngựa Rô-xi-na-tê xông lên, không để ý tới lời khuyên của Xan-chô Pan-xa.

Thét lên rất lớn: “Chớ có chạy trốn lũ hèn mạt nhát gan kia, bởi duy nhất chỉ có một hiệp sĩ tấn công bọn mi đây”; “Dù cho bọn ngươi… đền tội”.

Cầu mong nàng Đuyu-xi-nê-a của mình cứu giúp trong lúc nguy nan này.

Rồi lấy khiên che kín thân, tay lăm lăm ngọn giáo, thúc ngựa phi thẳng về phía chiếc cối xay gió gần nhất, đâm mũi giáo vào cánh quạt đang quay khiến nó gãy tan tành.

– Xan-chô Pan-xa:

Hét lên khuyên can Đôn Ki-hô-tê khi hắn lao vào những chiếc cối xay gió để đánh nhau.

Chạy đến đỡ Đôn Ki-hô-tê và nhắc lại rằng đó chỉ là những chiếc cối xay gió.

Để mặc chủ không ăn không uống, một mình đánh chén hết chỗ rượu thịt và ngủ say như chết.

c. Cuộc bàn tán sau chuyến phưu lưu

– Đôn Ki-hô-tê:

Cho rằng chuyện chiến trường thường biến hóa khôn lường,

Kiên quyết không rên rỉ dù xổ cả gan ruột ra ngoài

Bẻ một cành khô, rút cái mũi sắt ở chiếc cán gãy lắp vào làm thành ngọn giáo; suốt đêm không ngủ để nghĩ tới nàng Đuyn-xi-nê-a của lão, bắt chước những hiệp sĩ lão từng đọc trong sách thức trắng nhiều đêm ròng ở trong rừng hoặc nơi hoang mạc liên tưởng nhớ tới tình nương.

– Xan-chô Pan-xa:

Cầu mong Chúa phù hộ cho….

Thư rằng chỉ cần hơi đau một chút là tôi rên rỉ ngay, trừ phi cả đến giám mã của hiệp sĩ giang hồ cũng bị cấm không được rên rỉ

Ngủ một mạch, và nếu như chủ không gọi, thì dù ánh nắng chiếu thẳng vào mặt, và vô số tiếng chim hót líu lo đón mừng một ngày mới có lẽ cũng không đủ để đánh thức bác;

Đôn Ki-hô-tê: Ảo tượng, ham mê tiểu thuyết hiệp sĩ mà có những lời nói, hành động phi thực tế.

Xan-chô Pan-xa: Tỉnh táo, coi trọng cuộc sống vật chất và hèn nhát, sợ đau đớn.

(3) Kết bài

Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản Đánh nhau với cối xay gió.

Đoạn Trích Chó Sói Và Cừu Trong Thơ Ngụ Ngôn Của La Phông

I. Đôi nét về Hi-pô-lít Ten

– Hi-pô-lít Ten sinh năm 1828, mất năm 1893.

– Ông là một triết gia, sử gia, nhà nghiên cứu văn học Pháp, viện sĩ viện Hàn lâm Pháp.

II. Giới thiệu tác phẩm 1. Hoàn cảnh sáng tác

Văn bản Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten trích trong chương II, Phần thứ hai của công trình trên.

2. Bố cục

Gồm 2 phần:

Phần 1. Từ đầu đến “Tốt bụng như thế”: Hình tượng cừu trong thơ La Phông- ten.

Phần 2: Còn lại: Hình tượng chó sói trong thơ La Phông- ten.

3. Tóm tắt

Với Buy-phông – một nhà khoa học, hình ảnh chó sói và cừu hiện lên chính xác, chân thực với những đặc tính cơ bản của chúng. Còn dưới ngòi bút của nhà thơ La Phông-ten, hình ảnh chó sói và cừu đã được nhân hóa rõ nét. Bằng cách so sánh hình tượng con cừu và con chó sói trong thơ ngụ ngôn La Phông-ten với những dòng viết về hai con vật ấy của nhà khoa học Buy-phông, tác giả đã nêu bật đặc trưng của sáng tác nghệ thuật in đậm dấu ấn, cách nhìn, cách nghĩ riêng của nhà văn.

Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten

Nghe đọc tác phẩm:

Giọng cừu non tội nghiệp mới buồn rầu và dịu dàng làm sao!

Buy-phông chỉ thấy con cừu là ngu ngốc và sợ sệt. “Chính vì sợ hãi – ông nói – mà chúng thường hay tụ tập thành bầy. Chỉ một tiếng động nhỏ bất thường đủ làm cho chúng nháo nhào co cụm lại với nhau, và đã sợ sệt như thế lại còn hết sức đần độn, vì chúng không biết trốn tránh nỗi nguy hiểm. Thậm chí dường như chúng không cảm thấy tình huống bất tiện của chúng; chúng ở đâu là cứ đứng nguyên tại đấy, ngay dưới trời mưa, ngay trong tuyết rơi. Chúng cứ đứng lì ra, muốn bắt chúng di chuyển nơi khác và bước đi, cần phải có một con đầu đàn người ta bảo nó đi trước, và thế là tất cả bắt chước nhất nhất làm theo. Ngay con đầu đàn ấy cũng cứ ỳ ra cùng với cả đàn nếu không bị gã chăn cừu thôi thúc hoặc bị chó xua đi”. Mọi chuyện ấy đều đúng, nhưng các con vật đó còn thân thương và tốt bụng nữa. Thật cảm động thấy con cừu mẹ chạy tới khi nghe tiếng kêu rên của con nó, nhận ra con trong cả đám đông cừu kia, rồi đứng yên trên nền đất lạnh và bùn lầy, vẻ nhẫn nhục, mắt nhìn lơ đãng phía trước, cho đến khi con đã bú xong. La Phông-ten đã động lòng thương cảm với bao nỗi buồn rầu và tốt bụng như thế…

Còn chó sói, bạo chúa của cừu, trong thơ ngụ ngôn La Phông-ten, cũng đáng thương chẳng kém. Đó là một tên trộm cướp, nhưng khốn khổ và bất hạnh. Cứ nhìn bộ mặt nó lấm lét và lo lắng, cơ thể nó gầy giơ xương, bộ dạng kẻ cướp bị truy đuổi của nó, ta biết ngay nó là thế nào rồi. Chó sói dưới ngòi bút của La Phông-ten […] chỉ là một gã vô lại luôn luôn đói dài và luôn luôn bị ăn đòn […].

Buy-phông viết: “Chó sói thù ghét mọi sự kết bè kết bạn, thậm chí ngay cả với đồng loại chó sói của nó. Khi ta thấy nhiều con chó sói tụ hội với nhau, thì đấy không phải là một bầy chó sói hiền hoà mà là một bầy chó sói chinh chiến, ồn ào ầm ĩ, với những tiếng la hú khủng khiếp, và nhằm để tấn công một con vật to lớn, như con hươu, con bò hoặc để chống trả một con chó gộc nào đấy. Khi cuộc chinh chiến đã xong xuôi, chúng lại mỗi con một nơi và quay về với sự lặng lẽ và cô đơn của chúng. Tóm lại, bộ mặt lấm lét, dáng vẻ hoang dã[9], tiếng hú rùng rợn, mùi hôi gớm ghiếc, bản tính hư hỏng, cái gì cũng làm ta khó chịu, nó thật đáng ghét, lúc sống thì có hại, chết thì vô dụng”…

Advertisement

Con chó sói của La Phông-ten cũng là một bạo chúa khát máu, và khi nó nói với chú cừu non, ta nghe thấy giọng khàn khàn và tiếng gầm dữ dội của con thú điên […]. Nhưng một tính cách thì phức tạp. Nếu nhà bác học chỉ thấy con sói ấy là một con vật có hại, thì nhà thơ, với đầu óc phóng khoáng hơn, lại phát hiện ra những khía cạnh khác. Nhà thơ sẽ thấy con chó sói độc ác mà cũng khổ sở, tuy trộm cướp đấy nhưng thường bị mắc mưu nhiều hơn.

Nhà thơ hiểu rằng những tật xấu của chó sói là do nó vụng về, vì chẳng có tài trí gì, nên nó luôn đói meo, và vì đói nên nó hoá rồ. Ông để cho Buy-phông dựng một vở kịch về sự độc ác, còn ông dựng một vở hài kịch về sự ngu ngốc.

Phân Tích Nhân Vật Kim Trọng Qua Đoạn Trích Kiều Gặp Kim Trọng Bài Văn Mẫu Lớp 9

Phân tích nhân vật Kim Trọng – Mẫu 1

Kim Trọng là một trong ba nhân vật đẹp nhất trong “Truyện Kiều” thể hiện cảm hứng nhân văn về tình yêu tự do giữa đôi lứa “người quốc sắc, kẻ thiên tài”. Kiều gặp Kim Trọng, Kiều – Kim tình tự, thề nguyền, Kim Trọng trở lại vườn Thúy, “Bâng khuâng duyên mới ngậm ngùi tình xưa” là 4 đoạn thơ đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng đẹp về nhân vật Kim Trọng.

Đoạn thơ “Kiều gặp Kim Trọng” mãi mãi xanh non và ngào ngạt sắc hương trong lòng người, sắc hương của mối tình đầu. Nguyễn Du đã thể hiện một bút pháp nghệ thuật đặc sắc về tả người, tả cảnh, tả tình để xây dựng nên bức chân dung một văn nhân lý tưởng trong con mắt và tâm hồn của giai nhân.

Mở đầu là tiếng nhạc vàng, khúc nhạc của tình yêu, ánh sáng của tình yêu, ở đâu đó, nghe rõ dần; tiếng nhạc vàng làm rung động và xôn xao cảnh vật, lòng người:

Nhân vật Kim Trọng được miêu tả từ xa đến gần, qua cái lắng nghe và sự bâng khuâng dõi nhìn của người đẹp. Một phong thái trang nhã “lưng túi gió trăng”. Một sự cao sang có vài chú tiểu đồng “sai chân theo” hầu. Một con tuấn mã sắc trắng như tuyết. Và màu áo xanh non của cỏ xuân với màu xanh thanh thiên của da trời hòa hợp nên, sắc áo của tài tử văn nhân ngày xưa. Nhịp thơ chậm rãi khoan thai. Cảnh vật và con người hiện hình qua một gam màu tươi sáng, thanh khiết:

Cái nét đẹp khoan thai khi ngồi trên yên ngựa “lỏng buông tay khấu” hòa hợp với phong thái ung dung lúc “bước lần dặm băng”, khi lần bước dặm xanh. Văn nhân ứng xử rất trang nhã, lịch sự theo đúng lễ giáo và phong cách kẻ sĩ:

Mỗi bước đi của văn nhân, cảnh vật như sáng bừng lên; cỏ cây, không gian có một sự hóa thân kỳ diệu, trở nên diễm lệ ngào ngạt sắc hương:

Tình yêu của đôi lứa thanh tân nảy nở từ mau xanh ấy trong sự giao hòa của cây quỳnh cành dao.

Sau khi Vương Quan ra chào, chị em Kiều “e lệ nép vào dưới hoa”, văn nhân thật sự xuất hiện. Từ xa đến gần, từ ngoại hình đến phong cách, nhà thơ mới từng bước từng bước giới thiệu về họ tên, về gia thế, về học vấn, về tài năng của “khách”. Y nhân trước mặt hai ả tố nga là một thiên tài, một mẫu người lý tưởng của thời đại:

Kim Trọng, cả tâm hồn lẫn trí tuệ, tính cách là sự hun đúc tài năng của “văn chương nết đất”, là sự hội tụ bao vẻ đẹp của trời “thông minh tính trời”. Xuất thân trong một gia đình quyền quý, rất giàu có (phú hậu), tài năng lỗi lạc nổi tiếng trong thiên hạ (bậc tài danh). Kim Trọng mang vẻ đẹp tuấn tú “tót vời”, vẻ đẹp “hào hoa”, “phong nhã”.

Nguyễn Du đã sử dụng một hệ thống từ ngữ Hán Việt để nói về Kim Trọng với tất cả sự quý mến, trân trọng, đồng thời thể hiện tính cách nhân vật trên bình diện xã hội: trâm anh, phú hậu, tài danh, văn chương, thông minh, phong tư, phong nhã, hào hoa.

Kim Trọng với Vương Quan là “đồng thân”, bạn học thân thiết. Và đã bấy lâu nay từng khao khát mơ tường “trộm dấu thầm yêu” nàng Kiều mà chưa một lần hội ngộ. Hội Đạp thanh này đối với chàng Kim là dịp “thỏa lòng tìm hoa”. Một cái “nhác thấy” mà đã “mặn mà” biết bao:

Phải đa tình và có “con mắt tinh đời” nhạy cảm, Kim Trọng mới có thể cảm nhận đựợc cái vẻ mơn mởn của lan mùa xuân, cái đằm thắm dịu dàng của cúc mùa thu từ “bóng hồng” ấy. Không hẹn mà nên:

Hai trái tim đa tình, đa cảm đã có một tiếng nói chung. Thế nhưng vẫn dịu dàng, e ấp và kín đáo: “Tình trong như đã, mặt ngoài còn e”. Người đẹp đã làm cho chàng Kim choáng váng: “Chập chờn cơn tỉnh cơn mê”. Trước tiếng sét ái tình. Kim Trọng vốn hào hoa, phong nhã đã làm chủ được tâm hồn trong một cuộc tình trường: “Rốn ngồi chẳng tiện, dứt về chỉn khôn”. Cuộc chia li không thể không diễn ra. Khoảnh khắc chia li của lứa đôi trong buổi đầu gặp gỡ mang theo bao tình lưu luyến. Hai vế tiểu đối mà ra hai phía chân trời, tình lưu luyến mến thương kéo dài vô tận:

“Khách đà lên ngựa người còn ghé theo”

“Kẻ thiên tài” đã mang theo hình bóng “người quốc sắc” trở về nhà. Chiếc cầu và dòng nước trong veo, cành tơ liễu và bóng chiều thướt tha như những chứng nhân cho một thiên diễm tình giữa giai nhân và tài tử. Khách văn nhân hào hoa đa tình có bao giờ quên được “nơi kỳ ngộ” ấy:

Cảnh vật và hồn người đã để lại dấu ấn trong lòng mỗi chúng ta qua một vần thơ tả cảnh ngụ tình tuyệt bút.

Kim Trọng là mẫu người thiên tài lý tưởng. Hấp dẫn hơn, chàng Kim là khách tài từ đa tình tiêu biểu cho khát vọng tình yêu đôi lứa. Nhân vật Kim Trọng rất thực và rất mới, rất gần gũi với tuổi trẻ ngày nay có lẽ vì thế.

Phân tích nhân vật Kim Trọng – Mẫu 2

Đúng là tiếng sét ái tình. Sau khi gặp chị em Kiều, Kim Trọng về nhà thương nhớ, nỗi nhớ không làm sao quên được. Một ngày không được gặp Kiều thời gian dài chẳng khác gì ba năm mong đợi. Kim Trọng hình dung hình ảnh Kiều ngồi trong cửa sổ nhà nàng mà lòng mình sầu nhớ miên man suốt cả một tuần trăng (một tháng), đèn cạn dầu tắt lụi mà lòng vẫn còn vấn vương.

Kim Trọng tương tư đến nỗi phòng học để lạnh tanh, bút lông thỏ không hề viết và cây đàn cũng bỏ lơ. Phải chăng đây là duyên nợ kiếp này sang kiếp khác mà chàng phải mang? Nhớ người đẹp, Kim Trọng rời phòng ra chỗ gặp gỡ Kiều lần đầu, nhưng chỉ thấy cỏ xanh, mặt nước trong veo và bụi lau nghiêng ngả! Chịu không nổi, Kim Trọng tìm lối sang nhà Kiều; nhưng cổng kín, tường cao ngăn trở làm cho anh chàng si tình mà nhát gan không biết làm cách nào gặp được người đẹp. Về nhà, đứng sau mành cửa Kim Trọng chỉ nghe thấy tiếng chim oanh ca hót như mỉa mai mình. Mấy lần chàng tính qua thăm nhưng cổng nhà nàng vẫn đóng kín, chỉ thấy hoa rụng còn nàng ở đâu? Để có cơ hội làm quen Thuý Kiều, Kim Trọng cũng ma mãnh tìm cách thuê nhà gần nhà Kiều. Một hôm chàng thấy có một thương gia, nay đi buôn ở nước Ngô mai đi bán ở nước Việt, nên nhà bỏ trống. Chàng liền kiếm cớ xa nhà du học hỏi thuê, rồi mau mau dọn đồ đạc sang ở. Nhà thương gia có hòn non bộ, có hiên cao rất thuận tiện cho chàng đứng ngắm sang nhà Kiều. Sau hai tháng chực chờ ngóng trông, bỗng một buổi sớm sương mù chưa tan Kim Trọng thấy bóng hồng xuất hiện. Chàng vội vã chạy đến nhưng khi tới gần chỉ còn hương thơm, nàng tiên biến mất đâu rồi. Chàng lần theo tường gạch hoa của nhà Kiều để kiếm nàng thì bất chợt thấy một trâm vàng cài tóc treo trên cành đào. Kim Trọng vội vàng đưa tay với lấy đem về nhà, hí hửng đứng nhìn trâm mãi không chán và tự nghĩ có cơ may mới nhặt được trâm vàng của người mình thầm yêu trộm nhớ. Dù chưa gặp lại Kiều; nhưng có vật quý của nàng trong tay cũng vơi đi nỗi buồn và có cớ làm quen. Kim Trọng tự hỏi phải chăng đây là nhân duyên tiền định? Lúc trời vừa sáng tan sương, sau khi về phòng, Kiều thấy trâm cài đâu mất, bèn ra vườn tìm kiếm. Chàng Kim si tình đứng chờ từ lâu; thấy bóng Kiều bèn vội vàng lên tiếng: “Nàng ơi tự nhiên tôi nhặt được cây trâm của nàng nè”. Từ bên kia tường nhà Kiều tỏ vẻ thẹn thùng đáp lại. “Chàng ơi! Của rơi có sá gì mà chàng quá quan tâm”. Nhân cơ hội ngàn năm một thuở, Kim Trọng kiếm cớ xin Kiều dừng chân cho chàng trao lời tâm sự. Bốn mắt nhìn nhau, hai con tim rung động, hai người chả nói ra nhưng ai cũng hiểu được họ “đã phải lòng nhau”. Thúy Kiều không đòi lại trâm mà còn vào nhà lấy thêm hai xuyến vàng và chiếc khăn lụa quý giá, rồi lén leo thang cao qua góc tường sang nhà Kim Trọng. Lúc gặp nhau, người thẹn thùng, kẻ ngỡ ngàng. Hình ảnh cuộc gặp gỡ lần đầu lại hiện ra trong tâm trí hai kẻ “tình trong như đã mặt ngoài còn e”. Kẻ nhớ, người thương, chàng và nàng như rơi vào biển tình dậy sóng. Kim Trọng tha thiết bày tỏ tình yêu của mình thà chết còn hơn không cưới được nàng (như điển tích Vĩ Sinh ôm chặt chân cầu, nơi hẹn hò người yêu, đến đỗi sóng lên cao, đành bị chết đuối chứ không chịu bỏ đi khi người tình chưa đến). Thiết tha hơn, chàng muốn tìm người mai mối kết duyên cùng nàng. Hiểu được tấm chân tình của chàng, Kiều khiêm tốn bày tỏ gia đình nàng thanh bạch, tư chất bình thường, có tài sắc gì đâu mà chàng quá quan tâm. Còn chuyện tình duyên, là phận nữ nhi, Kiều không dám quyết định khi chưa có sự ưng thuận của cha mẹ.

Phân tích nhân vật Kim Trọng – Mẫu 3

Kim Trọng của Nguyễn Du trong Đoạn trường tân thanh được thể hiện ở hai bình diện. Thứ nhất là ở bình diện nhân chứng, bình diện người quan sát. Trái với Kiều, bản thân Kim Trọng không phải tự mình trải qua những biến cố đau khổ, nhưng ông là người phải chứng kiến, nhìn thấy, nghe thấy. Người trải nghiệm nỗi khổ thì khổ, đã đành, nhưng người phải chứng kiến người thân yêu chịu khổ mà không làm gì được thì sao? Đối với Nguyễn Du, câu trả lời dứt khoát như sau:

Vì sao lại “mới thương”? Vì phải về Liêu Dương chịu tang chú, hay vì phải chia tay người yêu? Tất nhiên là không, mấy việc đó thì có gì mà đáng thương. Mà bởi vì trông thấy nỗi đau của người khác.

Đó là hai câu thơ không có ẩn ý, hai câu thơ đơn nghĩa, nhưng vẫn là hai câu thơ kì lạ bởi tính quyết đoán của nó: Kim Trọng đáng thương hơn! (Đến đây, chúng ta hãy nhớ lại câu thơ thứ tư trong Truyện Kiều: “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.” – Đau lòng vì trông thấy nỗi khổ.)

Để làm rõ chủ ý của Nguyễn Du trong việc biến Kim Trọng trở thành con người quan sát, con người đứng bên ngoài sự kiện, ta cần một nghiên cứu so sánh văn bản giữa Kim Trọng của Thanh Tâm Tài Nhân với Kim Trọng của Nguyễn Du, bởi nhận định mà không căn cứ trên văn bản thì chỉ là nhận định võ đoán.

Advertisement

Đọc đối chiếu Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, ta thấy rằng, về cơ bản, Nguyễn Du bám sát cốt truyện gốc. Dĩ nhiên ông có lược đi, rút gọn hoặc thay đổi những chi tiết. Việc tìm kiểu kĩ các chi tiết bị thay đổi này có thể cho chúng ta có một hình dung xác thực hơn về sáng tạo của Nguyễn Du. Chính ở điểm này, có thể nói rằng, trong khi ở các nhân vật khác, việc chỉnh sửa chi tiết không làm thay đổi bản chất nhân vật, thì riêng ở Kim Trọng, Nguyễn Du đã tạo ra một nhân vật khác về chất so với nhân vật của Tài Nhân.

Trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Kim Trọng được khắc họa như một chính diện quân tử, một Kim Thiên Lí tự tin, mạnh mẽ, thậm chí còn có đôi nét macho. Ông là đại diện cho lớp người được tôn trọng nhất trong xã hội Nho giáo, những người không chỉ tự tin rằng mình nắm giữ lương tri và tri thức, mà đồng thời còn luôn sẵn dũng khí và sức mạnh để “thế thiên hành đạo”. Kim Trọng của Tài Nhân luôn biết mình muốn gì, và luôn chủ động hành động để đạt được mục đích. Thế nhưng trong Đoạn Trường tân thanh của Nguyễn Du, tất cả những nét mạnh mẽ, quyết đoán đó của Kim Trọng đều bị tước đi, thay vào đó là những phản ứng tình huống, bị động. Kim Trọng của Tài Nhân được miêu tả với những nét khá cụ thể: “…một người học trò con nhà giàu họ Kim tên Trọng, tự là Thiên Lí, sinh ra trạng mạo giống Phan An, văn tài ngang Tử Kiến, tuổi trạc đôi mươi,…”, và khi lần đầu gặp Thúy Kiều và Thúy Vân, thấy hai nàng đều xinh đẹp, Kim Trọng đã thề với lòng: “…Mình mà không được hai nàng này làm vợ thì suốt đời sẽ chẳng lấy ai” (Ngay khi gặp lần đầu, Kim Trọng đã muốn lấy cả hai nàng làm vợ! – một ý muốn đầy nam tính và không sai trái theo đạo đức Nho giáo). Sau những ngày dài mơ tưởng, đến khi gặp Thúy Kiều lần hai, vừa hấp tấp chui qua lỗ hổng để sang nhà nàng, Kim Trọng đã vội “bước lại ôm chầm lấy Thúy Kiều” (chi tiết này bị Nguyễn Du cắt bỏ). Tất cả những chi tiết, tuy có suồng sã, nhưng mạnh mẽ trong hành động của Kim Trọng đều bị Nguyễn Du chủ ý tước đi, thay vào đó là những cử chỉ, lời nói cao nhã, khiêm cung, yếm thế. Kim Trọng của Tài Nhân không chỉ là người có dung mạo đẹp, kiến thức thâm hậu (“trạng mạo giống Phan An, văn tài ngang Tử Kiến”), mà còn là người cưỡi ngựa, đeo kiếm.

Chi tiết Kim Trọng dùng “thiết như ý” luôn mang sẵn bên người để khoét tường sang nhà Thúy Kiều, một chi tiết tuy nhỏ nhưng cũng đủ làm nên chân dung “văn võ” của Kim Trọng, cũng bị Nguyễn Du cắt bỏ.

Truyện An Dương Vương Và Mị Châu – Trọng Thủy Trích Truyện Rùa Vàng (Lĩnh Nam Chích Quái)

– Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy thuộc thể loại truyền thuyết.

Văn bản trong SGK được trích từ Truyện Rùa Vàng trong Lĩnh Nam chích quái – một bộ sưu tập truyện dân gian ra đời vào cuối thế kỉ XV.

Sau khi An Dương Vương xây xong thành Cổ Loa thì được thần Kim Quy cho một cái móng để làm nỏ thần. Lúc bấy giờ Triệu Đà làm chúa đất Nam Hải, mấy lần đem quân sang cướp đất Âu Lạc, nhưng vì An Dương Vương có nỏ thần nên đành rút quân về chờ thời cơ thích hợp. Triệu Đà nhân cơ hội đưa con trai mình là Trọng Thủy sang cầu thân với Mị Châu – con gái An Dương Vương. Một thời gian qua đi, khi đã có được lòng tin yêu của vợ, Trọng Thủy dò hỏi chuyện về chiếc nỏ thần. Biết được bí mật, mượn cớ về thăm cha, Trọng Thủy đánh cắp nỏ thần đem về đưa cho Triệu Đà. Có nỏ thần trong tay, Triệu Đà tiến đánh Âu Lạc một lần nữa. An Dương Vương thấy giặc đến chân thành nhưng vẫn chủ quan vì nghĩ rằng đã có nỏ thần. Nỏ thần không phát huy tác dụng, thua trận, An Dương Vương cưỡi ngựa đem theo Mị Châu đi về phía biển. Nhưng đi đến đâu thì thấy quân giặc theo đến đấy. Thần Kim Quy hiện lên nói rằng kẻ thù ở ngay bên cạnh. An Dương Vương bèn rút kiếm ra chém chết Mị Châu rồi nhảy xuống biển tự vẫn. Trọng Thủy nghe tin vì quá hối hận mà nhảy xuống giếng tự vẫn. Ngày nay, giếng ấy được gọi là giếng Trọng Thủy. Tục truyền lại Mị Châu khi chết, máu chảy xuống biển, trai ăn được mới có ngọc châu. Đem ngọc về rửa nước giếng thì thấy sáng lạ lùng.

Gồm 3 phần:

Phần 1. Từ đầu đến “ không dám đối chiến, bèn xin hòa ”: An Dương Vương được thần giúp đỡ xây thành, chế nỏ.

Phần 2. Tiếp theo đến “ Dẫn vua xuống biển ”: Bi kịch nước mần nhà tan.

Phần 3. Còn lại: Tương truyền về Mị Châu và Trọng Thủy.

Nghe đọc tác phẩm:

Vua An Dương Vương nước Âu Lạc, họ Thục tên Phán […] xây thành ở đất Việt Thường hễ đắp tới đâu lại lở tới đấy. Vua bèn lập đàn trai giới, cầu đảo bách thần. Ngày mồng bảy tháng ba bỗng thấy một cụ già từ phương đông tới trước cửa thành mà than rằng: “Xây dựng thành này biết bao giờ cho xong được!”. Vua mừng rỡ đón vào trong điện, thi lễ, hỏi rằng: “Ta đắp thành này đã nhiều lần băng lở, tốn nhiều công sức mà không thành, thế là cớ làm sao?”. Cụ già đáp: “Sẽ có sứ Thanh Giang tới cùng nhà vua xây dựng thành mới thành công”. Nói rồi từ biệt ra về.

Hôm sau, vua ra cửa đông chờ đợi, chợt thấy con Rùa Vàng từ phương đông lại, nổi trên mặt nước, nói sõi tiếng người, tự xưng là sứ Thanh Giang, thông tỏ việc trời đất, âm dương, quỷ thần. Vua mừng rỡ nói: “Điều đó chính cụ già đã báo cho ta biết trước”. Bèn dùng xe bằng vàng rước vào trong thành […].

Thành xây nửa tháng thì xong. Thành rộng hơn ngàn trượng, xoắn như hình trôn ốc, cho nên gọi là Loa Thành, còn gọi là Quỷ Long Thành, người thời Đường gọi là Côn Lôn Thành, lấy lẽ rằng nó cao lắm.

Rùa Vàng ở lại ba năm rồi từ biệt ra về. Vua cảm tạ nói: “Nhờ ơn của thần, thành đã xây được. Nay nếu có giặc ngoài thì lấy gì mà chống?”. Rùa Vàng đáp: “Vận nước suy thịnh, xã tắc an nguy đều do mệnh trời, con người có thể tu đức mà kéo dài thời vận. Nhàn vua ước muốn ta có tiếc chi”. Bèn tháo vuốt đưa cho nhà vua mà nói: “Đem vật này làm lẫy nỏ, nhắm quân giặc mà bắn thì sẽ không lo gì nữa”. Dứt lời, trở về biển Đông.

Vua sai Cao Lỗ làm nỏ, lấy vuốt rùa làm lẫy. Gọi là nỏ “Linh quang Kim Quy thần cơ”. Về sau Triệu Vương là Đà cử binh xâm lược phương Nam, cùng vua giao chiến. Vua lấy nỏ thần ra bắn, quân Đà thua lớn, chạy về Trâu Sơn đắp luỹ không dám đối chiến, bèn xin hoà […].

Không bao lâu, Đà cầu hôn. Vua vô tình gả con gái là Mị Châu cho con trai Đà là Trọng Thuỷ. Trọng Thuỷ dỗ Mị Châu cho xem trộm nỏ thần rồi ngầm làm một cái lẫy nỏ khác thay vuốt Rùa Vàng, nói dối là về phương Bắc thăm cha. Nói rằng: “Tình vợ chồng không thể lãng quên, nghĩa mẹ cha không thể dứt bỏ. Ta nay trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hoà, Bắc Nam cách biệt, ta lại tìm nàng, lấy gì làm dấu?”. Đáp: “Thiếp phận nữ nhi, nếu gặp cảnh biệt li thì đau đớn khôn xiết. Thiếp có áo gấm lông ngỗng thường mặc trên mình, đi đến đâu sẽ rứt lông mà rắc ở ngã ba đường để làm dấu, như vậy sẽ có thể cứu được nhau”.

Trọng Thuỷ mang lẫy thần về nước. Đà được lẫy cả mừng, bèn cử binh sang đánh. Vua cậy có nỏ thần, vẫn điềm nhiên đánh cờ, cười mà nói rằng: “Đà không sợ nỏ thần sao?”. Quân Đà tiến sát, vua cầm lấy nỏ, thấy lẫy thần đã mất bèn bỏ chạy. Vua đặt Mị Châu ngồi đằng sau ngựa rồi cùng nhau chạy về phương Nam.

Advertisement

Trọng Thuỷ nhận dấu lông ngỗng mà đuổi. Vua chạy tới bờ biển, đường cùng, không có thuyền qua bèn kêu rằng: “Trời hại ta, sứ Thanh Giang ở đâu mau mau lại cứu”. Rùa Vàng hiện lên mặt nước, thét lớn: “Kẻ nào ngồi sau ngựa chính là giặc đó!”. Vua bèn tuốt kiếm chém Mị Châu, Mị Châu khấn rằng: “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Mị Châu chết ở bờ biển, máu chảy xuống nước, trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu. Vua cầm sừng tê bảy tấc, Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển.

Đời truyền nơi đó là đất Dạ Sơn, xã Cao Xá, phủ Diễn Châu. Quân Đà kéo tới đấy không thấy bóng vết gì, chỉ còn lại xác Mị Châu. Trọng Thuỷ đem xác Mị Châu về táng ở Loa Thành, xác biến thành ngọc thạch. Mị Châu đã chết, Trọng Thuỷ thương tiếc khôn cùng, khi đi tắm tưởng như thấy bóng dáng Mị Châu, bèn lao đầu xuống giếng mà chết. Người đời sau mò được ngọc ở biển Đông, lấy nước giếng này mà rửa thì thấy trong sáng thêm, nhân kiêng tên Mị Châu cho nên gọi ngọc minh châu là đại cữu và tiểu cữu.

Cập nhật thông tin chi tiết về Đoạn Trích Chí Khí Anh Hùng Trích Từ Câu 2213 Đến Câu 2230 Trong Tác Phẩm Truyện Kiều trên website Fsey.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!