Xu Hướng 2/2024 # Hội Chứng Hít Phân Su: Biểu Hiện, Chẩn Đoán Và Điều Trị # Top 9 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Hội Chứng Hít Phân Su: Biểu Hiện, Chẩn Đoán Và Điều Trị được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Fsey.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Hội chứng hít phân su là một trong những nguyên nhân gây ra suy hô hấp ở trẻ sơ sinh. Tình trạng này thường gặp ở trẻ đủ hoặc già tháng – trẻ trong bụng mẹ quá ngày dự sanh. Yếu tố thúc đẩy là do trẻ bị căng thẳng do thiếu oxy trong khi mang thai hoặc trong lúc sinh. Mời quý phụ huynh cùng Bác sĩ Nguyễn Ngọc Mai tìm hiểu về hội chứng hít phân su qua bài viết sau đây.

Phân su thường có màu xanh đậm được tống ra ngoài qua hậu môn khi em bé được sinh ra. Đây cũng là chất thải ra đầu tiên của trẻ sơ sinh. Bản chất của phân su là các tế bào biểu mô ruột, lông tóc, dịch nhầy, dịch tiết của đường ruột như dịch mật, v.v.

Khi em bé bị căng thẳng do tình trạng thiếu oxy trước hoặc trong khi sinh có thể làm cho bé tổng xuất phân su ra ngoài sớm hơn khi vẫn còn trong tử cung. Phân su lúc này sẽ hòa lẫn vào nước ối. Trong y học, tình trạng này còn được gọi là nước ối nhuộm phân su.

Phân su trong nước ối đi vào phổi và gây ảnh hưởng đến vấn đề hô hấp sau khi sinh. Hội chứng hít phân su của trẻ có thể xảy ra trước, trong hoặc ngay sau khi sinh.

Mặc dù tình trạng này thường không gây nguy hiểm đến tính mạng trẻ. Tuy nhiên, chúng có thể gây ra các biến chứng về hô hấp của trẻ sau sinh.

Phân su trực tiếp làm thay đổi tính chất nước ối, làm giảm hoạt tính kháng khuẩn và sau đó làm tăng nguy cơ nhiễm vi khuẩn chu sinh.

Biến chứng nặng nề nhất của hội chứng hít phân su là suy hô hấp ở trẻ sơ sinh. Ngoài ra, phân su gây kích ứng da thai nhi, làm tăng nguy cơ ban đỏ nhiễm độc ở trẻ sơ sinh.

Suy hô hấp ở trẻ sơ sinh có nghĩa là tình trạng trẻ bị thiếu oxy. Theo thống kê, tử vong do suy hô hấp đứng hàng đầu tử vong ở trẻ sơ sinh.

Hội chứng hít phân su hình thành 4 tác động chính gây hậu quả suy hô hấp bao gồm: tắc nghẽn đường thở, giảm chức năng surfactant, viêm phổi do hóa chất, tăng áp phổi dai dẳng ở trẻ sơ sinh.

Sự tắc nghẽn hoàn toàn của đường thở do phân su dẫn đến xẹp phổi. Hậu quả này dẫn đến suy hô hấp.

Trong khi đó sự tắc nghẽn một phần đường thở gây ra tình trạng kẹt khí và tăng áp suất trong phế nang – là đơn vị nhỏ nhất trong phổi, có cấu tạo là những túi khí được sắp xếp như chùm nho, nằm ở đầu tận của các ống dẫn khí nhỏ nhất.

Khí bị giữ lại (phổi căng phồng) có thể vỡ vào màng phổi gây bệnh cảnh tràn khí màng phổi,  trung thất gây tràn khí trung thất.

Giảm chức năng của Surfactant

Surfactant là một chất nằm trong lòng phế nang. Tác dụng của nó chống sự xẹp phế nang quá mức khi người bình thường thở ra.

Khi trẻ hít phân sư, phân su sẽ vô hiệu hóa hoặc ức chế sự tổng hợp chất Surfactant. Khi chất này thiếu sẽ làm cho phế nang xẹp, gây rối loạn trao đổi khí và dẫn đến suy hô hấp.

Viêm phổi do hóa chất

Các enzym, muối mật và axit béo tự do trong phân su gây kích thích đường thở và nhu mô phổi giải phóng các hoạt chính gây viêm.

Hít phân su có thể khởi phát một đợt viêm phổi chỉ trong vài giờ sau khi sinh.

Tăng áp phổi dai dẳng ở trẻ sơ sinh

Khi đứa trẻ được sinh ra và hít thở đầu tiên, các mạch máu phổi sẽ mở ra và bắt đầu lưu thông máu qua phổi. Điều này cho phép em bé lấy oxy cho não và phần còn lại của cơ thể.

Với tình trạng tăng áp phổi, các mạch máu đến phổi của em bé không mở ra hết. Hậu quả dẫn đến trẻ không nhận được đủ oxy cho cơ thể và gây suy hô hấp.

Hội chứng hít phân si có thể xảy ra khi bé bị căng thẳng. Căng thẳng này thường là do trẻ bị thiếu oxy trước hoặc trong khi sinh.

Khi trẻ bị căng thẳng, sẽ kích thích gây ra nhu động ruột và giãn cơ vòng ở trực tràng hậu quả phân su bị tống ra ngoài sớm.

Những yếu tố nguy cơ gây hội chứng hít phân su bao gồm:

Mang thai quá ngày dự sanh (sau 40 tuần): Hầu hết trẻ không tống xuất phân su ra ngoài cho đến cuối thai kì. Vì vậy, khi thai quá ngày dự sanh có khả năng tiếp xúc với phân su nhiều hơn.

Sanh khó, chuyển dạ kéo dài

Một số vấn đề sức khỏe mà người mẹ gặp phải, bao gồm: tăng huyết áp (huyết áp cao) hoặc bệnh tiểu đường

Nhiễm trùng khi mang thai

Thai chậm phát triển trong tử cung do suy bánh nhau

Tiền sản giật

Thiểu ối

Thai bị thiếu oxy trong tử cung

Thống kê cho thấy hội chứng hít phân su phổ biến hơn ở trẻ có thai quá ngày so với trẻ sinh đủ tháng và hiếm gặp ở trẻ sinh non tháng.

Suy hô hấp là biểu hiện nổi bật nhất của tình trạng này. Trẻ sơ sinh có thể thở gấp hoặc rên trong khi thở. Một số trẻ sơ sinh có thể ngừng thở nếu đường thở bị tắc hoàn toàn bởi phân su.

Một số biểu hiện khác có thể bao gồm:

Màu sắc da tím tái

Thở cánh mũi phập phồng

Co kéo cơ hô hấp phụ khi thở

Thở nhanh

Bác sỹ khám đôi khi nghe được có tiếng ran ở phổi

Ngoài ra, đôi khi ở móng tay, rốn và da bị nhuốm màu phân su có màu ố vàng xanh.

Nước tiểu màu xanh có thể được ghi nhận ở trẻ sơ sinh hít phân su dưới 24 giờ sau khi sinh. Điều này do các sắc tố phân su có thể được phổi hấp thụ vào máu và được bài tiết qua nước tiểu.

Chẩn đoán được đưa ra dựa trên các biểu hiện hô hấp của trẻ sơ sinh và sự hiện diện của phân su trong nước ối.

Bác sĩ sẽ nghe lồng ngực của trẻ bằng ống nghe để phát hiện âm thanh thở bất thường. Có một số phương pháp thường được sử dụng hỗ trợ chẩn đoán, bao gồm:

Xét nghiệm khí máu động mạch để đánh giá nồng độ oxy và carbon dioxide trong máu.

Chụp X-quang ngực để khảo sát bệnh lý phổi, màng phổi, tim, lồng ngực. Trên Xquang ngực của trẻ bị hít phân su có thể thấy ứ khí phổi, xẹp phổi, thâm nhiễm phổi, tràn khí màng phổi, v.v.

Nếu em bé có hội chứng hít phân su, sẽ cần:

Đặt ống hút ở khí quản sau đó hút phân su ra ngoài.

Làm ấm cơ thể của trẻ

Lau khô và kích thích trẻ

Thở oxy qua các dụng cụ hỗ trợ cung cấp oxy

Nhập vào khoa chăm sóc đặc biệt dành cho trẻ sơ sinh để được theo dõi chặt chẽ.

Các phương pháp điều trị khác có thể bao gồm:

Thuốc kháng sinh để điều trị nhiễm trùng có thể xảy ra.

Dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch (IV) – nếu các vấn đề về hô hấp khiến em bé không thể bú bằng miệng.

Bức xạ ấm hơn để duy trì nhiệt độ cơ thể.

Oxy hóa máu qua màng ngoài cơ thể: là phương pháp hỗ trợ tuần hoàn và hô hấp khi mà cả hai chức năng này đều không thể hoạt động bình thường. Phương pháp này có tác dụng thay thế hoạt động của tim hoặc phổi hoặc cả hai trong một khoảng thời gian ngắn.

Trong hầu hết các trường hợp nước ối nhuộm phân su thì tiên lượng khá tốt và không ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe của trẻ.

Trên thực tế, chỉ khoảng một nửa số trẻ sơ sinh có phân su có vấn đề về hô hấp và chỉ khoảng 5% trẻ sẽ có biểu hiện suy hô hấp do hội chứng hít phân su.

Một số trường hợp, trẻ có thể cần hỗ trợ thêm về hô hấp và dinh dưỡng. Việc hỗ trợ này thường kết thúc sau 2-4 ngày nếu trẻ không xảy ra các biến chứng gì. Nếu trẻ có tình trạng thở nhanh, việc hỗ trợ có thể kéo dài thêm vài ngày.

May mắn thay, hội chứng hít phân su hiếm khi dẫn đến tổn thương phổi vĩnh viễn.

Tuy hội chứng hít phân su ở trẻ sơ sinh có thể dẫn đến biến chứng nguy hiểm nhưng phần lớn các trường hợp là không nghiêm trọng. Việc theo dõi các dấu hiệu trẻ hít phải phân su cẩn thận và điều trị kịp thời sẽ giúp hạn chế những di chứng về sau.

Hội Chứng Thần Kinh Cận Ung: Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị

Hội chứng thần kinh cận ung là rối loạn hiếm gặp, gồm các triệu chứng đa dạng do tổn thương hệ thần kinh trên những bệnh nhân bị ung thư. Nguyên nhân bệnh không phải do tế bào ung thư trực tiếp tổn thương hệ thần kinh mà do hệ miễn dịch của chính bệnh nhân tấn công nhầm những tế bào này. Để hiểu thêm về hội chứng này, mời bạn đọc cùng theo dõi bài viết sau của Bác sĩ Phan Văn Giáo.

Hội chứng này gồm nhiều rối loạn khác nhau xuất hiện trên bệnh nhân ung thư. Bên cạnh hệ thần kinh, hội chứng cận ung cũng có thể ảnh hưởng đến các cơ quan khác như: các hormone (hệ nội tiết), da liễu, hệ máu và khớp.

Nguyên nhân của hội chứng này là khi hệ thống miễn dịch tạo ra tác nhân chống lại tế bào ung thư, các tác nhân này cũng tấn công hệ thần kinh như não, tuỷ sống, dây thần kinh ngoại vi hoặc cơ bắp.

Tuỳ thuộc vào vị trí hệ thần kinh bị ảnh hưởng, hội chứng này có thể gây ra các vấn đề như bất thường khi vận động hoặc phối hợp cơ, rối loạn cảm giác, trí nhớ, rối loạn khả năng tư duy hay đôi khi ảnh hưởng giấc ngủ của người bệnh.

Tổn thương hệ thần kinh có thể hồi phục nhờ điều trị ung thư và tác động lên hệ miễn dịch. Tuy nhiên, căn bệnh này cũng có thể dẫn đến tổn thương hệ thần kinh nghiêm trọng trong thời gian ngắn và không thể hồi phục.

Nhưng dù sao thì việc điều trị bệnh ung thư nền và những can thiệp khác cũng mang lại nhiều lợi ích to lớn. Nếu được điều trị phù hợp, bác sĩ có thể ngăn ngừa những tổn thương mới và cải thiện triệu chứng, cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Những triệu chứng trong hội chứng này đôi khi diễn tiến nhanh chóng. Thời gian có thể trong vòng vài ngày đến vài tuần. Các triệu chứng thường xuất hiện ngay cả trước khi bệnh ung thư căn nguyên được chẩn đoán.

Các triệu chứng rất đa dạng, tuỳ thuộc vào vị trí tổn thương thần kinh trên cơ thể:

Đi lại khó khăn.

Mất khả năng phối hợp cơ.

Khó duy trì cân bằng.

Giảm trương lực cơ hoặc yếu cơ.

Mất kỹ năng vận động tinh tế, chẳng hạn như nhặt lên một vật nào đó.

Khó nuốt.

Nói ngọng hoặc nói lắp.

Mất trí nhớ và suy giảm khả năng nhận thức.

Bất thường thị lực.

Rối loạn giấc ngủ.

Co giật.

Ảo giác.

Các cử động tự ý bất thường.

Một số dạng của hội chứng thần kinh cận ung

Thoái hoá tiểu não. Những tế bào tiểu não kiểm soát hoạt động cơ và cân bằng cơ thể. Việc mất đi những tế bào tiểu não trong thể bệnh này gây ra các triệu chứng như đi đứng không vững, mất khả năng phối hợp cơ bắp ở tay chân, không thể duy trì tư thế,…

Viêm não tuỷ. Thể bệnh này vừa gây viêm não vừa ảnh hưởng tuỷ sống.

Hội chứng rung giật nhãn cầu – giật cơ. Hội chứng này có nguyên nhân từ rối loạn tiểu não hoặc các đường thần kinh liên kết tiểu não. Triệu chứng gồm cử động mắt nhanh và không đều, giật cơ không tự chủ ở tay chân.

Hội chứng người cứng. Hội chứng người cứng đặc trưng bởi cứng cơ tiến triển ở các cơ cột sống và chân. Thể bệnh này cũng gây ra những cơn co thắt cơ đau đớn.

Những dạng khác của hội chứng này có thể gặp:

Viêm não hệ viền. Thể bệnh này ảnh hưởng hệ viền, là nơi kiểm soát cảm xúc, hành vi và chức năng ghi nhớ. Khi bị rối loạn này, người bệnh sẽ thay đổi tính cách hoặc rối loạn khí sắc, mất trí nhớ, co giật, ảo giác hoặc buồn ngủ.

Bệnh tăng trương lực cơ thần kinh. Bệnh này còn được gọi là hội chứng Isaacs, đặc trưng bởi các xung thần kinh ngoại vi bất thường kiểm soát hoạt động cơ. Những xung thần kinh này có thể gây ra co giật, cơ gợn sóng, cứng cơ dần dần, chuột rút…

Bệnh thần kinh ngoại biên. Bệnh này do các tổn thương dây thần kinh xuất phát từ não hoặc tuỷ sống, dẫn truyền đến các bộ phận ngoại vi. Khi tổn thương thần kinh cảm giác, người bệnh sẽ bị đau và rối loạn cảm giác.

Rối loạn hệ thống thần kinh thực vật. Thần kinh thực vật kiểm soát những chức năng như nhịp tim, huyết áp, đổ mồ hôi, chức năng ruột và bàng quang. Khi hệ thần kinh thực vật bị tổn thương, các triệu chứng có thể gặp gồm huyết áp thấp, nhịp tim không đều và khó thở.

Hội chứng này không phải do tế bào ung thư trực tiếp gây ra hay do biến chứng điều trị. Thực ra, hội chứng thần kinh cận ung xảy ra là hệ quả từ việc tế bào ung thư kích hoạt hệ miễn dịch cơ thể.

Sau khi được kích hoạt, hệ miễn dịch tạo ra các thành phần chống lại tế bào ung thư. Những thành phần này thường là kháng thể và bạch cầu như tế bào lympho T. Tuy nhiên chúng không chỉ tấn công tế bào ung thư như mục đích ban đầu mà những thành phần này còn tấn công cả những tế bào của hệ thần kinh và gây ra hội chứng thần kinh cận ung.

Bất kỳ bệnh ung thư nào cũng có thể gây ra hội chứng thần kinh cận ung. Tuy nhiên hội chứng này thường gặp hơn trong những loại ung thư như phổi, buồng trứng, ung thư vú, tinh hoàn hoặc hệ bạch huyết.

Để chẩn đoán hội chứng này, bác sĩ sẽ khám sức khoẻ bệnh nhân và làm xét nghiệm máu. Ngoài ra, chọc dò tuỷ sống hoặc các xét nghiệm hình ảnh học cũng cần thiết để chẩn đoán hội chứng và tìm nguyên nhân.

1. Khám lâm sàng

Bác sĩ sẽ khám tổng trạng cũng như khám hệ thần kinh, hỏi bệnh và tiến hành những bài kiểm tra nhỏ để đánh giá những chức năng như:

Phản xạ.

Sức cơ.

Trương lực cơ.

Xúc giác.

Thị giác và thính giác.

Khả năng phối hợp động tác.

Khả năng giữ thăng bằng.

Khí sắc.

Trí nhớ.

2. Xét nghiệm

Bác sĩ sẽ làm những xét nghiệm sau:

3. Hình ảnh học

Chụp cắt lớp vi tính (CT): sử dụng tia X để tạo hình ảnh cắt ngang của cơ thể.

Chụp cộng hưởng từ (MRI): sử dụng từ trường và sóng vô tuyến. Những sóng này tạo hình ảnh cắt ngang hoặc hình ảnh 3D chi tiết.

Chụp PET kết hợp với CT: giúp tăng tỷ lệ phát hiện những khối ung thư nhỏ vốn thường gặp ở bệnh nhân có hội chứng thần kinh cận ung.

Nếu không tìm ra khối u ác tính nào hoặc không xác định được căn nguyên, có thể nguyên nhân là một khối u nhỏ đến mức không thể phát hiện. Kích thước khối u nhỏ có thể do chính hệ thống miễn dịch hoạt động mạnh mẽ giữ nó không to lên. Do đó bác sĩ sẽ làm xét nghiệm hình ảnh học mỗi ba đến sáu tháng để theo dõi cho đến khi xác định được nguyên nhân.

Mục tiêu điều trị là giải quyết ung thư, có thể kèm với ức chế phản ứng miễn dịch và giảm triệu chứng trong một số trường hợp. Việc điều trị phụ thuộc vào dạng hội chứng bệnh nhân mắc phải.

1. Sử dụng thuốc

Bên cạnh những thuốc dùng trong hoá trị ung thư, bác sĩ sẽ cho bệnh nhân dùng những thuốc sau để ngăn cản hệ miễn dịch tấn công hệ thần kinh:

Corticosteroid: có tác dụng kháng viêm. Tác dụng phụ nếu sử dụng thời gian dài gồm loãng xương, đái tháo đường type 2, tăng huyết áp và tăng cholesterol.

Thuốc ức chế miễn dịch: có tác dụng làm chậm quá trình tạo tế bào bạch cầu. Tác dụng phụ nhóm thuốc này là tăng nguy cơ bị nhiễm trùng.

Ngoài ra, tuỳ thuộc người bệnh có triệu chứng gì mà bác sĩ sẽ cho dùng những thuốc như:

Thuốc chống co giật: giúp kiểm soát cơn co giật.

2. Những phương pháp điều trị khác

Lọc huyết tương. Phương pháp này gồm quá trình tách phần lỏng (huyết tương) khỏi các tế bào máu. Sau đó, các tế bào máu được đưa lại vào cơ thể; phần huyết tương bị loại bỏ và thay thế bằng chất lỏng đặc biệt khác. Lý do là vì trong huyết tương chứa các kháng thể bất thường nên cần phải thay thế để loại bỏ những kháng thể này.

Tiêm globulin miễn dịch (IVIG). Globulin miễn dịch là các kháng thể bình thường, giúp phá huỷ các kháng thể gây hại trong máu bệnh nhân.

Vật lý trị liệu. Những bài tập được thiết kế để giúp bệnh nhân hồi phục lại những cơ bị giảm chức năng.

Liệu pháp ngôn ngữ. Nếu bệnh nhân bị khó nói hoặc khó nuốt, các chuyên gia có thể giúp người bệnh học cách kiểm soát lại những hành động này.

Hội chứng khóa trong rối loạn thần kinh mà bạn cần nên lưu ý

Hội chứng chèn ép dây thần kinh mà bạn cần biết

Hội Chứng Đau Cẳng Chân: Nguyên Nhân, Chẩn Đoán Và Điều Trị

Đau xương cẳng chân là một tình trạng hay đau ở vùng xương chày, một xương lớn ở vùng cẳng chân. Bệnh thường gặp ở vận động viên chạy bộ, vũ công hay quân nhân.

Tình trạng này còn được biết đến với tên hội chứng căng xương chày, thường gặp ở vận động viên tập luyện cường độ cao hay mới thay đổi bài tập. Tập luyện quá nặng có thể làm căng cơ, dây chằng và xương. Một số trường hợp mắc hội chứng đau cẳng chân có thể giảm sau khi nghỉ ngơi, chườm mát và một số biện pháp tự chăm sóc tại nhà khác. Ngoài ra, việc mang một đôi giày vừa chân và phù hợp với bài tập có thể giúp ngăn chặn cơn đau quay trở lại.

Các triệu chứng của đau cẳng chân là đau âm ỉ, đau do căng cơ dọc theo xương chày hoặc ở các cơ cẳng chân. Ban đầu, cơn đau sẽ ngừng khi bạn ngừng chạy bộ hoặc luyện tập. Tuy nhiên về sau, cơn đau vẫn có thể kéo dài dai dẳng dù bạn đã ngừng những hoạt động trên.

Bạn nên gặp bác sĩ nếu bạn có các dấu hiệu và triệu chứng được đề cập ở trên, và điều trị bằng cách nghỉ ngơi, chườm đá và thuốc giảm đơn không kê đơn không giúp làm giảm triệu chứng.

Đau cẳng chân xảy ra do viêm (sự kích thích mô) bởi chấn thương cơ, dây chằng và mô bám vào xương chày.

Có rất nhiều yếu tố có thể làm tăng nguy cơ đau cẳng chân, bao gồm:

Nghề nghiệp: Bạn là vận động viên điền kinh, đặc biệt nếu mới bắt đầu chương trình luyện tập.

Đột ngột thay đổi cường độ và thời gian tập luyện có thể làm xuất hiện cơn đau cẳng chân.

Địa hình hay môi trường hoạt động: chơi thể thao trên nền cứng với các động tác bắt đầu và dừng đột ngột, hoặc chạy trên đường không bằng phẳng, ví dụ như đồi núi.

Chương trình huấn luyện: bạn đang được huấn luyện quân sự.

Dị tật chân: Bạn có bàn chân bẹt hay vòm cao.

Phân tích lại các động tác tập luyện. Bạn có thể quay lại quá trình bản thân tập luyện hay chạy, từ đó bạn sẽ nhận ra lỗi kĩ thuật trong quá trình chạy. Thay đổi những vấn đề này có thể giúp giảm cơn đau.

Tránh tập luyện quá mức: Chạy quá nhiều hay quá nhiều bài tập cường độ cao có thể là gánh nặng cho chân, nhất là xương chày.

Chọn giày phù hợp: Nếu bạn là một vận động viên điền kinh, bạn nên thay giày sau mỗi đợt chạy từ 560 – 800 km.

Cân nhắc dùng thêm miếng lót hỗ trợ: Đặc biệt những người bị bàn chân bẹt, việc dùng thêm miếng đệm lót sẽ giúp ích rất nhiều.

Tập một số bài tập ít tác động đến vùng cẳng chân: Ví dụ như đi bơi, đi bộ hoặc đạp xe. Và bạn cần tập luyện nhẹ nhàng trước, rồi mới tăng dần mức độ nặng.

Tập thêm một số bài tập bổ trợ: Các bài tập tăng sức mạnh bàn chân, cổ chân đùi và dây chằng sẽ giúp chân bạn tập luyện bài cường độ cao tốt hơn.

Bác sĩ sẽ đưa ra chẩn đoán dựa vào bệnh sử và khám lâm sàng. Các phương tiện chẩn đoán hình ảnh, chẳng hạn như chụp X-quang có thể giúp tìm ra những nguyên nhân khác gây đau như gãy xương.

Nghỉ ngơi. Tránh tập các bài có thể gây đau, sưng hay khó chịu. Tuy vậy, bạn không nên ngưng vận động hoàn toàn. Nếu bạn đang trong quá trình phục hồi, hãy thử những bài tập cường độ thấp, như bơi lội, đạp xe hay chạy bộ trong nước.

Chườm đá: mỗi 15 – 20 phút/ lần, 4 – 8 lần ngày trong nhiều ngày liền. Tuy nhiên, bạn cần lưu ý vấn đề bỏng lạnh. Bạn nên lót một tấm khăn dày trước khi chườm đá.

Dùng các thuốc giảm đau không cần kê toa: Ví dụ ibuprofen (Advil, Motrin IB,…), naproxen sodium (Aleve) hay acetaminophen (Tylenol, paracetamol…).

Bạn có thể vận động trở lại và tăng mức độ tập luyện sau khi đã giảm đau.

Bác sĩ Vũ Thành Đô

Khí Phế Thủng: Định Nghĩa, Chẩn Đoán Và Điều Trị

Khí phế thũng là một bệnh lý mạn tính ở phổi gây khó thở. Ở những người bị khí phế thũng, các túi khí trong phổi (phế nang) bị tổn thương. Theo thời gian, thành bên trong của các túi khí yếu đi và vỡ ra tạo ra các khoảng không khí lớn hơn thay vì nhiều túi khí nhỏ. Hậu quả làm giảm diện tích bề mặt của phổi, giảm trao đổi oxy khi máu qua phổi.

Khi bạn thở ra, các phế nang bị tổn thương không hoạt động bình thường và không khí cũ bị giữ lại. Lúc này không còn chỗ cho không khí giàu giàu oxy đi vào.

Hầu hết những người bị khí phế thũng cũng bị viêm phế quản mãn tính. Viêm phế quản mãn tính là tình trạng viêm các ống dẫn khí đến phổi (ống phế quản), dẫn đến ho dai dẳng.

Khí phế thũng và viêm phế quản mãn tính là hai bệnh lý tạo nên bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD). Đây là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ ba ở Hoa Kỳ và là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ tư trên toàn thế giới. Thậm chí nó có thể trở thành nguyên nhân tử vong thứ tư trên toàn cầu vào năm 2023. Gần 15,7 triệu người Mỹ (6,4 %) vào năm 2014 báo cáo rằng đã được chẩn đoán mắc COPD, tuy nhiên con số thực tế có thể cao hơn nhiều. Hơn 50% người lớn có suy giảm chức năng phổi không biết rằng họ bị COPD.

Hút thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu của COPD. Việc điều trị có thể làm chậm sự tiến triển độ nặng của COPD nhưng bệnh không thể được điều trị hoàn toàn.

Khí phế thủng hay COPD nên được đánh giá ở bất kỳ bệnh nhân nào bị khó thở, ho mãn tính hoặc thường xuyên khạc đàm, đặc biệt có tiền sử tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ.

Hầu hết bệnh nhân được chẩn đoán trễ do chủ quan bỏ qua các triệu chứng âm ỉ bắt đầu dần dần và tiến triển trong nhiều năm nhờ sự thích nghi và thay đổi lối sống của bản thân.

Khó thở, triệu chứng quan trọng nhất của khí phế thủng, thường không xảy ra cho đến 60 tuổi. Vào thời điểm thể tích thở ra gắng sức trong 1 giây (FEV1) trong phương pháp đo hô hấp kí giảm xuống 50% dự đoán, bệnh nhân sẽ có khó thở khi gắng sức nhẹ. Khí phế thủng cuối cùng gây ra khó thở ngay cả khi đang nghỉ ngơi.

Thở khò khè có thể xảy ra ở một số bệnh nhân, đặc biệt là khi gắng sức và khi đang bị đợt cấp COPD.

Nguyên nhân chính của khí phế thũng là do tiếp xúc lâu dài với các chất hóa học trong không khí, bao gồm:

Khói thuốc lá

Khói cần sa

Ô nhiễm không khí

Khói và bụi hóa học

Hiếm khi, khí phế thủng là do thiếu hụt di truyền một loại protein bảo vệ các cấu trúc đàn hồi trong phổi. Nó được gọi là khí phế thũng do thiếu alpha-1-antitrypsin.

Hút thuốc: Khí phế thủng có nhiều khả năng mắc ở những người hút thuốc lá, hút xì gà và tẩu thuốc. Nguy cơ khí phế thủng càng tăng lên theo số năm hút và số lượng thuốc lá hút trong ngày.

Tuổi tác: Hầu hết những người mắc bệnh khí thủng có hút thuốc lá bắt đầu có triệu chứng ở độ tuổi từ 40 đến 60 tuổi.

Tiếp xúc với khói thuốc: Tiếp xúc với khói thuốc lá (hút thuốc lá thụ động) làm tăng nguy cơ mắc bệnh khí thủng.

Bệnh nghề nghiệp: Khi hít phải khói từ một số hóa chất hoặc bụi từ bột, bông, gỗ hoặc khai thác đá, khoảng sản, có nhiều khả năng mắc khí phế thũng. Nguy cơ này thậm chí còn lớn hơn cả hút thuốc.

Tiếp xúc với ô nhiễm trong nhà và ngoài trời: Hít thở các chất ô nhiễm trong nhà, như khói từ than hoặc gỗ sưởi ấm, cũng như các chất ô nhiễm ngoài trời như khói xe làm tăng nguy cơ mắc bệnh khí thũng.

Trong các yếu tố nguy cơ trên, khói thuốc lá là yếu tố chính trong sự phát triển và tiến triển của khí phế thủng.

Mặc dù vậy, tiếp xúc với các chất ô nhiễm không khí trong nhà và nơi làm việc, các yếu tố di truyền và nhiễm trùng đường hô hấp cũng có vai trò nhất định.

Những người bị khí phế thủng cũng có nhiều khả năng phát triển:

Xẹp phổi (tràn khí màng phổi). Phổi xẹp có thể đe dọa tính mạng ở những người bị khí phế thũng nặng vì chức năng của phổi đã bị tổn thương.

5.1 Xquang phổi

Chụp X-quang phổi có thể giúp hỗ trợ chẩn đoán bệnh khí phế thũng tiến triển và có thể giúp loại trừ các nguyên nhân khác gây khó thở.

Những hình ảnh điển hình của khí phế thủng trên Xquang phổi bao gồm: Hai phế trường tăng sáng, lồng ngực hình thùng, khoang liên sườn giãn rộng, cơ hoành dẹt và vòm hoành thấp hơn đầu trước xương sườn 7.

5.2 CT scan ngực

CT scan ngực được chụp từ nhiều hướng khác nhau để tạo ra hình ảnh mặt cắt của các cơ quan nội tạng.

Chụp CT scan cho hình ảnh khí phế thủng khu trú hoặc lan tỏa 2 phế trường, đặc trưng bởi những vùng phổi sáng hơn so với nhu mô phổi bình thường. Ngoài ra, nó còn có thể kết hợp với phần mềm giúp đo được chỉ số khí phế thủng (Emphysema Index) định lượng được mức độ khí phế thủng trên CT scan.

5.3 Kiểm tra chức năng phổi qua đo hô hấp ký

Các xét nghiệm không xâm lấn này đo lường lượng không khí mà phổi có thể chứa và mức độ không khí lưu thông vào và ra khỏi phổi. Họ cũng có thể đo lường mức độ phổi cung cấp oxy cho máu. Phổ biến nhất sử dụng một dụng cụ đơn giản gọi là phế dung kế và yêu cầu bệnh nhân thổi vào.

Khí phế thũng và COPD không thể chữa khỏi hoàn toàn. Tuy nhiên, các phương pháp điều trị có thể giúp làm giảm các triệu chứng và làm chậm sự tiến triển của bệnh.

6.1 Điều trị dùng thuốc

Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng, bác sĩ có thể cho:

Thuốc giãn phế quản: Những loại thuốc này giúp giảm ho, khó thở và các vấn đề về hô hấp bằng giãn các đường thở bị co thắt.

Steroid dạng hít: Thuốc corticosteroid hít dưới dạng bình xịt làm giảm viêm, giảm triệu chứng khó thở.

Thuốc kháng sinh: Nếu bị đợt cấp COPD do nhiễm trùng, điển hình viêm phế quản cấp tính hoặc viêm phổi trên nền bệnh CPOD, thuốc kê đơn sẽ gồm có kháng sinh.

6.2 Điều trị không dùng thuốc

Bổ sung Oxygen giúp giảm công hô hấp: Nếu bệnh nhân bị khí phế thũng nghiêm trọng với lượng oxy trong máu thấp. Dử dụng oxy thường xuyên tại nhà và khi tập thể dục hoặc gắng sức có thể giúp giảm nhẹ triệu chứng. Nhiều người sử dụng oxy 24 giờ một ngày. Dụng cụ cung cấp oxy thường được sử dụng là cannula (ống thở oxy 2 mũi)

Chương trình phục hồi chức năng hô hấp: Đây là điều trị nền tảng của bệnh nhân bị COPD. Khi kết hợp với thuốc giãn phế quản sẽ giúp đem lại nhiều lợi ích. Với kỹ thuật thở chúm môi kéo dài thời gian thở ra giúp giảm bẫy khí.

6.3 Phẫu thuật

Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của khí phế thũng, bác sĩ có thể đề xuất một hoặc nhiều loại phẫu thuật khác nhau, bao gồm:

Phẫu thuật cắt giảm thể tích phổi (LVRS): Trong phẫu thuật này, bác sỹ sẽ cắt bỏ một phần phổi giúp giảm căng phồng phổi quá mức, giúp cải thiện hoạt động cơ hô hấp. Kỹ thuật này hữu ích ở những bệnh nhân khí phế thủng ưu thế thùy trên kèm giảm khả năng gắng sức.

Ghép phổi: Ghép phổi là lựa chọn cuối cùng nếu phổi bị tổn thương nghiêm trọng và các lựa chọn kể trên đã thất bại.

Nếu đã được chẩn đoán bị khí phế thủng hoặc COPD, cần lưu ý một số điều sau để ngăn chặn sự tiến triển của bệnh và bảo vệ bản thân khỏi các biến chứng:

Bỏ thuốc lá: Đây là biện pháp quan trọng nhất có thể thực hiện cho sức khỏe tổng thể và là biện pháp duy nhất có thể ngăn chặn sự tiến triển của bệnh khí thũng. Nếu có thể, người bên nên được tham gia chương trình cai thuốc lá. Ngoải ra, cần tránh khói thuốc thụ động càng nhiều càng tốt.

Tập luyện đêu đặn: Cố gắng không để các vấn đề về hô hấp là lý do để lười vận động. Tập thể dục với mức độ cho phép và đều đặn có thể làm tăng đáng kể dung tích phổi.

Hạn chế tiếp xúc với không khí lạnh: Không khí lạnh có thể gây co thắt các đoạn phế quản gây khó thở hơn. Khi thời tiết lạnh, hãy đeo khăn mềm, mặt nạ hoặc khẩu trang chống lạnh, che kín lên miệng và mũi trước khi ra ngoài, để làm ấm không khí đi vào phổi.

Tiêm chủng: Đảm bảo tiêm phòng cúm và phế cầu hàng năm theo lời khuyên của bác sĩ.

Ngăn ngừa nhiễm trùng đường hô hấp: Cố gắng hết sức để tránh tiếp xúc trực tiếp với những người bị cảm lạnh hoặc cúm. Nếu ở những nơi đông người trong mùa lạnh và cúm, cần đeo khẩu trang, rửa tay thường xuyên và mang theo một chai nhỏ nước rửa tay có cồn để sử dụng khi cần thiết.

Bác sĩ Nguyễn Trung Nghĩa

Rối Loạn Nhân Cách Chống Đối Xã Hội: Nguyên Nhân, Chẩn Đoán Và Điều Trị

Rối loạn nhân cách chống đối xã hội (Antisocial personality disorder, đôi khi gọi là psychopath) là một rối loạn sức khỏe tâm thần, thuộc nhóm B (Cảm xúc và bốc đồng) rối loạn nhân cách. Trong đó:

Cá nhân luôn tỏ ra không quan tâm đến đúng sai.

Bỏ qua, xâm phạm các quyền và cảm xúc của người khác.

Có xu hướng đối kháng, thao túng hoặc đối xử khắc nghiệt với người khác

Thái độ thờ ơ, không có cảm giác tội lỗi hay hối hận về hành vi của mình.

Theo như DSM-5, rối loạn nhân cách chống đối xã hội cần phải bao gồm 4 yếu tố sau:

Từ 15 trở lên, coi thường và xâm phạm đến quyền của người khác với những đặc điểm sau:

Không tuân theo luật pháp hay chuẩn mực xã hội, tham gia vào các hoạt động phạm pháp.

Nói dối, lừa gạt, thao túng người khác để được lợi cho bản thân.

Hành vi bốc đồng.

Khó chịu và gây hấn, biểu hiện bởi thường xuyên tấn công người khác hay tham gia đánh nhau.

Không quan tâm đến an toàn của bản thân và người khác.

Thiếu trách nhiệm, và không có sự hối hận về những hành vi đã làm.

Người được chẩn đoán phải ít nhất 18 tuổi. Do trong độ tuổi dạy thì nhân cách có thể biến động.

Có triệu chứng rối loạn hành vi đạo đức (một rối loạn sức khỏe tâm thần khác còn gọi là Conduct Disorder) trước tuổi 16. Bao gồm các vấn đề hành vi nghiêm trọng và dai dẳng, như:

Sự xâm lược đối với người và động vật.

Phá hủy tài sản.

Sự gian dối.

Trộm cắp.

Vi phạm nghiêm trọng các quy tắc.

Những triệu chứng của rối loạn nhân cách chống đối xã hội phải xuất hiện riêng biệt. Không kèm theo tâm thần phân liệt hay các rối loạn cảm xúc lưỡng cực.

Mặc dù rối loạn nhân cách chống đối xã hội được coi là suốt đời. Ở rất ít trường hợp nhất định – đặc biệt là hành vi phá hoại và phạm tội – có thể giảm theo thời gian. Nhưng không rõ liệu sự giảm này là kết quả của sự lão hóa hay tăng nhận thức về hậu quả của hành vi chống đối xã hội.

Nhân cách là sự kết hợp giữa suy nghĩ, cảm xúc và hành vi khiến mọi người trở nên độc đáo. Nhân cách tác động đến cách chúng ta nhìn nhận bản thân và niềm tin chúng ta về người khác lẩn thế giới xung quanh.

Nguyên nhân chính xác của rối loạn nhân cách chống đối xã hội không được biết, nhưng:

Gen di truyền có thể khiến bạn dễ bị rối loạn nhân cách chống đối xã hội. Và các tình huống trong cuộc sống có thể kích hoạt sự phát triển của rối loạn.

Những thay đổi trong cách thức hoạt động của não có thể dẫn đến sự phát triển của rối loạn.

Một số yếu tố phát sinh nên rối loạn đã được tìm thấy. Nó làm tăng nguy cơ rối loạn nhân cách chống đối xã hội bao gồm:

Rối loạn hành vi thời thơ ấu

Tiền sử gia đình rối loạn nhân cách chống đối xã hội hoặc rối loạn nhân cách khác hoặc rối loạn sức khỏe tâm thần

Bị lạm dụng hoặc bỏ bê trong thời thơ ấu

Cuộc sống gia đình không ổn định, bạo lực hoặc hỗn loạn trong thời thơ ấu

Đàn ông có nguy cơ mắc chứng rối loạn nhân cách chống đối xã hội cao hơn phụ nữ.

Rối loạn nhân cách chống đối xã hội là một vấn đề điều trị phức tạp. Thông thường, điều trị sử dụng liệu pháp tâm lý cần thời gian lâu dài. Các chuyên gia tâm lý sẽ đề nghị các loại tâm lý trị liệu khác nhau dựa trên tình huống của người bệnh.

Liệu pháp hành vi nhận thức có thể giúp tiết lộ những suy nghĩ và hành vi tiêu cực. Nó cũng có thể dạy cách thay thế chúng bằng những suy nghĩ và hành vi tích cực hơn.

Trị liệu tâm động năng hoặc phân tâm có thể làm gia tăng nhận thức về những ý thức, ý nghĩa triệu chứng và vô thức. Điều này có thể giúp người bệnh thay đổi chúng.

Những rối loạn hành vi từ thời thơ ấu có thể được xem là một yếu tố nguy cơ cao cho việc phát sinh các rối loạn ở tuổi trưởng thành, trong đó có rối loạn nhân cách chống đối xã hội. Vì vậy việc cha mẹ, giáo viên hay bác sĩ nhi khoa xác định những trẻ có nguy cơ và sau đó đưa ra biện pháp can thiệp từ sớm có thể mang ý nghĩa dự phòng.

Rối Loạn Lo Âu Lan Toả: Chẩn Đoán Và Điều Trị

Cuộc sống mang đến cho chúng ta nhiều trải nghiệm gây lo lắng chẳng hạn như buổi hẹn hò đầu tiên, ngày đầu tiên đến trường, lần đầu tiên xa nhà,tham gia kỳ thi ở trường, kết hôn, trở thành cha mẹ, ly dị, thay đổi công việc, đối phó với bệnh tật … Sự lo lắng trong tất cả các tình huống này được coi là bình thường và thậm chí là có lợi. Lo lắng về một bài kiểm tra sắp tới có thể khiến bạn phải học hành chăm chỉ hơn để chuẩn bị cho kỳ thi. Nỗi lo lắng mà bạn cảm thấy khi đi qua một bãi đậu xe tối tăm và vắng vẻ sẽ khiến bạn phải cảnh giác và thận trọng với môi trường xung quanh hơn.

Tuy nhiên, đối với nhiều người, sự lo lắng qua mực lại gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến bản thân và cuộc sống của họ. Vậy như thế nào là một sự lo lắng bình thường và như thế nào là một sự lo lắng bệnh lý?

Đối với người lo lắng bình thường khi nguyên nhân lo lắng xảy ra, họ đáp ứng lại một cách phù hợp với từng loại nguyên nhân, ví dụ trước một kì thi, lo là một đáp ứng bình thường và khi kì thi qua đi thì bạn sẽ hết lo lắng. Tuy nhiên đối với một số người, cường độ lo lắng của họ đối với sự việc lại quá mức, bạn lo lắng nhiều đến độ xây xẩm, chóng mặt, tim đập nhanh,vã mồ hôi… sự lo lắng kéo dài dai dẳng suốt (trên 6 tháng) và thậm chí đến khi tác nhân gây lo qua đi, bạn vẫn còn lo lắng.

Đôi khi có những người lo lắng mơ hồ, thậm chí không có nguyên nhân gây lo lắng, nhưng họ vẫn luôn có cảm giác lo. Thậm chị một số bệnh nhân xuất hiện các suy nghĩ lo liên tục, dồn dập và họ không có cách nào kiểm soát các suy nghĩ đó (ví dụ ban đêm bạn không tài nào ngủ được vì liên tục nhớ về công việc của ngày hôm nay, về các dự định ngày mai,các suy nghĩ xuất hiện liên tục và cảm thấy căng thẳng đầu óc và rất muốn dừng nhưng không làm được). Và gây ảnh hưởng rất nhiều tới cuộc sống và công việc. Nếu như xuất hiện các yếu tố trên, thì lúc này sự lo lắng không còn là bình thường nữa mà đã chuyển thành một rối loạn và được gọi là rối loạn lo âu lan tỏa.

Nguyên nhân của rối loạn lo âu lan tỏa

Nguyên nhân chính xác chưa được biết đầy đủ, nhưng một số yếu tố  bao gồm di truyền, chất dẫn truyền thần kinh và các yếu tố tâm lý xã hội đã góp phần vào sự phát triển của rối loạn này.

Di truyền: Một số nghiên cứu cho thấy tiền căn gia đình đóng một phần trong việc tăng khả năng một người sẽ phát triển rối loạn lo âu lan tỏa. Điều này có nghĩa là xu hướng phát triển cuả rối loạn này có thể được truyền lại trong các gia đình.

Các yếu tố môi trường: sang chấn tâm lý và các sự kiện căng thẳng, chẳng hạn như lạm dụng, cái chết của người thân, ly dị, thay đổi công việc hoặc trường học, có thể góp phần vào rối loạn này và có thể trở nên tồi tệ hơn trong thời gian căng thẳng. Việc sử dụng các chất gây nghiện, bao gồm rượu, caffeine và nicotine, cũng có thể làm trầm trọng thêm sự lo lắng.

Ngoài các triệu chứng chính là lo lắng quá mức và phi lý, các triệu chứng cảm xúc phổ biến khác của rối loạn lo âu lan tỏa bao gồm:

Cảm giác sợ hãi

Hay tự dự đoán và vẽ ra trong đầu những khả năng tồi tệ

Khó tập trung

Cảm thấy căng thẳng kéo dài và tăng vọt

Cáu gắt

Cảm giác như tâm trí của bạn trống rỗng

Nhưng lo lắng không chỉ là một cảm giác nó cũng biểu hiện qua một loạt các triệu chứng cơ thể, bao gồm:

Tim đập thình thịch

Đổ mồ hôi

Nhức đầu

Đau dạ dày

Chóng mặt

Đi tiểu thường xuyên hoặc tiêu chảy

Khó thở

Căng cơ hoặc giật cơ

Run tay

Mất ngủ

Và chính vì những triệu chứng thực thể này, những người mắc chứng lo âu thường nhầm lẫn rối loạn của họ với một tình trạng y khoa khác. Họ có thể đến gặp nhiều bác sĩ ở các chuyên khoa khác (ví dụ bệnh nhân biểu hiện bằng chóng mặt sẽ tới gặp bác sĩ nội thần kinh, bệnh nhân bị tim đập nhanh sẽ đến gặp bác sĩ tim mạch,..) và thực hiện nhiều cuộc khám bệnh tại các bệnh viện trước khi chứng rối loạn lo âu lan tỏa của họ được chẩn đoán xác định.

Nếu bạn xuất hiện các triệu chứng nêu trên, bác sĩ sẽ bắt đầu đánh giá bằng cách hỏi về bệnh sử và đánh giá tình trạng tâm thần của bạn. Mặc dù không có xét nghiệm nào để chẩn đoán cụ thể rối loạn lo âu lan tỏa, nhưng một số xét nghiệm có thể loại trừ các tình trạng y khoa khác mà gây triệu chứng giống như rối loạn lo âu (ví dụ như bệnh cường giáp gây triệu chứng giống như rối loạn lo âu lan tỏa).

Bác sĩ dựa trên cường độ và thời gian của các triệu chứng, bao gồm mọi vấn đề về chức năng gây ra bởi các triệu chứng. Rối loạn lo au lan tỏa được chẩn đoán nếu các triệu chứng xuất hiện trong nhiều ngày và trong khoảng thời gian ít nhất sáu tháng. Các triệu chứng cũng phải gây ảnh hưởng cuộc sống hàng ngày, chẳng hạn như khiến bạn nghỉ làm hoặc không thể tập trung học.

Các phương pháp điều trị gồm có hóa dược trị liệu và tâm lý trị liệu, các nghiên cứu hiện nay đã chỉ ra rằng, việc kết hợp cả hai phương pháp này một lúc sẽ hiệu quả hơn việc chỉ sử dụng một phương pháp đơn lẻ.

Đối với việc sử dụng thuốc, hiện nay đã có loại thuốc điều trị cho rối loạn này, các nhóm thuốc như SSRI, benzodiazepine,.. được chứng minh là có hiệu quả cân bằng lại các chất dẫn truyền thần kinh. Tuy nhiên, đây là những thuốc chuyên khoa, có thể có những tác dụng phụ và do vậy cần phải được kê toa và theo dõi dưới sự giám sát của bác sĩ tâm thần, dó đó khuyến cáo đưa ra không nên tự ý sử dụng thuốc mà không có sự giám sát của bác sĩ.

Tâm lý trị liệu sẽ giúp người bệnh nhận thức được các vấn đề tâm lý ẩn bên dưới rối loạn lo âu, từ đó giúp họ có thể tìm cách kiểm soát những đợt lo âu, và đối phó với các stress và căng thẳng trong tương lai.

Tại thành phố Hồ Chí Minh, bạn có thể được thăm khám và điều trị rối loạn này ở:

Phòng khám tâm thần kinh – BV Nguyễn Tri Phương 468 Nguyễn Trãi, phường 8, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Phòng khám tâm thần kinh – BV Đại học Y dược 215 Hồng Bàng, Phường 11, Quận 5, TP Hồ Chí Minh.

Bệnh viện tâm thần TP HCM 766 Võ Văn Kiệt, Phường 1, Quận 5, Hồ Chí Minh

Có một số điều mà bạn có thể thực hiện để kiểm soát hoặc làm nhẹ bớt triệu chứng bao gồm:

Ngừng hoặc giảm tiêu thụ chất caffeine, chẳng hạn như cà phê, trà, cola và sô cô la.

Tập thể dục hàng ngày và ăn một chế độ ăn uống cân bằng, lành mạnh.

Tìm kiếm sự tư vấn và hỗ trợ sau một trải nghiệm đau thương hoặc đáng lo ngại như chia sẻ với người thân hoặc tìm đến nhà tâm lý.

Thực hành các kỹ thuật quản lý căng thẳng như yoga hoặc thiền.

Hy vọng qua bài viết trên, có thể giúp bạn phần nào hiểu được về rối loạn lo âu lan tỏa, qua đó tìm được cho mình phương pháp điều trị sớm và đúng đắn để tránh làm cho rối loạn trở nên mãn tĩnh và khó đáp ứng thuốc hơn.

Cập nhật thông tin chi tiết về Hội Chứng Hít Phân Su: Biểu Hiện, Chẩn Đoán Và Điều Trị trên website Fsey.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!