Xu Hướng 2/2024 # Khu Di Tích Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm # Top 9 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Khu Di Tích Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Fsey.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Khu di tích Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là nơi trưng bài danh nhân văn hóa lỗi lạc của nước nhà. Di tích Trạng Trình cũng là nơi trưng bày khá đầy đủ hiện vật về thân thế và sự nghiệp trong suốt cuộc đời của ông. Khu di tích Nguyễn Bỉnh Khiêm tọa lạc tại thôn Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Tp. Hải Phòng. Khu di tích gồm nhiều hạng mục công trình.

Khu di tích Ðền Trạng nổi tiếng tại Hải Phòng

Khu di tích Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm gồm 9 hạng mục: tháp bút Kình Thiên; đền thờ dựng sau khi cụ mất (1585) với ba gian tiền đường, hai gian hậu cung, phía trước có hai hồ nước tượng trưng cho trời và đất, bức hoành phi trong đền ghi 4 chữ “An Nam Lý Học”; nhà trưng bày thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm; phần mộ cụ thân sinh ở phía sau đền; tượng Nguyễn Bỉnh Khiêm bằng đá cao 5,7m, nặng 8,5 tấn; hồ bán nguyệt rộng khoảng 1.000m²; chùa Song Mai; Nhà Tổ có tượng thờ bà Minh Nguyệt, vợ của Nguyễn Bỉnh Khiêm và Quán Trung Tân, nơi lưu giữ quan niệm mới về chữ “Trung” hướng lòng theo “chí trung chí thiện.

Hồ Thái Nhâm phía trước khu di tích

Qua khỏi cổng tam quan với 3 chữ Hán: Trung Am từ (tức đền Trung Am) là ngôi đền thờ chính gồm 3 gian lập trên nền nhà cũ của Trạng Trình, là nơi đặt tượng và bài vị của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tượng ông được làm bằng gỗ, trông thế ngồi trên ngai, mình mặc áo rồng vua ban, đầu đội mũ cánh chuồn, tay phải cầm cuốn tập giơ lên như đang giảng đạo thơ cho các học trò. Phía trước đền là hồ Thái Nhâm, trên khoảng đất giữa hồ có cầu bắc qua còn tấm bia đá làm năm Vĩnh Hựu nhà Lê (1736) ghi lại việc làm đền thờ Trạng Trình và tên những người đã đóng góp xây dựng đền.

Bức phù điêu tái hiện cuộc đời Nguyễn Bỉnh Khiêm

Phía sau đền là 3 gian nhà lợp cói, mô phỏng am Bạch Vân, nơi Nguyễn Bỉnh Khiêm sau khi từ quan đã về dạy học, làm thơ. Cách không xa Bạch Vân am là khu vực tượng đài Nguyễn Bỉnh Khiêm và phù điêu. Tượng Nguyễn Bỉnh Khiêm là một tác phẩm cao 5,7 mét, nặng 8,5 tấn được làm bằng chất liệu đá Granit và trong tư thế ngồi tay cầm bút, tay cẩm sách, y phục nhà Nho, cốt cách giản dị. Hai bức phù điêu, mỗi bức có cao khoảng hơn 5 mét, dài hơn 20 mét và được làm khá hoàn chỉnh cả về nồi dung, bố cục mỹ thuật… Một bức diễn tả lại cuộc đời sự nghiệp của Trạng Trình từ lúc còn bé đến cuối đời; bức kia diễn tả một giai đoạn lịch sử của địa phương từ khi thực dân Pháp xâm lược cho đến nay.

Khu vườn tượng sống động miêu tả cảnh dạy học của Trạng Trình

Trong quần thể di tích Nguyễn Bỉnh Khiêm, cách không xa đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm là phần mộ cụ Nguyễn Văn Định, thân sinh Nguyễn Bỉnh Khiêm và tháp Bút Kình Thiên, tương truyền là do học trò tạo dựng để ca ngợi tài năng của Trạng trình như trụ cột chống trời, chùa Song Mai và đền thờ bà Minh Nguyệt (vợ thứ của Trạng Trình), di tích Quán Trung Tân bên bờ sông Hàn… Đặc biệt trong không gian của khu di tích có rất nhiều vườn tượng, với kích thước bằng người thật, diễn tả lại cuộc đời, cảnh dạy học khi xưa của Nguyên Bỉnh Khiêm, tạo nên một khung cảnh gần gũi và sống động.

Lễ hội đền Trạng Trình hằng năm

Hàng năm cứ đến ngày 23/12, người dân trong vùng và các nơi lại kéo về đền thờ tế lễ, dâng hương tưởng niệm ngày mất của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bên cạnh phần lễ, phần hội với nhiều trò chơi dân gian đánh vật, kéo co, chọi gà, cờ người… đã mang đến một không khí lễ hội dân gian độc đáo, để lại những ấn tượng tốt đẹp cho du khách trong và ngoài nước.

Đăng bởi: Đức Nguyễn

Từ khoá: Khu di tích Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Khu Di Tích Giồng Thị Đam – Gò Quản Cung – Đồng Tháp

Khu Di tích Giồng Thị Đam – Gò Quản Cung tọa lạc xã An Phước, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp. Đây là điểm du lịch Đồng Tháp về nguồn ý nghĩa, khách có thể tham quan phòng trưng bày các tư liệu, hiện vật lịch sử; tìm hiểu về sự hình thành và phát triển của Tiểu đoàn 502 anh hùng, những trận đánh của quân và dân Đồng Tháp trên đồng nước nổi năm xưa.

Tượng đài chiến thắng

Ngày 26/9/1959, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Tiểu đoàn 502 tỉnh Kiến Phong tiêu diệt một Tiểu đoàn địch tại Giồng Thị Đam – Gò Quản Cung ngay trong lần đầu ra quân.

Trong 2 ngày, 42 tay súng của Tiểu đoàn 502 chiến đấu 2 trận, diệt gọn Đại đội 12, Đại đội 7 và Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 43, Sư đoàn 23 chủ lực Sài Gòn; đánh bại cuộc hành quân cấp Trung đoàn do phân khu Bắc tổ chức… Tiểu đoàn 502 còn thực hiện tốt công tác binh vận, giáo dục, cảm hóa, phóng thích tù binh. Đơn vị được tặng thưởng nhiều Huân chương chiến công, hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ được tặng Huân, Huy chương các loại, và được Chủ tịch nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào năm 1976. Sau khi hòa bình thống nhất Tiểu đoàn 502 làm tròn nghĩa vụ quốc tế giúp nước bạn Campuchia và đang tiếp tục phát huy truyền thống đơn vị anh hùng, sẵn sàng chiến đấu xây dựng lực lượng ngày càng vững mạnh.

Chiến thắng Giồng Thị Đam – Gò Quản Cung là chiến công xuất sắc đầu tiên của đơn vị bộ đội địa phương tỉnh nhà khi vừa tuyên thệ đổi phiên hiệu thành Tiểu đoàn 502 được 3 ngày; là thắng lợi quân sự sớm và lớn nhất. Chiến thắng lịch sử Giồng Thị Đam – Gò Quản Cung đi vào huyền thoại lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ví như “tiếng sấm đầu mùa” khởi đầu cho cuộc đấu tranh ở miền Nam.

Để ghi dấu sự kiện lịch sử hào hùng, giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, năm 1999, hoa viên và tượng đài chiến thắng Giồng Thị Đam – Gò Quản Cung được xây dựng tại xã An Phước, huyện Tân Hồng.

Năm 2004, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích chiến thắng Giồng Thị Đam – Gò Quản Cung là Di tích lịch sử cấp Quốc gia.

Bố cục tổng thể của tượng đài được tác giả Phạm Mười – Nguyên Trưởng ngành điêu khắc Việt Nam khái quát với 03 nhân vật đứng trên xuồng đang rẽ sóng trên đồng nước mênh mông trong tư thế sẵn sàng chiến đấu với niềm tin chiến thắng. Tượng đài cao 25m bằng bê tông cốt thép, bệ tượng ốp đá hoa cương, được xây dựng trên khuôn viên có diện tích 50.000m2.

Đăng bởi: Quốc Lợi

Từ khoá: Khu di tích Giồng Thị Đam – Gò Quản Cung – Đồng Tháp

“Đến Và Khám Phá” Các Khu Di Tích Lịch Sử Bến Tre

Du lịch Bến Tre khám phá mảnh đất “địa linh nhân kiệt”

Từ trước đến nay, Bến Tre không chỉ được biết là xứ sở của loài cây dừa mà còn nổi tiếng là vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng. Chính vì vậy mà ở Bến Tre có một hệ thống di tích khá phong phú và đa dạng chứa đựng nhiều giá trị về văn hóa.

Và có nhiều nơi vẫn còn lưu trữ rất nhiều vật thể phản ánh lại truyền thống văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng cũng như những nét đặc trưng của vùng đất xứ dừa đang chờ bạn đến khám phá.

Theo những thống kê hiện nay cho biết tại tỉnh Bến Tre có tổng cộng 22 địa điểm được xếp hạng là di tích lịch sử. Trong đó có 14 di tích lịch sử được công nhận là cấp quốc gia và 08 di tích thuộc cấp tỉnh. Bên cạnh những khu di tích lịch sử nổi tiếng ra thì tại Bến Tre còn có hệ thống đền chùa, đình, miếu, nhà cổ, bia, tượng,… cũng phong phú và đa dạng không kém.

– Di tích lịch sử Đồng Khởi Bến Tre: xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày Nam.

– Di tích lịch sử chùa Tuyên Linh: xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày Nam.

– Khu căn cứ Quân khu ủy Sài Gòn – Gia Định: xã Tân Phú Tây, Mỏ Cày Bắc.

– Di tích địa điểm Nhà ông Nguyễn Văn Cung và Ngã ba cây da đôi: xã Tân Xuân, huyện Ba Tri

– Di tích Đầu cầu tiếp nhận vũ khí Bắc – Nam: xã Thạnh Phong, Thạnh Phú.

– Khu di tích ngôi nhà ông Nguyễn Văn Trác: xã Hưng Lễ, huyện Giồng Trôm.

– Di tích các chứng tích về cuộc thảm sát 286 người vô tội do thực dân Pháp tiến hành năm 1947: xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm.

– Di tích Đình Tân Hưng và mộ ông Huỳnh Văn Thiệu: xã Châu Hưng, huyện Bình Đại.

– Khu di tích Đình Tân Ngãi: xã Thạnh Ngãi, huyện Mỏ Cày Bắc.

– Di tích cuộc thảm sát 129 người dân vô tội của Mỹ – Ngụy: xã Tân Thanh Tây, huyện Mỏ Cày Bắc.

– Di tích các trận đánh tại ngã tư Thạnh Tân: xã Thạnh Phước, huyện Bình Đại.

– Di tích Đình Rắn: xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày Nam.

– Ngôi nhà Bảo Tàng Bến Tre: Phường 3, Tp Bến Tre.

– Khu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc Tòng: xã An Hiệp, huyện Ba Tri.

– Di tích Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu: xã An Đức, huyện Ba Tri.

– Di tích Mộ và đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng: xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm.

– Di tích Mộ nhà giáo Võ Trường Toản: xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri

– Miếu thờ và mộ Lê Quang Quan(Tán Kế): xã Mỹ Thạnh, huyện Ba Tri.

– Khu mộ Phan Thanh Giản – vị tiến sĩ đầu tiên của Nam kỳ lục tỉnh: xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri.

– Đền thờ nhà thơ Phan Văn Trị: xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm.

– Đền thờ trung tướng Đồng Văn Cống: xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm.

– Nhà bia Trương Vĩnh Ký: xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách.

– Khu tưởng niệm nữ tướng Nguyễn Thị Định: xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm.

Ngoài ra còn rất nhiều di tích khác như di tích kiến trúc nghệ thuật, các di tích gắn liền với thân thế sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân,…. Có thể nói rằng, nhờ có những di tích vẫn còn hiện hữu ở Bến Tre cho chúng ta thấy được những trang sử vẻ vang của dân tộc trong những năm tháng chiến đấu. Một trong những tài sản quý giá mà Đảng Bộ và nhân dân Bến Tre cần phải giữ gìn, tôn tạo và phát huy giá trị. Đem tới cho du khách một tour du lịch đầy trải nghiệm và ý nghĩa nhất.

Đăng bởi: Sơn Nguyễn

Từ khoá: “Đến và khám phá” các khu di tích lịch sử Bến Tre

10 Bài Văn Phân Tích Tác Phẩm “Bài Ca Côn Sơn” Của Nguyễn Trãi

Bài văn phân tích tác phẩm “Bài ca Côn Sơn” số 10

Nguyễn Trãi là một nhà chính trị, một nhà ngoại giao và cũng là một nhà văn, nhà thơ kiệt xuất. Cuộc đời ông có nhiều cống hiến to lớn cho dân tộc, là bậc đại anh hùng mà người người phải noi theo. Ông giữ chức quan lớn trong triều đình nhưng sau cùng ông vẫn từ bỏ danh vọng, từ bỏ tiền bạc của cải để trở về với cuộc sống bình thường. Và ông đã chọn nơi dừng chân cho mình ở núi Côn Sơn. Phải chăng vì mến mộ cái đẹp, vì yêu thích cái nét thanh cao, thuần khiết của núi rừng mà ông đã rung động để rồi viết lên “Bài ca Côn Sơn”. Đây là một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông chứa đựng quan niệm về nhân sinh cùng những cảm nhận tinh tế sâu thẳm trong trái tim của một nhà Nho không gặp thời.

Cuộc sống không phải lúc nào cũng đi theo quỹ đạo của nó, không phải cứ ở hiền là gặp lành như chúng ta vẫn thường thấy trong những câu chuyện cổ tích. Và đương nhiên quy luật đó chẳng ngoại lệ với một ai. Là một người vừa có đức vừa có tài thế nhưng Nguyễn Trãi lại rơi vào cảnh sống nhầm thời đại, vậy nên bao tư tưởng, hoài bão của ông không thể thực hiện được. Có lẽ cũng bởi vì chán ghét cuộc sống nơi phồn hoa, chốn ganh đua quan trường mà ông đã cáo quan, bỏ lại sau lưng tiền tài danh vọng để sống thật với cuộc đời mình. Và khi ông đến với Côn Sơn ông đã cảm nhận được điều đó, ông coi nó như một người bạn tri kỉ, vẻ đẹp của nó có thể gột rửa tâm hồn giúp cho người thi sĩ quên đi thực tại và có thể làm chính mình. Nếu thực ở tại là bế tắc ngột ngạt thì khi đến với núi rừng Nguyễn Trãi lại mở rộng tâm hồn mình để cảm nhận cái vẻ đẹp kì vĩ ấy:

“Côn Sơn suối chảy rì rầm

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai”

Chỉ là tiếng nước chảy róc rách thế nhưng dưới cảm nhận của người nghệ sĩ nó lại trở thành âm thanh bay bổng của tiếng đàn. Tiếng suối không còn là thứ âm thanh róc rách, khô khan mà nó đã được thổi hồn vào trong đó. Những giai điệu du dương như đang hòa cùng âm thanh của đất trời để viết lên một bản tình ca thật đẹp.

“Bài ca Côn Sơn” là bức tranh của núi rừng, là nét đẹp tinh tế được tác giả phác lại bằng những nét chấm phá, âm thanh và màu sắc của cỏ cây, núi rừng. Ở một nơi nào đó trong khu rừng, người nghệ sĩ được thiên nhiên chữa lại mảnh hồn héo úa trong mình để rồi ông lại dạt dào tình cảm với cảnh vật nơi núi rừng:

“Côn Sơn có đá rêu phơi

Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm”

Đúng thật, khi tâm hồn con người ta được giải phóng thì cảm giác về con người về những sự vật lại có hồn đến lạ. Từ một tảng đá vô tri, một vật cứng nhắc được núi rừng bao bọc, những tảng đá bất động bị mưa gió bào mòn, rồi mưa nắng cùng với thiên nhiên phủ lên thân đá lớp rêu xanh. Nhưng dù có được bao bọc bởi rêu đi chăng nữa thì đá vẫn là đá mà thôi. Thế nhưng người thi sĩ lại cảm nhận việc ngồi lên tảng đá thô cứng ấy như được ngồi trên chiếu êm. Tâm hồn người thi sĩ giản đơn hết mức, cả thế giới như thu bé lại, tiềm thức như được mở rộng ra hết cỡ để cảm nhận, hòa tâm hồn mình vào vòng xoay của vũ trụ.

Và thiên đường ấy có âm thanh êm dịu của đàn, có chiếc chiếu êm làm điểm tựa cho người nghệ sĩ. Lúc này ông tự do thả hồn mình vào những cảnh vật phía xa, đó là sự vi vu bát ngát của cánh rừng với một màu xanh êm dịu, màu xanh của tình yêu, sức sống.

“Trong ghềnh thông mọc như nêm

Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm

Trong rừng có bóng trúc râm

Tìm nơi bóng mát ta ngâm thơ nhàn”

Từng cảnh vật của khu rừng được tác giả cảm nhận thật tinh tế và tỉ mỉ. Những hàng thông xanh ngát nối tiếp nhau, thông mọc san sát nhau và đâm thẳng lên bầu trời xanh. Thông đương đầu với số phận, chống chọi qua đêm bão tuyết, hình ảnh ấy tượng trưng cho ý chí bất khuất, kiên cường của người anh hùng ngàn đời nay. Và trúc mang dáng vẻ tao nhã, thanh cao, là dáng vẻ của người quân tử yêu thích cái tinh tế, thuần khiết và gắn bó với thiên nhiên.

Qua “Bài ca Côn Sơn” chúng ta thấy được một tâm hồn nhạy cảm, yêu thiên nhiên và hòa nhập cùng thiên nhiên. Tưởng chừng như tâm hồn ấy đã êm dịu không còn sóng gió vì say đắm trong cái vẻ đẹp thuần khiết kia nhưng thực ra trong thâm tâm ông lúc nào cũng dậy sóng vì lo cho nỗi nước nhà. Sau này khi được vua hiểu thấu và mời quay lại giúp dân, giúp nước thì ông lại từ bỏ thú vui bản thân và quay trở lại. Nguyễn Trãi là bậc đại anh hùng, là con người mang trong mình tấm lòng vì đại cả đời cống hiến cho dân tộc mà chúng ta nên tôn thờ và noi theo.

Bài văn phân tích tác phẩm “Bài ca Côn Sơn” số 9

Bài văn phân tích tác phẩm “Bài ca Côn Sơn” số 10

Bài ca Côn Sơn (Côn Sơn ca) là một bài thơ chữ Hán nổi tiếng. Có lẽ Nguyễn Trãi viết bài thơ này trong thời kì ông cáo quan về ở ẩn ở Côn Sơn để giữ cho tâm hồn được thanh cao, trong sạch.

Đối với Nguyễn Trãi, Côn Sơn là một miền đất có sức hút kì lạ. Chẳng thế mà hai lần cáo quan về ở ẩn, ông đều tìm về với Côn Sơn. Và núi rừng Côn Sơn thanh vắng đã trở thành một thế giới riêng đầy thân thương gắn bó với thi nhân. Tại Côn Sơn, Nguyễn Trãi được sống với chính mình. Dường như thiên nhiên đã trở thành cứu cánh cho tâm hồn ông- một tâm hồn đớn đau vì nhân tình thế thái. Tại Côn Sơn, mọi vật đối với ông trở nên có tình, có nghĩa, như bầu bạn, như tri âm:

Núi láng giềng, chim bầu bạn

Mây khách khứa, nguyệt anh tam

(Thuật hứng – Bài 19)

Cảnh trí Côn Sơn thanh tĩnh, rộng mở, để cho tâm hồn Nguyễn Trãi hoá thân tìm về, ùa vào đó mà quên đi mọi nỗi ưu phiền:

Côn Sơn suối chảy rì rầm

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai

Côn Sơn có đá rêu phơi

Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm

Trong ghềnh thông mọc như nêm,

Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm.

Trong rừng có bóng trúc râm,

Trong màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn.

(Trích Côn Sơn ca).

Đoạn mở đầu bài Côn Sơn ca đem đến cho người đọc bao cảm nhận mới mẻ về tâm hồn thi sĩ của Ức Trai. Trong cảm xúc của ông, cảnh trí Côn Sơn hiện ra thật thơ mộng và lãng mạn: có tiếng suối chảy rì rầm, có đá rêu phơi êm ái, có rừng thông mọc rậm, dày, có rừng trúc xanh mát…, vừa có cái hoang dã của thiên nhiên, vừa có hơi ấm của cuộc sống đầy ắp tình người. Hơn nữa, trong con mắt thi nhân, thiên nhiên không chỉ là cảnh, mà đã trở thành nhà.

Ngôi nhà thiên nhiên ấy thật đặc biệt: suối là đàn, rêu là chiếu, bóng thông làm giường, bóng tre trúc là nơi ngâm vịnh thơ ca. Thật là tuyệt thú! Và trong ngôi nhà thiên nhiên ấy, ông để tâm hồn mình giao hoà với cảnh và vẽ lại nó bằng một ngọn bút tài hoa. Bức tranh thiên nhiên được chấm phá bằng âm thanh rì rầm của tiếng suối được cảm nhận như tiếng đàn:

Côn Sơn suối chảy rì rầm,

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.

Một hình ảnh so sánh thật độc đáo và gợi cảm. Suối đang chảy hay thi nhân đã thả hồn mình vào tiếng suối, làm rung lên cung đàn diễn tả nỗi khát khao yêu cuộc sống? Năm trăm năm sau, thi sĩ Hồ Chí Minh cũng có chung cảm nhận ấy: Tiếng suối trong như tiếng hát xa. Phải chăng những tâm hồn nghệ sĩ đã tìm về với nhau?

Sau những giây phút thả hồn mình cùng tiếng suối, thi nhân lặng đến ngồi bên những phiến đá mà thời gian đã rêu phong bao phủ. Ông ngồi chơi ngắm cảnh, hay ngồi đánh cờ một mình? Có lẽ là cả hai. Trên nhân gian này, không ít người đã từng ngồi trên đá, nhưng làm sao họ cảm nhận được như thi nhân?

Côn Sơn có đá rêu phơi,

Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm.

Một hình ảnh so sánh liên tưởng đầy thú vị khiến ta không khỏi ngỡ ngàng. Nguyễn Trãi trở về Côn Sơn không phải là để ẩn dật theo đúng nghĩa của cách sống ẩn dật, mà ông trở về Côn Sơn với nỗi hân hoan đầy tự do của một con người trở về nhà mình (Hoàng Phủ Ngọc Tường). Và trong ngôi nhà ấy, ông không những được tha hồ nghe nhạc rừng, ngồi trên đá đánh cờ, mà còn được nằm dưới bóng thông râm mát, được ngâm thơ nhàn dưới bóng trúc xanh. Một cuộc sống mà người và cảnh gắn bó với nhau, hoà nhập vào nhau. Lòng Ức Trai thanh thản đến lạ kì. Chưa bao giờ mà tâm hồn thi sĩ của Ức Trai lại được bộc lộ đầy đủ, sâu sắc và đầm thắm đến thế! Cũng tại Côn Sơn này, hồn thơ Ức Trai còn tiếp tục rộng mở để đón nhận thiên nhiên, chở thiên nhiên về chất đầy kho:

Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc

Thuyền chở yến hà nặng vay then

(Thuật hứng – Bài 24)

Tình yêu thiên nhiên sâu nặng đến mức thi nhân sợ bóng hoa tan mà không dám quét nhà:

Hé cửa, đêm chờ hương quế lọt,

Quét hiên, ngày đợi bóng hoa tan

(Quốc Âm thi tập – Bài 160)

Nhân cách thanh cao và tâm hồn thi sĩ của nguyễn Trãi thực sự là tấm gương sáng để ta soi vào.

Bài văn phân tích tác phẩm “Bài ca Côn Sơn” số 9

Bài văn phân tích tác phẩm “Bài ca Côn Sơn” số 8

Bài văn phân tích tác phẩm “Bài ca Côn Sơn” số 9

Bài ca Côn Sơn” được tác giả Nguyễn Trãi sáng tác trong thời gian hòa bình, ông đã cáo quan về sống ở Côn Sơn. Mảnh đất Côn Sơn này không chỉ là quê hương mà còn là mảnh đất nuôi dưỡng tâm hồn Nguyễn Trãi. Bài thơ “Côn Sơn ca” vừa là bài ca thiên nhiên, vừa là bài ca tâm trạng, chúng hòa quyện thống nhất trong cảm xúc của thi nhân. Vừa mang vẻ đẹp thiên nhiên nhưng vẫn thấm nhuần ý vị trữ tình của tâm trạng.

Sự giao hòa giữa con người và cảnh vật thiên nhiên được thể hiện khá rõ trong đoạn thơ, qua đó đã phản ánh được nhân cách thanh cao và tâm hồn phóng khoáng của Nguyễn Trãi:

“Côn Sơn suối chảy rì rầm,

Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm,

Trong rừng thông mọc như nêm,

Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn…”

Với nhịp thơ rộn rã như nhịp đàn, nhịp phách. Tinh thần sảng khoái trong tâm hồn tác giả đã tạo nên chất phóng khoáng của lời thơ. Cảnh vật thiên nhiên hiện lên với dòng nước suối trong chảy róc rách, rì rầm như tiếng đàn lúc khoan lúc nhặt. Phiến đá thì phẳng và mọc rêu xanh, mịn như chiếu êm, các cây tùng thông mọc như nêm, rừng trúc bạt ngàn màu xanh tươi mát. Khung cảnh Côn Sơn hiện lên với những vẻ đẹp riêng biệt, không lẫn với bất cứ bức tranh sơn thủy nào. Trong bài thơ, ta thấy đại từ “ta” xuất hiện đến năm lần,và đó chính là tác giả, hình ảnh đó khiến cho tác giả giống như một nhà hiền triết hoặc một Tiên ông đang đắm mình vào thiên nhiên tuyệt mĩ.

Nguyễn Trãi đã vẽ nên một bức tranh Côn Sơn với cây, suối, và có chính nhân vật trữ tình là mình. Thiên nhiên Côn Sơn khoáng đạt và thanh tĩnh, bao trùm lên tất cả là màu sắc xanh tươi, hình ảnh cây trúc, cây tùng trong văn chương còn tượng trưng cho khí phách cứng cỏi của người quân tử.

Nhà thơ đã hòa mình vào thiên nhiên hoang sơ đầy quyến rũ, bao nhiêu lo lắng muộn phiền của cuộc đời dường như được trút sạch, còn người và thiên nhiên đã hòa vào làm một. Nhà thơ không chỉ cảm nhận cảnh vật thiên nhiên ấy bằng thị giác và thính giác mà còn cảm nhận bằng cả trái tim, ta có thể  nhận thấy cái “tâm” trong sáng và cái tài độc đáo của Nguyễn Trãi qua bài thơ này.

Bốn câu thơ đầu là cảnh thiên nhiên thì ở bốn câu thơ sau, tác giả đã kín đáo lồng vào trong đó lời khuyên xuất thế. Nguyễn Trãi cáo quan về quê, người ta tưởng ông bất mãn, chán đời và sống ẩn dật để quên đời quên mình. Nhưng thực tế không phải vậy, khi ông được trở về Côn Sơn, ông như con chim được sổ lồng tung cánh, cảm thấy mình thực sự được tự do giữa trời cao đất rộng, được sống thật với chính mình. Thi sĩ đã có những lúc dạo chơi, cao hứng ngâm nga giữa núi rừng quê nhà. Phong thái ấy thật giản dị, ung dung mà thật cởi mở và chan hòa.

Đọc bài thơ “Bài ca Côn Sơn” của Nguyễn Trãi, chúng ta hiểu thêm về tình yêu thiên nhiên đất nước sâu nặng của ông, đồng thời cảm nhận được nỗi lòng của một người đã gần trọn cuộc đời lo cho dân, cho nước như Nguyễn Trãi, khi cuối đời lại phải sống trong lòng đố kị, ghen ghét của bọn nịnh thần.

Bài văn phân tích tác phẩm “Bài ca Côn Sơn” số 7 Bài văn phân tích tác phẩm “Bài ca Côn Sơn” số 6

Bài văn phân tích tác phẩm “Bài ca Côn Sơn” số 7

Đoạn trích “Bài ca Côn Sơn” nằm trong bài thơ “Côn Sơn ca” của Nguyễn Trãi đã được dịch thành tám câu thơ lục bát. Chỉ với tám câu thơ nhưng tác giả đã lột tả được hết vẻ đẹp non nước hữu tình của Côn Sơn. Tạo nên một bức tranh sơn thủy hữu tình tuyệt đẹp.

“Côn Sơn suối chảy rì rầm

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai”

PĐây là câu thơ miêu tả tiếng nước chảy trong suối, âm thanh ấy róc rách và rì rầm khiến cho nhà thơ cảm thấy thích thú, khơi dậy lên trí tưởng tượng và ví von của tác giả, ông cho đó là nhạc của tiếng đàn, cụ thể là tiếng của “đàn cầm”. Lấy âm thanh của đàn cầm để so sánh với tiếng suối, ẩn dụ “đàn cầm” biểu lộ một niềm vui, sự giao cảm với dòng suối, coi suối mà mảnh hồn của “ta”. Cách cảm nhận tiếng suối của tác giả cũng thể hiện rõ Côn Sơn có một không gian tĩnh lặng và trầm mịch, mọi thứ hoang sơ và thuần khiết, nghe rõ từng tiếng suối chảy. Tiếng suối đã trở thành thứ âm thanh mua vui cho những tháng ngày tác giả ở ẩn nơi đây. Ở hai câu thơ tiếp theo là miêu tả vẻ đẹp của đá núi ở Côn Sơn:

“Côn Sơn có đá rêu phơi

Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm”

Đá trong núi Côn Sơn được mua xối làm cho phẳng lì và rêu mọc lên xanh biếc, những cây rêu đó làm cho những phiến đã trở nên mềm mại và êm hơn, khiến nhà thơ ví đá thành “chiếu êm”. Cách ví đó cho thấy những phiến đã ở nơi Côn Sơn đã trở thành chiếu thảm, nơi nghỉ ngơi để ngắm cảnh suối rừng. Hình ảnh “đá rêu phơi” tạo nên một sức sống mãnh liệt của cảnh vật nơi đây, trên những phiến đá lại mọc lên những rêu xanh mướt giống như những tiên cảnh Ví với “chiếu êm” còn cho thấy sự bình yên của khung cảnh nơi đây, người thi sĩ có thể ngồi xuống và thả mình vào không khí trong lành, thanh mát của núi rừng Côn Sơn. Cảnh đẹp thứ ba trong bức tranh thiên nhiên Côn Sơn là hình ảnh cây thông:

“Trong ghềnh thông mọc như nêm

Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm”

Hình ảnh cây thông tạo nên sự cao lớn và rộng rãi của không gian, những cây thông bát ngát như những chiếc lọng xanh phủ bóng, bóng của cây thông và màu xanh mát ấy chở che cho ta nghỉ ngơi. Cuối cùng là vẻ đẹp của rừng trúc:

“Trong rừng có trúc bóng râm

Trong màu xanh ngát ta ngâm thơ nhàn”

Lại một màu xanh nữa, màu xanh của trúc đã góp phần tạo nên một màu xanh trùng điệp nơi khung cảnh Côn Sơn,  một màu xanh mát rượi là những bóng mát nghỉ chân, tha hồ ngâm nga. Những cây trúc còn thể hiện cho sự trường tồn và sức sống mạnh mẽ của rừng núi Côn Sơn.

Như vậy, đoạn “Bài ca Côn Sơn” đã cho người đọc cảm nhận được vẻ đẹp của núi rừng Côn Sơn, bằng bút pháp miêu tả vô cùng tinh tế và sống động của Nguyễn Trãi, Côn Sơn hiện lên như một thắng cảnh, một bức tranh tứ bình về thiên nhiên.

Bài văn phân tích tác phẩm “Bài ca Côn Sơn” số 6

Bài văn phân tích tác phẩm “Bài ca Côn Sơn” số 5

Bài văn phân tích tác phẩm “Bài ca Côn Sơn” số 6

Côn sơn ca của Nguyễn Trãi là một bài thơ nguyên tác bằng chữ Hán viết theo thể thơ khác và dài. Ở đây, chúng ta được học một đoạn dịch theo thể thơ lục bát mang vóc dáng thơ ca dân tộc:

Nguyễn Trãi là người có công rất lớn trong việc phụ tá vua Lê lợi cầm quân đánh giặc Minh xâm lược thế kỉ XV. Nhưng khi hòa bình được lập lại, đất nước đi vào công cuộc xây dựng và phát triển thì ông bị quan nịnh thần ghen ghét, nghi ngờ. Đang làm quan, Nguyễn Trãi xin cáo quan về ở ẩn. Trong thời gian đó, có lẽ Nguyễn Trãi đã viết nên bài thơ Côn Sơn ca. Với Nguyễn Trãi, Côn Sơn là vùng đất gắn bó bằng nhiều kỉ niệm từ thuở ấu thơ đến lúc tuổi già. Nơi đây có núi non hùng vĩ, cây cối tốt tươi, sơn thủy hữu tình.

Đây là đất được phong của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, ông ngoại của Nguyễn Trãi. Cha ông từng đến dạy học ở nơi đây, rồi kết duyên với tiểu thư con gái quan tư đồ. Bản thân Nguyễn Trãi cũng đã nhiều năm tuổi trẻ sống ở đây. Khi cáo quan, Nguyễn Trãi về với Côn Sơn như về với nơi chôn nhau, cắt rốn, về với bạn bè tri kỉ tri âm. Mỗi hòn đá, gốc cây, ngọn suối, đất nước và mây trời Côn Sơn gắn bó với người anh hùng, vị danh nhân văn hóa thế giới bằng tình cảm máu thịt. Vì thế, Côn Sơn ca là tiếng nói cất lên từ trái tim sâu nặng, tha thiết của Nguyễn Trãi.

Trước hết chúng ta cần hiểu đại từ “ta” trong đoạn thơ là để chỉ ai? “ Ta” chính là Nguyễn Trãi. Trong đoạn thơ tám dòng lục bát mà xuất hiện năm lần đại từ ta. Ta hiện ra liền mạch, nối tiếp trong những dòng thơ sáu âm tiết, riêng dòng thứ sáu, “ta” điệp hai lần liền : “ ta lên ta nằm”. Nếu để ý sẽ thấy kết cấu đoạn thơ khá chặt chẽ. Câu sáu tả cảnh, câu tám xuất hiện “ta” với những hành động cụ thể mang ý nghĩa tác giả tự họa chân dung mình. Điều đó gợi cảm giác giữa thiên nhiên cây rừng, đá núi, suối reo của Côn Sơn , hình ảnh Nguyễn Trãi thấp thoáng, đan cài, vấn vít, hòa quyện không phút nào rời xa. Con người và thiên nhiên như muốn nhập làm một, tạo thành sự sống toàn cảnh cho Côn Sơn. Sống giữa Côn Sơn, Nguyễn Trãi đã nhìn ngắm, suy ngẫm và làm những việc việc gì? Đoạn thơ chia làm hai đoạn nhỏ thể hiện hai khía cạnh nội dung:

Nghe tiếng suối rì rầm, nhà thơ tưởng tượng ra tiếng đàn khi trầm, khi bổng, réo rắt bên tai. Nhìn thấy mặt đá phẳng có rêu phơi, nhà thơ ngồi trên đá mà ngỡ như đang “ ngồi chiếu êm”. Trí tưởng tượng và nghệ thuật so sánh của những vật dụng của con người, gần gũi, thân thương với con người. Đôi tai nhạy cảm của thi sĩ đã thổi hồn vào tiếng suối, khiến cho nó vốn đơn điệu trở thành cây đàn đa thanh, cuốn hút. Xúc giác tinh tế của nhà thơ đã hóa cho mặt đá vốn khô rắn thành mặt chiếu dịu êm. Những biến đổi ấy kì diệu làm sao! Nguyễn Trãi đã thưởng thức những nét đẹp ấy ở Côn Sơn một cách say mê, hào hứng. Đến bốn câu thơ sau, niềm say mê hào hứng ấy tiếp tục được đẩy lên cao hơn:

Câu năm và câu sáu tiếp tục nghệ thuật so sánh tài hoa và một cử chỉ thanh thản tuyệt vời. Đọc thơ, ta ngỡ Nguyễn Trãi đang nằm giữa một rừng thông xanh ngắt, mát rợp, thả hồn trong sắc màu của cỏ cây, đắm chìm trong bóng râm, gió thoảng, ngủ một giấc ngon lành, để quên hết sự đời, rũ bỏ mọi vướng bận, để hóa thân vào hư không, vũ trụ. Nhưng đến hai câu cuối thì bất ngờ thay, Nguyễn Trãi không ngủ, trái lại ông đã cất tiếng ngâm thơ, những bài “thơ nhàn”.

Tóm lại, đoạn thơ tám dòng của bài Côn Sơn ca cho ta thấy một sự giao hòa tuyệt đối giữa Nguyễn Trãi với cảnh vật Côn Sơn. Sự giao hòa đó vừa nói lên nhaanh cách thanh cao, vừa nói lên phẩm chất thi sĩ lớn lao của Nguyễn Trãi và tất cả là dựa trên một triết lý sâu xa: con người và thiên nhiên là một, muốn sống thanh thản, con người hãy đến với thiên nhiên, tìm ở thiên nhiên những vẻ đẹp, những biến đổi kì diệu để có cách ứng xử đúng nhất…

Bài văn phân tích tác phẩm “Bài ca Côn Sơn” số 4

Bài văn phân tích tác phẩm “Bài ca Côn Sơn” số 5

Nguyễn Trãi là một nhà thơ có tính cách vô cùng đặc sắc và có tâm hồn sâu sắc. những tác phẩm của Nguyễn trãi đều thể hiện tình yêu thiên nhiên, tình yêu con người. một trong những tác phẩm thể hiện sâu sắc tình yêu thiên nhiên sâu sắc của Nguyễn Trãi là tác phẩm “ Bài Ca Côn Sơn”.

Bài thơ là bài ca giao cảm với thiên nhiên, cũng là bài ca tâm trạng thế sự, triết lý cuộc đời, về nhân sinh. Bởi Nguyễn Trãi  là một người dành cả cuộc đời của mình để lo cho nước cho dân nhưng đến những năm cuối đời ông lại sống trong dự đố kị ghen ghét của đám nịnh thần.Vì thế khi ông trở về Côn Sơn ông như con chim sổ lồng mà bấy lâu nay ông không được tung cánh,cảm thấy mình thật sự tự do giữa bầu trời rộng lớn hơn lúc nào hết như  lúc này đây ông mới được sống là chính mình và chính mình hưởng thụ:

Tiếng nước chảy róc rách mà nhà thơ thích thú “ cho là đàn cầm”. Nhạc của suối như để mua vui những tháng ngày ở ẩn. Ẩn dụ “ đàn cầm” biểu lộ niềm vui giao cảm với suối, coi suối là mảnh tâm hồn của “ ta”. Một hình ảnh so sánh liên tưởng đầy thú vị khiến ta không khỏi ngỡ ngàng. Nguyễn Trãi trở về Côn Sơn không phải là để ẩn dật theo đúng nghĩa của cách sống ẩn dật, mà ông trở về Côn Sơn với nỗi hân hoan đầy tự do của một con người trở về nhà mình.

Trong bốn câu đầu cảnh vật hiện lên với dòng suối chảy róc rách,rì rầm như tiếng đàn lúc khoan,lúc nhặt.Trên tảng đá có phủ một lớp rêu xanh được tác giả nhân cách hóa thành như ngồi trên chiếu êm.Cảnh vật nơi đây được Nguyễn Trãi phác họa với những đặc điểm riêng biệt mà nó không hề bị trộn lẫn với bất cứ một bức tranh phong thủy nào. Nếu như bốn câu thơ đầu là cảnh thiên nhiên Côn Sơn được miêu tả khách quan thì ở bốn câu thơ sau tác giả lại khéo léo luồn vào những lời khuyên xuất thế.

Côn Sơn du dương cuốn hút lòng người.Thiên nhiên côn sơn khoáng đạt và thanh tĩnh ở đây có suối chảy rì rầm,có bàn đá rêu phơi,có rừng tùng,rừng trúc che ánh nắng mặt trời tạo ra một khung cảnh tao nhã cho thi sĩ ngồi ngâm thơ thưởng thức âm vị cuộc sống.hình ảnh cây trúc,cây tùng trong văn chương tượng trưng cho khí phách cứng cỏi của người quân tử: Bần tiện bất năng di,uy vũ bất năng khuất. Suối, đá, thông, trúc là nơi nương tựa, nâng đỡ tâm hồn, là đối tượng để thi nhân giao hòa, giao cảm để cho “ ta là đàn cầm”, “ ta là đệm chiếu”,…

Hình tượng thơ là âm thanh của khúc nhạc rừng, là màu xanh bất tận của núi rừng, của thiên nhiên, của sự sống, tất cả đã gắn liền với cảm giác, với tâm hồn Ức Trai bằng bao liên tưởng thiết tha, đằm thắm. Chữ “ ta” được lặp lại nhiều lần trog bài thơ đã tạo nên âm điệu du dương, trầm bổng, thiết chúng tôi là chủ thể trữ tình, là Ức Trai tiên sinh. Thiên nhiên là ta, ta cũng là thiên nhiên, suối, đá, thông, trúc của Côn Sơn với Nguyễn Trãi cũng chỉ là một.

Bài ca Côn Sơn là một bài thơ nêu lên cảnh thiên nhiên vô cùng sâu sắc và rất đẹp của nhà thơ. Đồng thời thể hiện nên tấm lòng yêu thiên nhiên của của tác giả và thể hiện tâm hồn nhân văn của tác giả. Có thể nói “ Bài ca Côn Sơn” là bài ca của sự sống, sự sống được ướp đượm hương sắc của suối rừng đất nước quê hương.

Bài văn phân tích tác phẩm “Bài ca Côn Sơn” số 4

Bài văn phân tích tác phẩm “Bài ca Côn Sơn” số 3

Bài văn phân tích tác phẩm “Bài ca Côn Sơn” số 4

Nguyễn Trãi nhà văn hóa, nhà thơ lớn của dân tộc. Ông để lại số lượng tác phẩm đồ sộ, phong phú. Bên cạnh những tác phẩm thể hiện lòng yêu nước, thương dân thiết tha còn có một mảng sáng tác khác thể hiện tâm hồn rất thi sĩ của ông đó là mảng đề tài sáng tác về thiên nhiên, qua đó thể hiện lòng yêu thiên nhiên, cảnh vật ở mỗi vùng quê khác nhau. Côn sơn ca là một bài thơ như vậy.

Bài ca Côn Sơn được Nguyễn Trãi viết bằng chữ Hán với thể thơ khác, khi dịch được viết bằng thể thơ lục bát, một thể thơ thuần dân tộc. Tác phẩm nhiều khả năng được sáng tác vào thời gian Nguyễn Trãi bị chèn ép phải cáo quan trở về ở ẩn tại Côn Sơn. Nhưng trong bài thơ vẫn nổi bật lên là tình yêu thiên nhiên, cảnh vật sâu sắc của tác giả.

Viết về Côn Sơn trong sáng tác của Nguyễn Trãi có rất nhiều, nhưng ít có bài nào lại miêu tả cụ thể và chi tiết về Côn Sơn như vậy. Trong đoạn thơ được trích, cảnh vật Côn Sơn được miêu tả khá đầy đủ: dòng suối, phiến đá, rừng tùng, rừng trúc. Điều đặc biệt khi miêu tả Côn Sơn tác giả đã vận dụng hết các giác quan để cảm nhận đầy đủ vẻ đẹp của nó: cảm nhận bằng âm thanh (rì rầm); cảm nhận bằng xúc giác (ngồi trên đá rêu như ngồi trên chiếu êm); cảm nhận bằng thị giác (màu xanh của rừng trúc) kết hợp với đó là biện pháp so sánh: như tiếng đàn cầm, như chiếu êm, như nêm đã gợi ra khung cảnh thiên nhiên lâu đời, nguyên thủy, tạo ra cảm giác thanh cao, mát mẻ, trong lành.

Côn Sơn đã được Nguyễn Trãi cảm nhận bằng sự hiểu biết, bằng tâm hồn thiết tha yêu quý, bởi vậy nó mang một vẻ đẹp sống động, đầy ắp âm thanh, đậm đà màu sắc, giàu chất nhạc, chất họa. Qua những cảm nhận đó ta còn thấy được những sáng tạo độc đáo của ông trong bút pháp thể hiện. Nhà thơ đã lấy âm thanh của con người để ví với âm thanh của tiếng suối, khiến cho âm thanh đó trở gần gũi, ấm áp hơn. Thiên nhiên còn đáp ứng tất cả các yêu cầu khác của con người: nghe, nằm, ngâm thơ,… kết hợp với đại từ ta, khẳng định tư thế làm chủ trước thiên nhiên của con người. Nhưng đằng sau đó vẫn là sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên, đến với thiên nhiên để tìm lại cảm giác thanh tĩnh, yên bình cho bản thân.

Qua bức tranh phong cảnh Côn Sơn ta không chỉ thấy một Côn Sơn đẹp đẽ, trong lành mà còn thấy được tấm lòng của Nguyễn Trãi đối với nơi đây. Ông là người có lòng yêu thiên thiên tha thiết, hơn nữa còn cho thấy tâm hồn thanh cao, giàu cảm xúc và mang trong mình nhân cách trong sáng của một nhà thơ lớn.

Trong đoạn trích, tác giả đã vận dụng linh hoạt các biện pháp nghệ thuật, vẽ nên bức tranh Côn Sơn thật đẹp đẽ, trong trẻo. Sử dụng biện pháp liệt kê, so sánh (như ngồi chiếu êm, như nêm,…). Nhịp thơ đa dạng như bản nhạc, khiến cho cả bức tranh trở nên tươi vui, tràn đầy sức sống.

Bằng tình yêu thiên nhiên Côn Sơn tha thiết, Nguyễn Trãi đã khắc họa nơi đây thật trong trẻo, thanh bình. Con người và thiên nhiên hòa quyện làm một với nhau bắt nguồn từ nhân cách thanh cao, tâm hồn thi sĩ của chính Nguyễn Trãi.

Bài văn phân tích tác phẩm “Bài ca Côn Sơn” số 2

Bài văn phân tích tác phẩm “Bài ca Côn Sơn” số 3

Từ xưa đến nay, đề tài thiên nhiên trong thơ ca cổ thường rất phong phú. Các nhà thơ Việt Nam thời trung đại đã viết nhiều áng thơ hay về vẻ đẹp của quê hương, trong đó có Nguyễn Trãi, nhà thơ tài hoa, cũng là vị anh hùng xuất sắc của dân tộc ta, đã sáng tác “Bài Ca Côn Sơn” trong những ngày ông về ở ẩn nơi quê nhà. Bài thơ vừa khắc họa cảnh thiên nhiên yên tĩnh, trong lành, vừa bộc lộ những cảm xúc đẹp của thi sĩ khi ngắm nhìn rừng núi quê hương:

Trong màu xanh ngát ta ngâm thơ nhàn”

Bài thơ vốn được viết bằng chữ Hán nhưng đã được dịch ra tiếng Việt với thể thơ lục bát du dương, uyển chuyển. Bản dịch được đánh giá là hay, thể hiện đầy đủ xúc cảm của nguyên tác. Mở đầu bức tranh Côn Sơn là một âm thanh êm đềm:

Nhà thơ cảm nhận thiên nhiên trước hết bằng thị giác, và từ đó, đối tượng trữ tình là phong cảnh Côn Sơn hiện ra rất tao nhã, yên tĩnh. Âm thanh tiếng suối của thiên nhiên được so sánh với “tiếng đàn cầm bên tai”. Tiếng đàn thánh thót thường thể hiện cảm xúc và tâm trạng của người nghệ sĩ. Còn tiếng suối kia, phải chăng là tiếng của núi rừng êm êm tâm tình cùng người thi sĩ? Tả tiếng suối bằng tiếng đàn là một cách miêu tả thật độc đáo, ta có cảm giác như nhân vật trữ tình đang say sưa thưởng thức âm thanh đó như thưởng thức nghệ thuật tuyệt đỉnh của mẹ thiên nhiên.

Về sau này, nhà thơ Hồ Chí Minh cũng có lần tả “Tiếng suối trong như tiếng hát xa”, cũng là so sánh một âm thanh của tự nhiên với một âm thanh du dương do con người tạo ra. Hai nhà thơ ở hai thời đại khác nhau đều gặp gỡ ở tình yêu thiên nhiên tha thiết, nhưng tiếng suối – đàn cầm của Nguyễn Trãi thì đẹp một cách cổ điển, còn tiếng suối – tiếng hát của Hồ Chí Minh thì đẹp hiện đại, lấp lánh trẻ trung… Thế đấy, nhà thơ tả tiếng suối để khắc họa không gian yên tĩnh, đây là nghệ thuật lấy động tả tĩnh. Và giữa không gian ấy là hình ảnh:

Nhà thơ tả “đá” mới thật độc đáo làm sao: Ông cảm nhận đá qua màu rêu đã phơi nắng phơi mưa qua bao ngày bao tháng. Hình ảnh ấy khiến người đọc có cảm giác rằng đá Côn Sơn đã bao lâu “trơ gan cùng tuế nguyệt”. Có lẽ nó mang trong mình chiều dài năm tháng và bề dày của những trang lịch sử, là hình ảnh của một thiên nhiên lâu đời, nguyên thủy mà nhà thơ mến yêu và gắn bó. Chính vì vậy, Nguyễn Trãi “ngồi trên đá như ngồi chiếu êm”.

Lại là nghệ thuật so sánh rất đặc sắc, đưa thiên nhiên trở nên gần gũi vô cùng. Côn Sơn như ngôi nhà lớn, mà thảm rêu phơi kia đã trở thành chiếu êm của con người, giúp cho nhân vật trữ tình thảnh thơi ngồi nghỉ, để viết lên những vần thơ hay, êm êm như cảnh Côn Sơn. Côn Sơn còn có những rừng thông tươi xanh bốn mùa, để nhà thơ hòa mình sảng khoái:

“Trong rừng thông mọc như nêm

Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm.”

Người xưa thường yêu thông, vì nó là loài cây không sợ sương tuyết, cứ xanh tươi và mọc thẳng bất chấp phong ba. Hình ảnh rừng thông khiến cho cảnh Côn Sơn trở nên hùng tráng, với cách so sánh giản dị “thông mọc như nêm”. Cánh rừng thông ấy không bao giờ gục ngã trong bão gió, đây là nét đẹp của sức sống, của niềm tin. Phải chăng ẩn ý của nhà thơ là như vậy? Rồi, con người xuất hiện dưới bóng mát rừng thông, trong một hành động thể hiện tâm thế thoải mái, thân thuộc là “ta lên ta nằm”.

Rừng và thi nhân hài hòa trong một mối gắn bó mật thiết, bóng thông mát rượi che cho nhà thơ say giấc nồng ban trưa. Người đọc như cảm nhận được một tâm hồn dạt dào thi hứng và yêu mến thiên nhiên quê hương của Nguyễn Trãi.  Côn Sơn không phải chỉ có thông reo, mà còn có rừng trúc tươi đẹp, hiền hòa, làm say đắm cả lòng người:

Trong màu xanh mát, ta ngâm thơ nhàn.

Cây trúc là loài cây đặc trưng của nhiều vùng quê Việt Nam. Có lẽ ở Côn Sơn thì trúc mọc thành rừng, nên nhà thơ dùng những cụm từ gợi tả như: “trúc râm”, “màu xanh mát” để vẽ lên cảnh đẹp. Trúc tượng trưng cho người quân tử trong thơ ca cổ, và cũng gợi lên những ý nghĩa tốt lành nhất. Nhà thơ Nguyễn Khuyến khi viết về quê ông, vùng đồng bằng Bắc Bộ cũng điểm xuyết và hình bóng tương đẹp của trúc: “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”. Trở về với Nguyễn Trãi, dưới bóng trúc, nhà thơ “ngâm thơ nhàn” thì thật là thú vui thanh cao, nguồn tưới tươi mát cho tâm hồn con người. Giọng ngâm thơ sang sảng khiến cho rừng trúc càng xanh, càng đẹp!

Bút pháp miêu tả bức tranh Côn Sơn của Nguyễn Trãi thật tài tình: hình ảnh thơ tươi đẹp, liên tưởng thú vị độc đáo, hình ảnh thiên nhiên và con người sóng đôi một cách tự nhiên… Từ đó, ta thấy được sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên, và nhân cách thanh cao, ung dung của nhà thơ tỏa sáng trên từng câu chữ. “Bài ca Côn Sơn” không phải chỉ là một bức tranh đẹp, nó quả thật còn là một bản nhạc về tình yêu thiên nhiên và niềm hạnh phúc khi được ngắm nhìn vẻ đẹp thiên nhiên quê hương của nhà thơ.

Bài văn phân tích tác phẩm “Bài ca Côn Sơn” số 1

Bài văn phân tích tác phẩm “Bài ca Côn Sơn” số 2

Nguyễn Trãi một người quân sư tài ba, một nhà thơ lớn của dân tộc. Ông không trực tiếp đánh giặc nhưng qua ngòi bút của mình ông đã làm lung lay biết bao nhiêu quân xâm lược khiến cho chúng không cần đánh cũng đã thua rồi. Căn bản là ở sự chính nghĩa của ta và ngòi bút sắc sảo không thể chối cãi được của Nguyễn Trãi. Tuy nhiên thì chúng ta không chỉ biết đến ông hùng hồn sắc sảo trong Bình Ngô đại cáo mà còn biết đến sự nhẹ nhàng của thiên nhiên trong Côn Sơn ca của ông. Có thể nói ông viết thơ ca chính luận cũng hay mà đến thơ ca thiên nhiên cũng hay không kém.

Bài thơ này được viết vào những năm Nguyễn Trãi về quê ở ẩn. Những năm tháng ấy ông sống trong cảnh thiên nhiên của Côn Sơn. Bài thơ như những nốt nhạc thanh thản của Nguyễn Trãi sau khi cáo quan trường về sống với làng quê thiên nhiên. Bức tranh thiên nhiên Côn Sơn hiện lên thật đẹp qua cảm nhận của tác giả. Chúng ta như đắm chìm cùng những sắc đẹp nơi đây:

“Côn Sơn suối chảy rì rầm,

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.

………

Trong rừng có bóng trúc râm,

Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn.”

Bức tranh thiên nhiên ấy hiện lên với âm thanh, màu sắc, hình ảnh rất đẹp. Chỉ có trong mấy câu thơ mà tác dụng sử dụng đến ba phép so sánh nhằm nhấn mạnh những vẻ đẹp thiên nhiên nơi đây. Tiếng suối Côn Sơn không giống như tiếng hát của người con gái trong Cảnh khuya, Hồ Chí Minh đã nói: “Tiếng suối trong như tiếng hát xa”.

Mà tiếng suối ở đây được ví như tiếng đàn cầm du dương bên tai, trong rừng rêu trên đá khiến cho nhà thơ ngồi trên đó cảm giác giống như là đang ngồi trên đệm êm. Những bóng trúc râm và những cây thông cao vút. Có thể nói nơi đây từ màu sắc xanh của cây rừng đến những tiếng suối rì rầm kia giao hòa với tâm hồn người nghệ sĩ. Dưới sự thoải mái của tâm hồn cũng như thanh thản tươi đẹp của thiên nhiên nhà thơ cất lên những câu thơ như ngâm nga trong khoảng không gian ấy.

Thông được so sánh như nêm để cho thấy được ở Côn Sơn những cây thông ấy quả thật rất nhiều. Phải chăng chính sự dày đặc của thông của trúc là nơi che chở tâm hồn nhà thơ tránh khỏi những bụi trần? Cũng có thể những cây thông kia là những người tri kỉ bầu bạn với nhà thơ. Là một người nghệ sĩ thì thiên nhiên cảnh đẹp luôn làm cho người ta thoải mái và thăng hoa. Chính vì thế mà thiên nhiên chính là những gì mà nhà thơ tìm thấy được khi về quê ở ẩn. Nhà thơ đang vui say như thế nhưng giọng thơ bỗng nhiên như trùng lại vì những câu thơ tiếp theo nhà thơ bỗng trầm ngâm tự nói với mình, tự nhắc nhở mình:

“Về đi sao chẳng sớm toan,

Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi?

Hai đàng khó sánh hiền ngu,

Đều làm cho thỏa được như ý mình. ”

Nhà thơ như thể hiện sự đúng đắn của mình khi cáo quan về ở ẩn. Nửa đời làm quan Nguyễn Trãi bị những nịnh thần chèn ép. Chính vì thế mà ông chán ghét cảnh quan trường sự tận trung của ông như thế được coi là đã đủ. Câu hỏi “Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi?” như lời tự nhắc nhở của nhà thơ đối với chính bản thân mình. Nhà thơ cũng giống như Nguyễn Bỉnh Khiêm “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn người đến chốn lao xao”. Để về được Côn Sơn một cách thật sự thì Nguyễn Trãi cũng phải trải qua biết bao nhiêu lần được vua mời ra làm quan. Ông tự cảm thấy vừa mừng vì được vua tín nhiệm nhưng cũng vừa sợ trước cảnh quan trường nhiều thủ đoạn bon chen.

Ông quả thật là một người “nhân nghĩa quá, trung thực quá, thanh liêm quá…” (Phạm Văn Đồng). Và phải chăng đó chính là bi kịch giằng xé trong Nguyễn Trãi. Ông muốn giúp nước giúp vua nhưng lại không muốn chịu cảnh quan trường bon chen hãm hại lẫn nhau. Điều đó làm cho lương tâm ngay thẳng của ông không thể chấp nhận được. Mà một khi đã không còn thích với chốn quan trường ấy thì nhất quyết là không thể làm được gì. Thế rồi nhà thơ nói về quy luật ở đời. Đồng Trác đời Đông Hán, Nguyên Tải đời Đường kia đều có những công danh, vinh hóa phú quý cả một đời thế nhưng khi chết lại để lại tiếng xấu, còn Bá Di thúc tề đời Ân, Chu thà nhịn đói cũng không lấy thóc.

Hai cách sống, hai cách lựa chọn khác nhau ấy đã làm nổi bật lên quan điểm sống của Nguyễn Trãi đã chọn. Đó là thà có ăn uống nước lã đi chăng nữa mà để lại tiếng thơm muôn đời còn hơn là phú quý giàu sang để rồi để một đời ô nhục không bao giờ hết. Chung quy sự “hiền, ngu” ở đời đều là để thỏa ý mình mà thôi. Và cũng chính từ những suy nghĩ ấy Nguyễn Trãi như thể hiện cuộc đời triết lý nhân sinh của mình:

“Trăm năm trong cuộc nhân sinh,

Người như cây cỏ thân hình nát tan.

……….

Sào, Do bằng có tái sinh,

Hãy nghe khúc hát bên ghềnh Côn Sơn. ”

Nhà thơ ví thân phận của con người chẳng khác nào cây cỏ cả rất dễ nát tan, dễ bị dẫm đạp. Quan điểm triết lý ấy chưa hẳn là bi quan mà nó nói lên cái mong manh của sự sống chết của con người. Nó giống như câu thơ “Sông có khúc, người có lúc”. Thân phận con người không thể lúc nào cũng hiển đạt sung sướng được vì thế cho nên cũng giống như cây cỏ kia con người có lúc giàu sang hạnh phúc nhưng cũng có lúc nghèo khổ ô nhục.

Cái sự tốt tươi kia thay đổi tuần hoàn. Nguyễn Trãi viết “Côn Sơn ca” trước bao lâu vụ án Lệ Chi Viên xảy ra? Tâm trạng thời thế, triết lí về cuộc đời mà Nguyễn Trãi nói đến trong phần hai bài ca là cả một nỗi buồn thấm sâu, tỏa rộng trong tâm hồn nhà thơ. Suy cho cùng thì dẫu có hiển đạt hay nhục nhã thì khi chết đi con người cũng chẳng biết gì nữa. Đặc biệt là hai câu thơ cuối của tác giả đã thể hiện được sự thiết tha của Nguyễn Trãi:

“Sào, Do bằng có tái sinh,

Sài Phủ, Hứa Do đều là những vị quan thanh liêm thời vua Nghiêu Trung Quốc. Cả hai người ấy đều không màng danh lợi mà quyết định sống một cuộc đời ẩn dật chính vì thế mà nhà thơ như học tập những con người như thế. Và bằng tiếng gọi tha thiết nhà thơ như muốn nếu họ tái sinh thì hãy nghe khúc hát bên ghềnh Côn Sơn. Bài ca ấy thể hiện nỗi niềm của nhà thơ và phải chăng nhà thơ như muốn tìm những người tri kỉ, những người có thể hiểu được bản thân mình.

Như vậy qua đây ta thấy được những tâm tư tình cảm của Nguyễn Trãi qua bài thơ này. Nhà thơ về quê ở ẩn đắm chìm trong không gian cảnh vật nơi Côn Sơn, thiên nhiên ấy giống như tri kỉ của nhà thơ vậy. Hồn thơ cùng với thiên nhiên như hòa vào làm một. Đặc biệt qua đó ta cũng thấy được những quan điểm suy nghĩ của nhà thơ về sự “hiền, ngu” trong cuộc đời.

Bài văn phân tích tác phẩm “Bài ca Côn Sơn” số 1

Tác phẩm như một bức tranh với vẻ đẹp hấp dẫn, nên thơ của thiên nhiên Côn Sơn và tâm hồn, nhân cách thanh cao, sống hòa hợp với thiên nhiên của Nguyễn Trãi.

Đăng bởi: Quyền Huỳnh

Từ khoá: 10 Bài văn phân tích tác phẩm “Bài ca Côn Sơn” của Nguyễn Trãi

Những Khu Vườn Đà Lạt Đẹp Như Trong “Truyện Cổ Tích”

Hẳn trong chúng ta, ai cũng đều muốn có một mảnh vườn nhỏ, để những ngày nông nhàn “mình nuôi thêm cá và trồng thêm rau”. Người dân Đà Lạt cũng vậy, họ vun xới từng mảnh đất, thửa ruộng trồng nên những mảnh vườn xinh xắn thu hút khách du lịch gần xa.

Cùng chúng tôi điểm danh những khu vườn Đà Lạt xinh xắn, là điểm check-in sống ảo của những bạn trẻ khi du lịch Đà Lạt nhé!

Hoa Sơn Điền Trang

Những điểm chụp hình “ảo tung chảo” trong Hoa Sơn

Hoa Sơn Điền Trang cách thành phố Đà Lạt không quá xa, chỉ cần chạy xe khoảng 7km về hướng đường Hoàng Văn Thụ và Cam Ly, tỉnh lộ 725 nằm trên đèo Tà Nung, thuộc tiểu khu 159, phường 5. Đến đây, bạn sẽ cảm nhận được khí trời như xộc vào từng làn hơi thở, cảnh sắc thiên nhiên cùng với những cảnh sắc được con người tạo nên, làm từng khung cảnh đều trở nên huyễn hoặc.

Hình ảnh trong Hoa Sơn được chia sẻ

Đến Hoa Sơn Điền Trang bạn không nên bỏ qua những điểm check-in đẹp nín thở như Bàn Tay Phật, cây Đa ngàn năm, Cổng Trời, những gốc hoa Anh Đào nở rộ vào tháng 1, cánh đồng hoa Tam Giác Mạch, khu vườn hoa Hồng Cổ Sapa. Nếu bạn muốn nghỉ qua đêm để ngắm trọn vẹn cảnh đất trời thì đừng quá lo lắng, dich vụ thuê đồ cắm trại trên thác 7 tầng trong Hoa Sơn sẽ phục vụ bạn tận răng, hoặc bạn cũng có thể thuê Nhà gỗ trên cây để ngắn bình minh tuyệt đẹp.

Chi phí vào cổng dành cho người lớn là 30k, trẻ em 10k và trẻ nhỏ dưới 1 mét sẽ được miễn phí nhé.

Mộc Trà Farm

Tách trà nóng thơm còn đang chờ bạn…

Nếu bạn đang tìm kiếm một địa điểm dành cho cả nhóm ngắm những cánh rừng bạt ngàn, không gian thoáng đãng bên tách trà thơm phức, cùng không gian đậm chất Hàn Quốc thì Mộc Trà farm chính là điểm đến bạn không nên bỏ qua. Tọa lạc tại số 073/4 Trường An, Cầu Đất, Xuân Trường, tp Đà Lạt, Lâm Đồng – cách chợ Đà Lạt 40 phút đi xe máy, không quá khó để bạn có thể tìm ra.

Con đường Hàn Quốc

Điều làm nên sự đặc biệt của Mộc Trà farm chính là khu rừng Hồng. Những trái Hồng thơm phức đến mùa trĩu quả làm cảnh sắc xung quanh khoát lên màu vàng cam óng ánh, hòa quyện cùng với đất trời. Bên cạnh đó, khu vườn Cúc Họa Mi trong trẻo càng điểm tô thêm cho bức tranh xứ sở thần tiên diệu kỳ.

Con đường nhỏ dẫn đến Mộc Trà farm

Bên trong Mộc Trà farm

Sự yên bình, nên thơ, mộc mạc với cách bày trí đơn giản từ quán đến cảnh sắc xung quanh giúp bạn xua tan những mệt nhoài, căng thẳng; Tận hưởng sự thanh bình giữa thiên nhiên hữu tình.

Fresh Garden

Góc nhỏ trong cánh đồng hoa Fresh Garden

Fresh Garden nằm trong làng hoa Vạn Thành nức tiếng xưa nay của Đà Lạt. Những cánh đồng hoa trải dài đến tận chân trời, hệ thống rau thủy canh xanh mướt, ngôi nhà hoa… như đưa bạn vào thiên đường quên lối về.

Cối xay gió, điểm check-in của nhiều bạn trẻ khi đến Fresh Garden

Cách trung tâm thành phố Đà Lạt 3km, Fresh Garden nằm ở số 90B Vạn Thành, Phường 5, Thành phố Đà Lạt, Fresh Garden như một điểm nhấn giữa muôn vạn điểm đến thú vị khác tại thành phố này. Sự thư thái cùng cảnh quan thiên nhiên trù phú kết hợp với bàn tay nghệ nhân tạo nên những công trình đặc sắc, tạo nên hương sắc tươi mới cho thành phố vốn được thiên nhiên ưu đãi này.

Fresh Garden nằm gần nhiều địa điểm tham quan khác tại Đà Lạt như Hoa Sơn Điền Trang, chùa Linh Ẩn, làng hoa Vạn Thành, thác Voi nên cũng dễ dàng cho bạn có thể đến đây tham quan và ghé những địa điểm khác.

Vé vào cổng là 50k cho một bạn, mở cửa tất cả các ngày trong tuần

Secret Garden

Lạc giữa rừng Thông, bạn chợt nhận ra thiên đường ngay trước mắt. Bãi cỏ xanh rì, hồ nước trong veo, trông đầy ma mị nhưng cũng đậm chất ngôn tình. Tất cả những cảnh vật đó khiến bạn vừa rạo rực như bước vào chốn mơ mộng, nhưng cũng kịp kéo chân về với vô vàng khung cảnh xịn xò, không thể bỏ lỡ.

Hồ nước trong veo như chiếc gương soi chiếu cảnh trời

Secret Garden hiện lên như một bức tranh Thủy Mặc được chắp bút bởi sự giao hòa của trời đất, núi non pha một ít sự suy tư, thơ mộng của xứ sương mù.

Cạnh hồ Tuyền Lâm, dưới chân Thiền viện Trúc Lâm, chốn thú vị nhưng không quá khó tìm này là nơi thu hút rất nhiều bạn trẻ đến để hòa mình vào thiên nhiên, cảnh sắc đất trời, được một lần trải nghiệm những bí mật chưa được bật bí của khu vườn này.

Điểm check-in yêu thích của những bạn trẻ

Được xây dựng nên bởi những con người Đà Lạt, Secret Garden thể hiện sự yêu thương của chủ nhân đối với thiên nhiên khi tận dụng hết những gì thiên nhiên ban tặng và xây dựng nó trở thành điển đếnm ưu thích của những bạn trẻ yêu thích khám phá.

Địa chỉ: Unnamed Road, Phường 4, Thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng

Rừng thông Secret Garden

Vườn Yêu

Hình ảnh checkin Vườn Yêu

Tọa lạc trên đường Hoàng Hoa Thám, trung tâm của thành phố Đà Lạt, vườn yêu hiện lên như một bức tranh sơn thủy hữu tình, một bên là phong cảnh thiên nhiên tuyệt mỹ, một bên là hồ Xuân Hương uốn lượn, ôm trọn thành phố vào lòng. Đến Vườn Yêu, bạn như lạc vào thiên đường với những điểm check-in được chủ quán sắp đặt một cách tinh tế.

Nhâm nhi một ly cafe nóng, ngắm dòng người đi lại tấp nập dưới chân, một Đà Lạt hiện ra vô cùng hiền hoà, thơ mộng. Bỏ hết những ồn ào, tấp nập nơi phố thị phồn hoa, đến với Đà Lạt, đến với Vườn Yêu hãy tận hưởng những khoảnh khắc, không gian dành cho riêng mình.

Hình ảnh checkin Vườn Yêu

Lối thiết kế đơn giản, mộc mạc nhưng không kém phần sang chảnh của quán với chiếc siêu xe Lamborghini vàng óng cho bạn những bức ảnh đẹp nín thở.

Bạn cũng không nên bỏ qua cảnh quan bên ngoài, mỗi góc chụp được thiết kế với những ý tưởng khác nhau, nhưng tạo nên sự hài hòa cho tổng thể.

Quê Garden

Quê Garden

Nằm ngay chân đồi Mimosa, gần cánh đồng hoa, Quê Garden như một Nhật Bản thu nhỏ với những chậu Bonsai lá kim được chăm sóc tỉ mỉ. Khu vườn có diện tích khá rộng, bao phủ hoàn toàn bởi những vườn hoa khoe sắc quanh năm, tất cả được bao phủ bởi màu trời, màu mây và màu của cảnh sắc đất trời.

Hồ nước trong xanh, cánh rừng thông bạt ngàn hiện lên như chốn Bồng Lai giữa chốn nhân gian huyễn hoặc.

Sự kết hợp hài hoà giữa thiên nhiên và sự kiến tạo từ bàn tay của con người đã tạo nên một kiệt tác giữa đất trời. Không quá khó để bạn có được một bức ảnh check-in sang-xịn-mịn, hoà mình vào thiên nhiên ngay chốn thành thị, bắt gặp những tia nắng yếu ớt trong ngày còn vương trên những khóm hoa quanh hồ.

Bầu trời xanh, làn mây trắng, anh yêu nắng hay yêu em

Từ trên cao, phóng tầm mắt ra xa, những cánh đồng hoa nhiều màu sắc hiện lên trước mắt hòa quyện cùng âm thanh của sự thanh bình, hít một hơi thật sâu, mọi lo lắng dường như tan biến. Nếu bạn mỏi chân vì một ngày dài khám phá, quán cafe ngay hồ chính là lựa chọn hoàn hảo để kết thúc chuyến phiêu lưu.

Quê Garden mở cửa từ 7h đến 17h mỗi ngày. Giá vé vào cửa là 30k cho mỗi bạn.

Puppy Farm

Puppy Farm

Nếu bạn là Sen chính hiệu thì Puppy Farm là điểm đến không thể bỏ qua khi đến Đà Lạt. Được xây dựng từ sự yêu thương thú cưng, đặc biệt là boss. Tại đây có nuôi những dòng như Husky, Alaska, Curgy và nhiều dòng khác với vẻ ngoài rất ư là dễ thương.

Không gian Puppy Farm được thiết kế chan hoà với thiên nhiên, cảnh sắc hữu tình với những khu vườn bao bọc xung quanh. Từ ban công của quán, những cánh đồng hoa Hướng Dương nở rộ, Lavender e thẹn tím một góc trời. Còn gì tuyệt mỹ hơn khi chơi đùa cùng boss nhưng vẫn ngắm trọn cảnh sắc thiên nhiên hiện lên trước mắt.

Puppy Farm

Nông trại rau củ, hoa quả chính là điểm đến thứ 3 bạn không nên bỏ qua khi đến Puppy Farm, khi đến đây bạn thỏa sức khám phá quá trình sinh trưởng của những loại quả như Dâu Tây, Bí Ngô, Cà Chua và có cho mình những bức ảnh với những không gian được bày trí cẩn thận

Puppy Farm mở cửa từ 8h đến 17h mỗi ngày. Giá vé cho người lớn là 40k, trẻ em 20k.

Những địa điểm tham quan gần Puppy Farm: Fresh Garden, làng hoa Vạn Thành, Hoa Sơn Điền Trang.

Kombi Land

Kombi Land

Thanh Xuân trôi qua như một giấc ngủ mộng mị, như một nơi bạn gửi gắm giấc mơ nhưng khi tỉnh giấc cứ ngỡ hư không, thật thật ảo ảo. Kombi Land là giấc mộng mị ngây dại ấy. Cách bài trí trong Kombi Land thể hiện sự mạnh mẽ với những cây Xương Rồng gai góc trên bãi cát vàng mênh mông, bất tận. Chú robot nhỏ với ước mơ chinh phục vũ trụ và khám phá thế giới rộng lớn đã hoen màu thời gian.

Tất cả những điều đó được thể hiện khéo léo qua bàn tay sắp xếp của chủ nhân, một chốn hiện hữu như trong giấc mơ.

Kombi Land

Check in Kombi Land

Màu thiên thanh của trời với vài gợn mây không của tan được cái nắng chói chang của Đà Lạt những ngày mưa lạc lối. Nét bâng quơ, hồn nhiên của tuổi trẻ như một lần nữa được viết lại tại Kombi Land.

Không quá khác biệt, nhưng cũng đủ tạo ra sự tươi mới cho những bạn trẻ yêu thích khám phá, Kombi Land như một điểm đến thu hút với những khung cảnh cứ ngỡ đang ở sa mạc tận trời Phi. Hồ nước trong vắt như ốc đảo là nốt nhạc tươi mới trong bản nhạc du dương của cảnh sắc. Một bước để chạm đến giấc mơ thanh xuân, bạn còn chần chờ gì?

Nét hiền hòa pha chút phá cách tạo nên những bức tranh tuyệt sắc cho những điều làm nên Đà Lạt, làm nên điểm đến khiến giới trẻ mê đắm này.

Đăng bởi: Thảo Phạm

Từ khoá: Những khu vườn Đà Lạt đẹp như trong “truyện cổ tích”

Văn Mẫu Lớp 12: Phân Tích Tác Phẩm Rừng Xà Nu Của Nguyễn Trung Thành Dàn Ý & 14 Bài Phân Tích Rừng Xà Nu

Phân tích Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành

Dàn ý phân tích Rừng xà nu

Sơ đồ tư duy phân tích Rừng xà nu

Phân tích Rừng xà nu học sinh giỏi

Phân tích Rừng xà nu hay nhất

Phân tích bài Rừng xà nu ngắn gọn

Phân tích tác phẩm Rừng xà nu đầy đủ nhất

Dàn ý phân tích Rừng xà nu

I. Mở bài

– Nguyễn Trung thành là nhà văn có duyên với vùng đất Tây Nguyên, ông có nhiều tác phẩm viết về mảnh đất này (tiểu thuyết Đất nước đứng lên, truyện ngắn Rừng xà nu, …).

– Rừng xà nu – thiên sử thi Tây Nguyên thời kì chống Mĩ, tái hiện con đường đấu tranh giành tự do của con người Tây Nguyên anh dũng.

II. Thân bài

1. Hình tượng cây xà nu

– Là loài cây có sự gắn bó sâu sắc với mảnh đất Tây Nguyên: gắn với sinh hoạt hằng ngày, gắn với sự kiện trọng đại của dân làng: lửa xà nu cháy trong bếp, đuốc xà nu cháy sáng để mài vũ khí, lửa xà nu soi rõ xác 10 thằng giặc, ….

– Loài cây chịu sự tàn phá dữ dội của chiến tranh: đạn đại bác rơi vào ngọn đồi xà nu, cả rừng xà nu không cây nào không bị thương. Mượn nỗi đau của cây xà nu để nói về nỗi đau của dân làng Xô Man.

– Loài cây có sức sống mãnh liệt: sinh sôi nhanh chóng “bên cạnh một cây xà nu ngã gục đã có 4,5 cây con mọc lên” (đầu tác phẩm), “cây mẹ ngã đã có cây con mọc lên”. Đó là hình ảnh biểu tượng cho sức sống mạnh mẽ và sự nối tiếp của các thế hệ con người Tây Nguyên.

– Loài cây ham ánh sáng, như những người dân Tây Nguyên yêu tự do, có khát vọng sống mãnh liệt.

2. Các thế hệ anh hùng Tây Nguyên

a. Nhân vật cụ Mết

– Ngoại hình: quắc thước: “râu dài đến ngực mà vẫn đen bóng”, “vết sẹo ở má phải”, cụ là người đã trải qua nhiều thăng trầm, khỏe mạnh với “đôi bàn tay nặng trịch như kìm sắt”, “ngực căng như một cây xà nu lớn”, …mang dáng dấp của anh hùng trong sử thi Tây Nguyên.

– Giọng nói “ồ ồ dội vang trong lồng ngực ”, mỗi câu nói như một chân lí “không có gì mạnh bằng cây xà nu…”, “cán bộ là Đảng, … nước này còn”, “chúng nó cầm súng … cầm giáo”.

– Tích cách, phẩm chất: quả quyết, gan dạ, sáng suốt, biết nhìn xa trông rộng, luôn yêu thương, che chở cho dân làng. Cụ Mết là biểu tượng thế hệ anh hùng đi trước, hội tụ vẻ đẹp con người Tây Nguyên.

b. Nhân vật Tnú

– Từ nhỏ đã mang những nét tính cách phi thường: xung phong đi nuôi giấu cán bộ, từ nhỏ đã giác ngộ lí tưởng cách mạng, đi rừng rất tháo vát, nhanh nhẹn, bị giặc bắt mà không run sợ, chỉ tay và bụng “cộng sản đây này”.

– Khi trưởng thành, Tnú trở thành cán bộ cách mạng:

Có trái tim tràn đầy tình yêu thương: không chịu đựng được cảnh vợ con bị bắt giết, Tnú lao ra cứu nhưng bị bọn giặc bắt.

Là người cộng sản kiên cường, dũng cảm: giặc đốt 10 đầu ngón tay anh không kêu van “người cộng sản không hề kêu van”, “trợn mắt nhìn thằng Dục” dùng đôi bàn tay của mình để cầm súng giết giặc, …

– Nhận xét: Tnú là người con ưu tú của núi rừng Tây Nguyên, là nòng cốt của cuộc kháng chiến, biết nén đau thương cá nhân vì lợi ích của cộng đồng.

c. Nhân vật Dít

– Là người con gái gan dạ, dũng cảm, có sức chịu đựng phi thường, biết nén đau thương để nung nấu ý chí trả thù: đem gạo vào rừng cho dân làng, giặc bắn súng dọa vẫn không khai, chị mất nhưng không khóc, …

d. Nhân vật bé Heng

– Bé Heng dù nhỏ tuổi nhưng đã làm nhiệm vụ: thông thuộc từng hố chông, từng chiến điểm để dẫn đường cho cán bộ cách mạng, cho khách đến làng.

– “là lứa xà nu mới mọc nhưng đã nhọ hoắt như lưỡi lê”, hứa hẹn một sự vươn lên vững chắc.

– Nhận xét chung: họ là một tập thể anh hùng luôn nối tiếp những truyền thống tốt đẹp: giàu tình yêu thương, căm thù giặc sâu sắc, trung thành với cách mạng. Qua ho có thể thấy được phẩm chất và con đường cách mạng của người dân Tây Nguyên.

III. Kết bài

– Khái quát nghệ thuật: với kết cấu truyện lồng trong truyện, đầu cuối tương ứng đặc sắc, ngôn ngữ đậm chất sử thi, nhưng cũng mộc mạc giản dị, xây dựng hình tượng, …

– Rừng xà nu là một khúc sử thi văn xuôi hiện đại tái hiện vẻ đẹp tráng lệ, hào hùng của núi rừng, con người và truyền thống văn hóa Tây Nguyên.

Sơ đồ tư duy phân tích Rừng xà nu Phân tích Rừng xà nu học sinh giỏi

Đất nước ta có được hòa bình độc lập như ngày hôm nay là biết bao máu xương của thế hệ cha ông đi trước. Trên khắp mảnh đất hình chữ S, ta đã chứng kiến bao tấm gương hi sinh anh dũng và chiến đấu kiên cường vì độc lập. Các nhà thơ, nhà văn- những người nghệ sĩ, chiến sĩ đã giúp cho các thế hệ hiểu hơn về đau thương, mất mát của cha ông. Một trong số tác phẩm bạn đọc không thể bỏ qua khi đi tìm hiểu về văn chương kháng chiến là Rừng xà nu của Nguyên Ngọc.

Nguyên Ngọc được biết đến với tên khai sinh Nguyễn Trung Thành. Ông là nhà văn trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Và đặc biệt gắn bó với mảnh đất, con người Tây Nguyên. Đó cũng là điều kiện tiền đề cho sự thành công của tác phẩm Đất nước đứng lên và Rừng xà nu.

Rừng xà nu được viết năm 1965, khi đế quốc Mĩ bắt đầu dồn quân ồ ạt vào miền Nam, các chiến dịch càn quét được tổ chức với quy mô rầm rộ hơn. Tác phẩm ra đời như một biểu tượng cho tinh thần bất khuất, kiên cường của đồng bào Tây Nguyên nói riêng và dân tộc ta nói chung.

Trong đời thực, xà nu là một loài cây họ thông, mọc khỏe và có nhiều ở mảnh đất Tây Nguyên. Đến với xứ sở cao nguyên này là đến với những cánh rừng xà nu bạt ngàn. Và đối với người dân Tây Nguyên, đây là loài cây rất quen thuộc, gắn bó mật thiết với cuộc sống sinh hoạt của người dân Tây Nguyên.

Rừng xà nu đã trở thành không gian thực, bối cảnh thực của câu chuyện, được xuất hiện trở đi trở lại rất nhiều lần trong tác phẩm, tham gia vào sự phát triển của câu chuyện, trong mối quan hệ gắn bó mật thiết với các nhân vật. Đó là hình ảnh những cánh rừng xà nu bao bọc quanh làng Xô man. Từ đồi xà nu- nơi bắt nguồn của con nước dẫn vào làng.. đến những công dụng của nó như củi xà nu cháy trong mỗi bếp, đuốc xà nu soi sáng rừng đêm, nhựa xà nu cháy rực trên mười đầu ngón tay Tnú. Rừng xà nu đã chứng kiến bao buồn vui của con người và trở thành những thành viên có mối quan hệ khăng khít với con người Xô man.

Hình tượng cây xà nu trong tác phẩm không chỉ được hiện lên với những chi tiết miêu tả chân thực, sống động mà còn bằng những hình ảnh nhân hóa, những liên tưởng độc đáo, mang đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Bởi vật mà những cây xà nu và rừng xà nu được hiện lên như thực thể sống, có phẩm chất, số phận như con người thực sự.

Câu chuyện được mở đầu bằng nỗi đau thương của những cây xà nu trong cảnh ác liệt của chiến tranh: “Chúng nó bắn đã thành lệ,… hầu hết đạn đại bác rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn”. Rừng xà nu đã trở thành đối tượng hủy diệt tàn phá của quân xâm lược, phải hứng chịu bao đau thương, mất mát. Trước hết, đó là nỗi đau thương chung của một rừng cây: “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương”. Trong đó lại có những nỗi đau thương riêng của từng cá thể: “Có những cây bị chặt đứt ngang ngửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão. Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn”. Rồi có những cây còn non “vừ lớn ngang tầm ngực người lại bị đại bác chặt đứt làm đôi… năm mười hôm thì cây chết”.

Những trận mưa bom bão đạn của kẻ thù dội xuống những cánh rừng xà nu nhằm hủy diệt sự sống của thiên nhiên và con người nơi đây. Rừng xà nu phải hứng chịu bao tổn thương, mang trên mình đầy thương tích. Nhưng trong đau thương, trong chiến tranh bom đạn khắc nghiệt, cây xà nu, rừng xà nu vẫn hiện lên với bao vẻ đẹp tráng lệ, hào hùng.

Đó là loài cây sinh sôi nảy nở rất khỏe. Cứ một cây ngã xuống là đã có bốn, năm cây con mọc lên. Đó là loài cây “ham ánh sáng mặt trời”, nhưng không phải là ánh sáng yếu ớt dưới tầng thấp mà đó là những luồng sáng lớn thẳng tắp rọi xuống từ bầu trời cao, rộng. Chính bản năng sinh tồn mạnh mẽ cùng với khát vọng ánh sáng của bầu trời tự do đã tạo cho cây xà nu ngay từ nhỏ một vóc dáng ngay thẳng, kiên cường, một sức mạnh bất tử mà không một trở lực nào có thể ngăn cản được: “ngọn xanh rờn, hình mũi tên lao thẳng lên bầu trời.. Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng…” Cây xà nu còn có một sức chịu đựng phi thường, sức sống nội tại bất diệt. Bởi vậy mà “đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng”. Đối mặt với bom đạn hủy diệt của kẻ thù, rừng xà nu vẫn hiện ra với tư thế hào hùng, hiên ngang, bất khuất như chàng dũng sĩ khổng lồ, ngày ngày “ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho làng”.

Chiến tranh và năm tháng, kẻ thù đã dội xuống những cánh rừng xà nu biết bao nhiêu bom đạn, ra sức tàn phá hủy diệt sự sống của thiên nhiên và con người Tây Nguyên. Những đồi xà nu, rừng xà nu vẫn nối tiếp nhau chạy đến chân trời. Với kết cấu theo kiểu vòng tròn, câu văn kết thúc và câu văn mở đầu được lặp lại gần như nguyên vẹn, chỉ thay thế từ “đồi” bằng từ “rừng”, chữ “hết” bằng chữ “hút”. Minh chứng cho sự trường tồn bất tử, sức sống bất diệt của thiên nhiên nơi đây mà không một sức mạnh tàn bạo nào có thể ngăn cản và hủy diệt được.

Khi xây dựng hình tượng rừng xà nu, Nguyên Ngọc không chỉ tái hiện một bức tranh thiên nhiên tráng lệ, hào hùng của mảnh đất Tây Nguyên hoang sơ, mà rừng xà nu còn mang ý nghĩa biểu tượng, ẩn dụ cho con người nơi đây. Trong cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, nhà văn đều gắn bó sâu nặng với mảnh đất Tây Nguyên. Nỗi đau thương của rừng xà nu cũng chính là nỗi đau thương của dân làng Xô man. Biết bao máu và nước mắt, biết bao nỗi đau khổ thể xác và tinh thần đau đớn nhưng cũng giống như cây xà nu, dân làng Xô man luôn nêu cao tinh thần bất khuất, quật cường với tư thế không bao giờ cúi đầu. Những lứa cây nối tiếp nhau trong rừng xà nu là biểu tượng cho các thế hệ nối tiếp nhau của dân làng Xô man, luôn nêu cao truyền thống anh hùng, bất khuất từ quá khứ đến hiện tại.

Tnú là nhân vật trung tâm của truyện ngắn Rừng xà nu, là linh hồn của tác phẩm. Nhân vật được nhà văn khắc họa bằng ngòi bút mang đậm chất sử thi. Tnú tiêu biểu cho số phận, phẩm chất của dân làng Xô man, của nhân dân Tây Nguyên. Thời đại lịch sử cùng với truyền thống đấu tranh anh dũng của dân làng đã góp phần hình thành nên một con người có đặc điểm chung của cộng đồng nhưng cũng có nét riêng về số phận và phẩm chất.

Trong nỗi đau thương của dân làng Xô man, cuộc đời Tnú đã phải gánh chịu nhiều đau thương, mất mát. Anh mồ côi cha mẹ từ bé, sống nhờ vào sự đùm bọc của dân làng. Khi làm liên lạc Cách mạng cho anh Quyết, Tnú đã bị giặc bắt, chịu tù đày và bị tra tấn dã man với những vết dao chém lằn ngang, lằn dọc ở lưng. Sau khi vượt ngục về làng, Tnú lấy vợ, sinh con nhưng đau thương vẫn tiếp tục ập đến với cuộc đời anh. Người vợ trẻ cùng đứa con thơ chưa đầy tháng đã bị giặc đánh đập đến chết bằng những trận mưa gậy sắt. Và đau đớn hơn, tận mắt Tnú phải chứng kiến cảnh vợ con mình bị đánh đập cho tới chết mà bất lực. Còn bản thân anh thì bị bắt, bọn giặc dùng nhựa xà nu đốt cụt mười đầu ngón tay. Có thể nói, cuộc đời Tnú đã phải chịu đựng nỗi đau đớn tận cùng cả về thể xác lẫn tinh thần.

Mồ côi cha mẹ từ bé, lớn lên trong sự yêu thương, đùm bọc của dân làng Xô man, nên Tnú rất nặng tình với mảnh đất và con người Tây Nguyên. Xa quê hương, Tnú không ngừng nhớ về quê nhà với tiếng chày giã gạo của người phụ nữ Strá, của Mai… Anh đã vượt cả quãng đường dài trong cảnh khói lửa của chiến tranh chỉ đề trở lại thăm làng được có một đêm và anh chẳng còn người thân nào cả. Dù thời gian trôi qua đã ba năm nhưng anh vẫn nhớ rõ từng nét mặt, hình dáng, giọng nói của mỗi người và nhận ra cả sự thay đổi của họ. Nỗi xúc động dâng trào của Tnú cũng là niềm vui sướng và tình cảm của nồng hậu của bà con khi chào đón anh trở về đã thể hiện tình cảm yêu thương, gắn bó sâu nặng của Tnú với dân làng như máu thịt, ruột già.

Tình yêu thương mà Tnú dành cho vợ con cũng rất chân thành, cảm động. Ngày Mai sinh con, Tnú đã đi bộ cả ngày đường để kiếm vải về cho Mai địu con. Trong đêm giặc kéo đến vây làng, khi tận mắt chứng kiến cảnh vợ con bị giặc tra tấn, Tnú đau đớn và căm phẫn đến tột cùng: “Ở chỗ hai con mắt anh bây giờ là hai cục lửa lớn”. Anh đã xông ra cứu vợ con trong sự liều lĩnh và tuyệt vọng, bất chấp sự nguy hiểm đến tính mạng mình.

Nhưng tình yêu thương gia đình rất đỗi đời thường ấy đã góp phần xây đắp lên một tình yêu lớn lao, cao cả hơn trong Tnú là tình yêu đất nước, yêu Đảng, yêu Cách mạng. Tnú lớn lên trong thời đại máu lửa của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, ý thức và khát vọng về độc lập tự do đã thấm nhuần trong tâm hồn của mỗi người, được lưu truyền qua các thế hệ của cộng đồng. Bởi vật mà ngay khi còn nhỏ, Tnú đã khắc ghi lời dạy của Cụ Mết: “Đảng còn, núi nước này còn”. Tnú đã một lòng theo Đảng, theo Cách mạng, cống hiến trọn đời mình vì độc lập, tự do của quê hương.

Không chỉ làm một con người có trái tim tha thiết yêu thương, Tnú còn mang những phẩm chất tinh thần vô cùng cao quý. Sinh ra và lớn lên giữa đại ngàn, trong hoàn cảnh của những cuộc chiến tranh ác liệt mà hào hùng. Tnú dường như được thừa hưởng toàn bộ sức mạnh của Tây Nguyên hoang dã và truyền thống quật cường của dân làng Xô man. Bởi vậy, bên trong thân hình cường tráng với hai cánh tay rộng như hai cánh lim chắc là dòng máu kiên trung bất và không bao giờ vơi cạn.

Ngay từ khi còn nhỏ tuổi, trong những năm tháng đau thương, đen tối nhất của Cách mạng với sự tàn sát vô cùng man rợ nhưng Tnú cùng với Mai vẫn dũng cảm vào rừng nuôi giấu cán bộ. Hai người trở thành liên lạc viên cho anh Quyết. Cậu bé Tnú luôn bộc lộ sự gan dạ, thông minh. Đi rừng, Tnú không chọn lối đường mòn dễ đi mà tìm những lối tắt xé rừng mà đi. Khi vượt sông, vượt suối, Tnú không lựa chọn những chỗ nước êm mà chọn những quãng sông thác ghềnh chảy xiết. Bị giặc bắt và tra tấn dã man, Tnú vẫn cương quyết không khai nửa lời. Khi giặc hỏi cộng sản ở đâu, Tnú lấy tay chỉ vào bụng nói “Cộng sản ở đây”. Vượt ngục quay về làng với những vết thương bên mình, tuy đau đớn nhưng Tnú đã ngay lập tức cùng cụ Mết lãnh đạo thanh niên trai tráng trong lành vào rừng sâu mài giáo, mác để chuẩn bị cho ngày chiến đấu. Kẻ thù man rợ đã hành hạ đến chết vợ con anh, đốt cụt mười đầu ngón tay anh. Bao đau thương cả về thể xác lẫn tinh thần ập đến tưởng chừng làm Tnú gục ngã nhưng không, anh vẫn kiên cường vượt lên trên nỗi đau thương của số phận, tựa như một cây xà nu trưởng thành với sức sống bất diệt mà “đạn đại bác không thể giết nổi chúng”. Anh đã tham gia lực lượng quân giải phóng, chiến đấu anh dũng để trả thù nhà, đền nợ nước. Và trong một trận đấu giáp lá cà, anh đã giết chết tên giặc to béo như thằng Dực( tiểu đội trưởng lính ngụy năm xưa).

Khi xây dựng hình ảnh nhân vật Tnú, nhà văn đã rất nhiều lần nhắc đến hình ảnh đôi bàn tay của Tnú. Đôi bàn tay đó khi lành lặn là đôi bàn tay trung thực, nghĩa tình. Đôi bàn tay đó cầm phấn học chữ anh Quyết dạy, từng tiếp tế lương thực cho cán bộ trong rừng. Từng lấy đá đập vào đầu mình cho chảy máu để tự trừng phạt bản thân vì học chữ thua Mai. Khi Tnú bị giặc bắt, chúng đã tẩm nhựa xà nu để đốt cụt mười đầu ngón tay Tnú. Mười đầu ngón tay trở thành mười ngọn đuốc. Lúc này, anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng. Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi nhưng anh tuyệt không kêu rên, cắn răng quyết không kêu than.Mười đầu ngón tay bị cụt đốt là bằng chứng tố cáo tội ác man rợ của giặc. Đồng thời đã thổi bùng lên ngọn lửa của lòng căm hận với kẻ thù xâm lược. Đôi bàn tay Tnú tàn nhưng không phế. Anh vẫn tiếp tục cầm súng tham gia Cách mạng và lập công lao. Có thể nói, số phận và phẩm chất của người anh hùng Tnú được khắc họa qua hình ảnh đôi bàn tay bị cụt đốt là đôi bàn tay đau thương, bàn tay căm thù và bàn tay chiến thắng.

Nguyên Ngọc đã viết lên câu chuyện về những con người kháng chiến với tất cả trân trọng và tự hào. Tác giả rất linh hoạt trong những tình huống truyện để đẩy câu chuyện đến cao trào hoặc đưa ra những suy ngẫm trong độc giả. Từ việc xây dựng hình tượng nghệ thuật rừng xà nu, đến câu chuyện về cuộc đời Tnú, về dân làng Xô man. Tất cả đều thấm đẫm nỗi đau nhưng rất đáng tự hào, ngợi ca về con người anh hùng trong kháng chiến. Chính họ là những người làm nên chiến thắng.

Trong cuộc sống xô bồ, khi độc lập tự do đã ở ngay trước mắt thì mỗi lần đọc những trang viết về năm tháng chiến tranh khiến ta không khỏi bùi ngùi xúc động. Những tác phẩm văn học kháng chiến ra đời không chỉ là kết tinh của một tài năng nghệ thuật hay tái hiện con người và thời đại một cách đơn thuần. Những tác phẩm như Rừng xà nu đã và đang làm nhiệm vụ dựng xây, bồi đắp lòng yêu nước, lòng tự hào đến các thế hệ con cháu Việt Nam hôm nay.

Phân tích Rừng xà nu hay nhất

Truyện ngắn “Rừng xà nu” được tác giả Nguyễn Trung Thành sáng tác vào năm 1965 khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra ác liệt, đặc biệt là ở chiến trường Tây Nguyên Mỹ đang đổ quân vào để khủng bố và giết chóc. Ra đời trong hoàn cảnh đó, tác phẩm mang ý nghĩa quan trọng như nguồn cổ vũ và động viên lớn lao dành cho con người Việt Nam, là động lực để quân và dân ta kiên cường trong chiến tranh gian khổ.

Trong truyện ngắn “Rừng xà nu” tác giả đã xây dựng hai hình ảnh lớn mang ý nghĩa tượng trưng sâu sắc đó là hình ảnh cây xà nu và hình ảnh những con người anh hùng đại diện cho sức mạnh và vẻ đẹp của người dân làng Xô Man. Hình ảnh cây xà nu được xuất hiện xuyên suốt tác phẩm. Cây xà nu là một loài cây đặc trưng của vùng đất Tây Nguyên, gắn bó với cuộc sống sinh hoạt của người dân làng Xô Man: lửa xà nu trong mỗi bếp, trong đống lửa nhà ưng,… cây xà nu còn chứng kiến quá trình đấu tranh của dân làng Xô Man “đuốc xà nu được thắp lên trong những đêm người dân mài vũ khí” …. Dưới tầm bắn của đại bác rừng xà nu đã ưỡn tấm thân lớn của mình ra che chở cho làng, gánh chịu đau thương để rồi “cả rừng hàng vạn cây không có cây nào không bị thương”. Cây xà nu còn là nhân chứng trong cuộc nổi dậy của dân làng trong đêm Tnú bị tra tấn, cây xà nu đã kề vai sát cánh cùng con người chiến đấu. Cây xà nu còn mang những vẻ đẹp biểu tượng cho phẩm chất, tâm hồn và ý chí của người dân Tây Nguyên nói chung và dân làng Xô Man nói riêng. Loài cây này có sức sinh sôi nảy nở rất khoẻ, lớn rất nhanh để thay thế những cây đã ngã, vẻ đẹp ấy tượng trưng cho sức sống bất diệt của người dân làng Xô Man, bên cạnh đó xà nu lại rất ham ánh sáng mặt trời nên thường vươn cao, thẳng tắp giống như tinh thần yêu cách mạng, quý tự do của người dân làng Xô Man, từ người già đến trẻ nhỏ đều một lòng tin vào lời dạy của cụ Mết: “Cán bộ là Đảng, Đảng còn, núi nước này còn”. Cây xà nu thường mọc thành rừng biểu tượng cho tinh thần đoàn kết của dân làng Xô Man, trong mọi hoàn cảnh gian khổ, đau thương và mất mát các thế hệ người dân làng Xô Man luôn kề vai sát cánh bên nhau, trên dưới đồng lòng và tuyệt đối trung thành với lời của cụ Mết.

Dưới tán rừng xà nu ấy là nơi có những con người anh hùng với những phẩm chất tốt đẹp, đại diện cho vẻ đẹp những con người dân làng Xô Man nói riêng và người dân Tây Nguyên nói chung. Nổi bật nhất là hình tượng nhân vật Tnú, đời thường Tnú là một chàng trai chung thuỷ và có tình yêu sâu sắc với Mai, bên cạnh đó anh cũng yêu quê hương tha thiết, trước khi là một người anh hùng, Tnú là một người con ưu tú của làng Xô Man. Tnú nổi bật với tinh thần bất khuất gan góc, dũng cảm và trung thành với cách mạng. Khi còn nhỏ Tnú đã bộc lộ bản lĩnh cách mạng kiên cường, có đóng góp lớn cho sự nghiệp chung như tham gia phong trào nuôi giấu cán bộ trong rừng, quyết tâm học chữ để làm cán bộ giỏi, rồi làm liên lạc cho anh Quyết để đưa thư. Khi lớn lên Tnú cùng dân làng nung nấu ý chí đánh giặc bằng cách mài vũ khí giấu ở trong rừng, khi giặc khủng bố giết chóc Tnú tận mắt nhìn thấy vợ và con bị giết nhưng vẫn phải nén nỗi đau riêng, quyết không phản bội lại cách mạnh. Ngay cả khi bị giặc tra tấn “một ngón tay… răng anh đã cắn nát môi anh rồi”, bản lĩnh cách mạng giúp Tnú có sức chịu đựng phi thường.

Tnú chính là thế hệ tiếp bước con đường của cha anh, người anh hùng tiêu biểu cho truyền thống của làng Xô Man. Bên cạnh nhân vật Tnú, cụ Mết là người có vai trò quan trọng đối với dân làng Xô Man, là người già làng cụ luôn có tinh thần giáo dục truyền thống, dẫn dắt dân làng đi lên, cụ dạy dân làng “chúng nó có súng mình phải cầm giáo mác”, rồi cụ định hướng cho dân làng “đánh thằng Mỹ phải đánh dài”, cũng chính cụ thường xuyên kể chuyện về Tnú cho dân làng và các thế hệ con cháu nghe. Như vậy cụ Mết là người có vai trò quan trọng trong cuộc nổi dậy của người dân làng Xô Man, cụ đã giáo dục, định hướng và dẫn dắt để dân làng đi lên, cụ Mết là biểu tượng cho sức chiến đấu kiên cường, bất khuất. Dít là người con gái đầy bản lĩnh, ngay từ nhỏ đã bộc lộ bản chất gan góc và tinh thần trung thành với cách mạng: lẻn vào rừng tiếp tế lương thực cho du kích, khi bị giặc bắt và khủng bố tinh thần Dít nhìn bọn giặc bằng ánh mắt bình thản, lạnh lùng. Khi lớn lên đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng Dít làm việc rất nghiêm túc, biết kìm nén tình cảm riêng và đặt nhiệm vụ chung lên trên hết. Dít và bé Heng giống như thế hệ cây xanh mới mọc và lớn rất nhanh, bé Heng trông nhỏ con nhưng thuộc hết những vị trí hầm chông, hố châm, biết tham gia và công cuộc chung của dân làng, tỏ ra mình là một người lính thực sự. Nhà văn đã xây dựng hệ thống nhân vật với ba thế hệ, tầng lớp cha anh (cụ Mết), tầng lớp thanh niên (Tnú), tầng lớp măng non (Dít và bé Heng), tất cả họ đều mang những phẩm chất đại diện cho phẩm chất của cộng đồng, là những con người mang tầm vóc lịch sử.

Truyện ngắn “Rừng xà nu” với sự kết hợp giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn đã mang đến cho người đọc những cảm nhận sâu sắc về hình tượng cây xà nu và những con người “anh hùng dân tộc” của làng Xô Man trong thời chiến tranh chống Mỹ. Tô đậm truyền thống yêu nước, kiên cường bất khuất của dân tộc ta đồng thời cổ vũ và ca ngợi thế hệ con em noi gương cha anh tiếp bước gìn giữ non sông.

Phân tích bài Rừng xà nu ngắn gọn Phân tích Rừng xà nu – Mẫu 1

Có thể coi Rừng xà nu là kết tinh nghệ thuật của Nguyễn Trung Thành khi tài năng của ông ở độ viên mãn, tròn đầy nhất. Bởi vậy, đây cũng có thể coi là một trong những tác phẩm thành công nhất trong sự nghiệp văn chương cả ông. Rừng xà nu là một bản anh hùng ca về con người và rừng núi Tây Nguyên – đó là tập thể anh hùng, tập thể đứng lên giành tự do, độc lập cho chính mình.

Truyện được mở đầu bằng một khung cảnh hết sức khốc liệt, nhưng lại được tác giả trần thuật bằng giọng điệu rất đỗi bình thản: “Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc. Chúng nó bắn đã thành lệ, mỗi ngày hai lần, hoặc buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và sẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy. Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu, cạnh con nước lớn.” Chỉ bằng một câu văn hết sức ngắn gọn nhưng tác giả đã khái quát được không khí chiến tranh vô cùng khốc liệt, sự sống luôn bị đe dọa hủy diệt bởi bom đạn và khói lửa chiến tranh. Để làm rõ sự tàn phá khủng khiếp của chiến tranh đối với thiên nhiên, Nguyễn Trung Thành đã rất kỳ công, dùng từng con chữ đậm chất tạo hình để tạo lên những hình khối đầy sức ám ảnh: “Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quện thành từng cục máu lớn”. “Rọi từ trên cao xuống từng luồng thẳng tắp, lóng lánh vô số hạnh bụi vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mơ màng” “cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương” . Nhưng dù bị tàn phá, hủy diệt như vậy, nhưng làng cũng như những cây xà nu không bao giờ bị hủy diệt, dù chúng có bị cắt làm đôi đi chẳng nữa. Cạnh những cây bị đốn đổ là “đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”. Sự vươn lên mạnh mẽ đó không chỉ đơn thuần là bản năng sinh tồn mà còn là khao khát mãnh liệt vươn lên ánh sáng, mà không có bất cứ thế lực nào có thể ngăn cản được.

Có thể thấy rằng trong đoạn văn miêu tả cây xà nu tác giả sử dụng chủ yếu biện pháp nhân hóa, để làm nổi bật vẻ đẹp và sức sống kiên cường của loài cây này. Nhưng đồng thời đằng sau hình ảnh những cây xa nu ta còn thấy được bóng dáng của những con người nơi đây, những con người đang ngày đêm sống dưới tầm đại bác của giặc, cũng mang trong mình đầy thương tích nhưng họ chưa bao giờ khuất phục hay chịu gục ngã.

Sau những trang văn miêu tả về rừng xà nu, theo dòng kể của cụ Mết, một trang lịch sử vô cùng hào hùng của dân làng Xô Man dần dần hiện lên. Những trang sử đấu tranh hào hùng của nhân dân Xô Man cũng như những cây xà nu kia không thể nào dập tắt. Trước có cụ Mết, anh Xút, bà Nhan. Tiếp nối có thế hệ của Tnú, Mai… Cứ thế các thế hệ nối tiếp nhau, kế tục truyền thống vẻ vang của buôn làng. Trong số những nhân vật đó, nổi bật nhất là nhân vật chính – Tnú.

Trước khi trở thành một chiến sĩ cách mạng, ngay từ nhỏ Tnú đã bộc lộ mình là một người kiên định, có lí tưởng cách mạng. Để trở thành một chiến sĩ cách mạng trung kiên, điềm tĩnh nào ai có biết rằng, Tnú đã phải trải qua biết bao thử thách. Trước khi trở thành một người đàn ông trưởng thành Tnu đã là một cậu bé hết sức nóng giận, không nhớ được mặt chữ cậu sẵn sàng đập vỡ bảng, lấy đá ghè đầu. Nhưng lại cũng rất cầu tiến, sáng hôm sau gọi Mai phía sau để hỏi về những bài đã học. Những hành động ấy cho thấy sự ngoan cường, bền bỉ ngay từ tấm bé của chàng trai này. Và giữa hai con người đó đã nảy sinh mối tình vô cùng đẹp đẽ, kết tinh tình yêu của họ chính là đứa bé bụ bẫm, khỏe mạnh. Những tưởng rằng cuộc sống của họ sẽ viên mãn hạnh phúc. Nhưng chính lúc ấy hàng loạt biến cố, khiến cuộc đời Tnú chuyển sang một hướng khác.

Trong một trận càn của giặc Tnú đã không bảo vệ được mẹ con Mai, tình yêu, tình mẫu tử chi trong một đêm đã hoàn toàn biến mất. Biến Tnú từ kẻ có tất cả trở thành trắng tay. Không chỉ vậy, chính bản thân Tnú cũng bị thương. Mười đầu ngón tay anh trở thành một ngọn đuốc lớn, rừng rực cháy sáng. Mai chết đi, đứa con dù được Mai cố gắng bảo vệ nhưng cuối cùng vẫn không thoát khỏi cái chết. Lòng căm phẫn trào dâng, đến lúc này Tnú không thể cứ mãi nấp trong bóng tối, “hai con mắt anh bây giờ là hai cục lửa lớn” anh xông vào kẻ thù bằng sức mạnh vô cùng lớn. “Anh không biết đã làm gì. Chỉ thấy thằng lính giặc to béo nằm ngửa ra giữa sân, thằng giặc tháo chạy vào nhà ưng”. Nhưng kết cục cũng vẫn không cứu được Mai. Giọng cụ Mết đến đây trầm xuống, như càng khắc sâu thêm vào tâm khảm Tnú nỗi đau bị mất gia đình, để anh không bao giờ quên mối thù với lũ người tàn ác. Sau khi gia đình mất, Tnú tiếp tục đi lực lượng, trở thành một chiến sĩ cách mạng kiên trinh và chính anh đã sử dụng bàn tay bị thương của mình để giết kẻ thù. Bởi vậy hình ảnh bàn tay là hình ảnh nghệ thuật đầy sức ám ảnh trong tác phẩm. Bàn tay ấy là biểu hiện rõ ràng nhất cho tội ác của kẻ thù. Đôi bàn tay ấy còn thể hiện sự kiên định trách nhiệm của một người chiến sĩ cách mạng. Đôi bàn tay yêu thương, dựng xây gia đình cùng Mai, vì gia đình sẵn sàng xông vào chỗ chết. Hơn cả đôi bàn tay ấy còn tượng trưng cho ý chí nghị lực kiên cường, dù bị khuyết thiếu vẫn có thể tiêu diệt kẻ thù.

Tnú có thể coi là kết tinh sức mạnh và số phận của dân làng Xô Man cũng như của nhân dân Việt Nam. Anh vừa mang nỗi đau, mất mát , cũng như sự anh dũng chung của dân tộc. Nhưng đồng thời lại cũng có những nét hết sức khu biệt ở sự hôn hậu nồng thắm đậm chất Tây Nguyên. Những nét chung và riêng đó khiến cho tính chất biểu tượng của nhân vật càng được thể hiện rõ nét hơn.

Ngoài nhân vật Tnú, ta cũng không thể không nhắc đến tập thể anh hùng – dân làng Xô Man. Cụ Mết là người trực tiếp chỉ huy mọi người đấu tranh. Cụ là con chim đầu đàn là người giữ lửa và truyền lửa cho thế hệ tương lai. Cụ chính là kho sử thi sống động, bồi đắp lòng yêu nước và lòng căm thù giặc cho những thế hệ tiếp bước. Hai nhân vật Dít và Heng tuy chỉ xuất hiện rất ít, nhưng đó chính là những cây xà nu non, sinh sôi mạnh mẽ , tiếp bước thế truyền thống vẻ vang của cha anh.

Bằng nghệ thuật xây dựng hình tượng nghệ thuật đặc sắc, Nguyễn Trung Thành đã dựng lên bức tranh người cảnh đẹp đẽ, anh dũng về nhân nhân Xô Man và núi rừng Tây Nguyên. Đây có thể coi là khúc tráng ca ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên và con người nơi đây.

Phân tích Rừng xà nu – Mẫu 2

Tác phẩm “Rừng xà nu” được Nguyễn Trung Thành viết năm 1965 và được in trong tập “Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc”. Ngay ở nhan đề của truyện ngắn, ta có thể hình dung về những cảnh rừng xà nu xanh bạt ngàn và có sức sống mãnh liệt như những người dân của buôn làng Xô Man.

Hình ảnh rừng xà nu ở ngay phần đầu tác phẩm. Xà nu là loại cây họ thông, mọc nhiều ở khu vực Tây Nguyên. Trong tác phẩm của Nguyễn Trung Thành, “rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời”. Cây mọc thành khu rừng rộng lớn và trở thành loài cây đặc trưng của mảnh đất Tây Nguyên anh dũng.

Ngay từ những câu mở đầu tác phẩm, rừng xà nu được tác giả miêu tả là bao quanh và che chở cho buôn làng Xô Man tránh khỏi những trận đại bác của quân địch. Nhưng vì sự khốc liệt của chiến tranh, cả cánh rừng hàng vạn cây xà nu đều bị thương, thậm chí “có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão”.

Người dân nơi đây yêu rừng xà nu vì đây là loài cây gắn bó với dân làng, là người bạn đồng hành từ khi họ sinh ra, lớn lên, già đi và đến khi về với đất mẹ. Dưới tán cây xà nu là những nét đẹp văn hóa của những buổi sinh hoạt cộng đồng của đồng bào Tây Nguyên và còn là nơi hò hẹn của trai gái trong buôn làng.

Và hơn thế, xà nu còn là đồng đội của dân làng, khi ngọn đuốc xà nu sáng rực trong đêm cùng dân làng nổi dậy chống kẻ thù. Khói xà nu thì xông bảng nứa đen kịt để anh Quyết dùng làm công cụ dạy Tnú và Mai học bài. Rồi lửa xà nu còn soi sáng “xác mười tên lính giặc ngổn ngang” chứng minh cho sự kiên cường, anh dũng của buôn làng Xô Man.

Bên cạnh ý nghĩa tả thực, cây xà nu còn là biểu tượng cho số phận và phẩm chất cao đẹp của những người con Tây Nguyên. Hình ảnh rừng xà nu chịu bao trận đại bác của địch gợi những đau thương mà nhân dân phải gánh chịu. Nhưng khâm phục thay, bom đạn của kẻ thù không thể ngăn được sự sinh sôi, sự lớn mạnh của cây xà nu. “Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”. Và dù có chịu nhiều tổn thương, những lứa cây mới sẽ nhanh chóng mọc lên và “đạn đại bác không giết nổi chúng”.

Bởi vậy, trong suốt cuộc chiến, “rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho làng”. Hình ảnh “anh hùng” ấy của rừng xà nu là biểu tượng cho sức mạnh quật cường, bất diệt cho những thế người con Tây Nguyên. Là thế hệ trước ngã xuống sẽ có thế hệ sau tiếp nối. Xà nu còn là loài cây ham ánh mặt trời, như Tnú và dân làng Xô Man luôn hướng mình theo ánh sáng của cách mạng.

Qua việc phân tích rừng xà nu, đặc biệt là hình ảnh rừng xà nu có thể thấy, đây là một sáng tạo độc đáo của nhà văn Nguyễn Trung Thành. Rừng xà nu có khi được nhìn từ xa, có khi được miêu tả rất gần. Xà nu không chỉ là một hình ảnh thực mà còn mang ý nghĩa biểu tượng, tượng trưng cho khí chất, cho dáng dấp của những con người anh hùng Tây Nguyên.

Mặc dù rừng xà nu là hình ảnh đầu tiên được nhắc đến và cũng là hình ảnh biểu tượng được tác giả dùng để đặt nhan đề tác phẩm, nhưng thực chất con người Tây Nguyên là những nhân vật mà Nguyễn Trung Thành muốn khắc họa hơn cả.

Và tiêu biểu cho những con người ấy là Tnú, người chiến sĩ trẻ kiên cường, bất khuất. Ngay từ khi còn nhỏ, Tnú đã vào rừng nuôi cán bộ. Khi Tnú học chữ thua Mai, Tnú lấy đá tự đập vào đầu. Nhưng được anh Quyết khuyên “Tnú phải làm cán bộ thay anh”, Tnú đã quyết tâm học chữ.

Khi đi liên lạc, Tnú “xé rừng mà đi”, “lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang, vượt lên trên mặt nước, cưỡi lên thác băng băng như một con cá kình”. Tnú cũng là người nhanh trí, khi bị giặc bắt thì liền nuốt thư vào bụng.

Khi Tnú lớn lên, anh cùng dân làng mài vũ khí để chiến đấu. Khi thằng Dục biết được tin này, nó tìm cách bắt Tnú. Anh bị tra tấn bằng cách quấn giẻ đã tẩm dầu xà nu lên hai bàn tay rồi đốt. Tnú không thể cứu được mẹ con Mai và còn chứng kiến mẹ con chết trước mắt mình. Nỗi đau mất vợ và đứa con chưa còn chưa chào đời cùng nỗi đau bị tra tấn đã biến thành nỗi căm hờn, uất hận trong Tnú.

Lúc này, dù đau đớn Tnú không kêu lên một tiếng, mà chỉ trợn mắt nhìn thằng Dục. Sự căm thù, tinh thần kiên cường khiến anh “không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay nữa”, mà anh nghe lửa như đang cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng. “Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi. Răng anh đã cắn nát môi anh rồi”. Phân tích rừng xà nu có thể thấy, Tnú không chỉ là người mang phẩm chất anh hùng mà còn là người sâu nặng nghĩa tình. Tnú cũng là người chồng, người cha yêu thương vợ con.

Bên cạnh nhân vật Tnú, truyện ngắn “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành còn khắc họa thành công các nhân vật khác như cụ Mết, anh Quyết, Mai, Dít, Heng… Qua các nhân vật này, tác giả đã làm nổi bật những thế hệ anh hùng nối tiếp nhau một lòng yêu nước, một lòng đi theo lý tưởng của Đảng.

Anh Quyết là cán bộ cách mạng, người dạy chữ cho Mai và Tnú. Và anh cũng là người có vai trò nhen “lửa yêu nước” “lửa đấu tranh” cho người dân Tây Nguyên. Anh như người khai sáng, người giáo dục tinh thần cách mạng cho những người trẻ. Bằng tấm lòng, bằng tình yêu nước anh đã khơi gợi ở Tnú tinh thần chiến đấu vì lí tưởng cách mạng, tin theo Đảng và bác Hồ.

Và bài phân tích rừng xà nu sẽ không trọn vẹn nếu ta không nhắc đến cụ Mết. Cụ là già làng, là người anh hùng thuộc thế hệ trước, là người lãnh đạo buôn làng nổi dậy chiến đấu. Cụ cũng là người kể chuyện cho các thế hệ thanh niên trong lòng về cuộc đời người anh hùng Tnú. Cụ cũng được trao cho sứ mệnh truyền đạt và khẳng định con đường cách mạng mà nhân dân ta phải đi, đó là” “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Nghĩa là chúng ta không thể chịu áp bức mãi được, chúng ta phải đứng dậy, phải cầm giáo đấu tranh cho chính nghĩa.

Những thế hệ sau của cụ Mết, của Tnú là Dít và Heng, chúng sẽ là người nối tiếp con được của thế hệ đi trước. Sau này Dít lớn lên và trở thành chính trị viên xã đội, bí thư chi bộ. Nhưng ngay từ khi còn nhỏ, Dít đã thật gan dạ nhờ vào sự giáo dục về lí tưởng cách mạng của thế hệ đi trước. Dù chỉ là một cô bé, Dít đã rất bản lĩnh mà không run sợ trước súng đạn của quân địch.

Còn cậu bé Heng, ngày mà Tnú ra đi, “nó mới chỉ đứng đến ngang bụng anh, chưa biết mang củi, chỉ mới đeo cái xà lét nhỏ xíu theo người lớn ra rẫy”, nhưng khi Tnú về thăm làng, Heng đã trở thành một người lính kiên cường. Heng có thể dẫn Tnú đi qua những con đường “chằng chịt hầm chông, hố chông, cứ mười phút lại gặp một giàn thò chuẩn bị sẵn, cần thò căng như dây ná, đánh một phát chắc chắn gãy đôi ống quyển, lưỡi thò từng đôi, từng đôi gác lên giàn, sắc lạnh”. Và dù vẫn còn là một đứa trẻ, cậu bé đã thật dũng cảm, là mảnh ghép không thể thiếu của một tập thể anh hùng trong cuộc chiến chống đế quốc Mỹ.

Như đã phân tích xuyên suốt tác phẩm, ta có thể thấy điểm nổi bật của “Rừng xà nu” không chỉ là hình ảnh rừng xà nu ở phần đầu mà còn ở tuyến nhân vật là những người anh hùng, kiên cường, bất khuất giữa Tây Nguyên đại ngàn. Phân tích rừng xà nu ta như đang hát một khúc ca chiến đầu hào sảng, được hòa mình vào khí thế đấu tranh của những người dân buôn làng Xô Man chân chất và anh dũng. Đồng thời, kết cấu của tác phẩm được xây dựng theo hình thức truyền lồng trong truyện thực đã mang lại sự hấp dẫn cho tác phẩm của Nguyễn Trung Thành.

Phân tích Rừng xà nu – Mẫu 3

Trong nền văn học nước nhà, thể loại văn xuôi được biết đến là một trong những thế loại đạt được nhiều thành tựu đáng kể, trong các tác phẩm không thể không nhắc đến bài “rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành, một bài sử thi đậm chất Tây Nguyên. Trong đó tác giả khắc họa thành công hình tượng cây xà nu, làm cho ta cảm thấy hào hùng, sự chiến đấu của con người Tây Nguyên.

Tác giả Nguyễn Trung Thành là nhà văn của Tây Nguyên, ông còn hoạt động chiến trường miền Nam thời kỳ chống Mĩ cứu nước. Truyện ngắn “Rừng xà nu” là tác phẩm tiêu biểu của tác phẩm, hình tượng “cây xà nu” là hình ảnh trung tâm trong bài văn. Xà nu được biết đến là loài cây phổ biến ở núi rừng Tây Nguyên, dẻo dai, kiên cường bất khuất như người dân Tây Nguyên, sống trong một môi trường khắc nghiệt nhưng nó vẫn bền bỉ.

Hình ảnh cây xà nu được ví như những con người Tây Nguyên không chịu đầu hàng với số phận, với thời tiết, không chịu đầu hàng, luôn hướng về phía trước để bảo vệ độc lập, tự do của bản mình, trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, những cây xà nu vươn mình bảo vệ dân làng khỏi bão táp, khỏi sự săn đuổi, giúp cán bộ cách mạng thực hiện được chiến lược của mình.

Cây xà nu gắn liền với đời sống hàng ngày với người dân Tây Nguyên, sự trưởng thành từng của các thế hệ dân làng Xô Man, đó là từ Tnú, chị Mai, cụ Mết, bé Heng, đó là những người thế hệ từ đời này sang đời khác, mỗi thế hệ đều cố gắng lớn lên, thay nhau bảo vệ ngôi nhà Tây Nguyên của mình, mà cây xà nu vẫn gắn bó, trải qua bao bom đạn với dân làng nơi đây.

Có thể nói “cây xà nu”chính là linh hồn của Tây Nguyên, nó đã lớn lên, ăn sâu trong mỗi tiềm thức con người Tây Nguyên, khi nhắc đến loài cây này, dường như ta cảm thấy sự hào hùng, cây mọc thẳng, vươn vai, cao lớn, hướng tới ánh sáng cũng như người dân Xô Man hướng tới hạnh phúc, sự độc lập dân tộc.

Trong lịch sử kháng chiến của dân làng Tây Nguyên, cây xà nu chính là người bạn chiến đấu, sát cánh cùng người dân, nó chính là biểu tượng tinh thần và ý chí quật cường, mặc dù bị thiêu rụi thì cây xà nu vẫn kiên cường bảo vệ âm ỷ dòng nhựa để cho cây non mọc lên, cũng như Tnú từ một cậu bé dần dần được cách mạng nuôi dưỡng, bảo vệ và lớn dần khi trưởng thành chiến đấu, dù bị đốt mười ngón tay những vẫn cầm súng chiến đấu.

Tác giả đã miêu tả hình tượng cây xà nu ẩn dụ, miêu tả cây bằng nghệ thuật nhân hóa như những con người Tây Nguyên, nói lên sự hi sinh, và cũng miêu tả lê cảnh bị áp bức bóc lột đến tàn bạo mà bọn thực dân đối với dân làng Xô Man, cây xà nu bị thiêu rụi, cũng chính là sự mất mát, đau thương cứ chồng chất khiến cho lầm than cứ nối tiếp. Hình ảnh Mai và Tnú bị tra tấn nhưng họ vẫn chịu đựng, gắng gượng đến phút cuối cùng.

Mối quan hệ giữa người dân với cây xà nu có một sợi dây gắn kết rất bền chặt, và khăng khít không ai có thể tách rời, cây xà nu chính là người bạn từ thuở ấu thơ, trải qua bao thăng trầm lịch sử với dân làng, chúng chính là hàng rào bảo vệ kiên cố, dù bị thiêu rụi vẫn cố gắng đứng lên như con người Xô Man, tuy không thể nói, không thể biểu hiện cảm xúc nhưng những cây xà nu lại làm ta cảm thấy thêm niềm tin, sức mạnh chiến đấu đến cùng.

Cứ thế hệ này ngã xuống, thế hệ sau lại đứng lên nối tiếp nhau, phát huy hết sức mạnh chiến đấu, cũng như cây xà nu già chết lại trên thân cây đó có cây xà nu con mọc lên vươn vai để bảo vệ người dân Xô Man, từ thế hệ lão làng như cụ Mết, rồi đến Tnú và cuối cùng là bé Heng, ở họ đều có sự khao khát cháy bỏng về một tương lai tươi đẹp ở phía trước đang chờ đợi họ.

Trong tác phẩm rừng xà nu chắc chắn hình ảnh Tnú và cây xà nu được ví như hai hình ảnh song song nhau, có nhiều mối tương đồng, hỗ trợ lẫn nhau, làm nổi bật được ý chí và tinh thần chiến đấu của nhau, một cây xà nu to, chắc, vươn rộng vai mình bao trùm dân làng cũng như Tnú một chàng thanh niên khỏe mạnh cùng cán bộ,cùng các già làng đấu tranh đuổi bọn giặc Mỹ ra khỏi làng, để người dân có một cuộc sống êm đềm, không còn sống trong sợ hãi, hi sinh bản thân vì độc lập, tự do.

Sự khát vọng hòa bình, sự bình yên cho cả nước, những ước mong mà người dân luôn khao khát từng ngày, bằng tình yêu bao la của mình đối với Tây Nguyên, câu văn miêu tác giả dùng những tả qua hình ảnh cây xà nu, làm tăng thêm giá trị nghệ thuật, sự kiên cường của từng con người Xô Man, và sự quan sát một cách tinh tế, Nguyễn Trung Thành đã khiến cho người đọc cảm nhận được sự mất mát và đau thương mà người dân nơi đây phải chịu thông qua hình ảnh cây xà nu, có một trái tim đồng cảm và chua xót cho con người Tây Nguyên.

…………

Phân tích tác phẩm Rừng xà nu đầy đủ nhất Phân tích tác phẩm Rừng xà nu – Mẫu 1

Tây Nguyên hùng vĩ núi non, Tây Nguyên bất khuất kiên cường với những con người bộc trực kiên trung một lòng đi theo cách mạng. Chính vùng đất sản sinh ra vô số những anh hùng dân tộc đi vào sử sách thì nơi đây cũng chính là vùng đất mang đến cảm hứng sáng tác cho tác giả Nguyễn Trung Thành. Trong những năm tháng của mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc, cuộc chiến đấu anh hùng của nhân dân Tây Nguyên khơi nguồn cảm hứng cho ông viết truyện ngắn Rừng xà nu, một truyện ngắn xuất sắc của văn học thời chống Mĩ.

Rừng xu nu là bản anh hùng ca về cuộc chiến đấu anh hùng của đồng bào Tây Nguyên với sự trưởng thành của một thế hệ cách mạng mới, trẻ trung nhiệt tình, mưu trí và kiên cường. Nó chỉ là truyện ngắn nhưng dung lượng hiện thực to lớn mà giá trị lịch sử khẳng định.

“Rừng xà nu” viết về những anh hùng ở làng Xô Man của người Strá trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Tác phẩm tiêu biểu cho khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn của văn học Việt Nam giai đoạn 1954-1975. Cảm hứng của nhà văn về nhân vật anh hùng gắn liền với cảm hứng về đất nước hùng vĩ gắn với hình tượng cây xà nu của Tây Nguyên. Tác phẩm mở đầu bằng hình ảnh rừng xà – một loại cây họ thông, gỗ và nhựa đều rất quý, có sức sống mãnh liệt và dẻo dai rất gần gũi với đời sống người dân Tây Nguyên để tượng trưng cho phẩm chất và sức mạnh tinh thần bất khuất của dân làng Xô Man và các dân tộc Tây Nguyên.

Và đặc biệt đó cũng là một rừng xà nu bất chấp đạn bom, vượt lên sự hủy diệt tàn bạo để tiếp nhận ánh nắng mặt trời duy trì sự sống của mình, rừng xà nu tràn trề sức sống cho dù đại bác của bọn giặc “đã thành lệ, mỗi ngày hai lần, hoặc buổi sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng vào xẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy” dồn dập nã chết chóc đau thương vào nó. Truyện được mở đầu và kết thúc bằng hình ảnh rừng xà nu đều mang dụng ý của tác giả Nguyên Ngọc.

Suốt trong quá trình kể chuyện, hình ảnh rừng xà nu được nhắc đi nhắc lại tạo cảm giác như một điệp khúc, gần 20 lần nhà văn nói đến rừng xà nu, cây xà nu, nhựa xà nu, ngọn xà nu, đồi xà nu, khói xà nu, lửa xà nu, dầu xà nu. Mọi thứ dường như đều xoay quanh một loại cây đặc biệt này. Ngược đọc không khó nhận ra ý nghĩa của rừng xà nu là để nói lên sức sống bền vững, quật khởi của dân làng Xô Man, của Tây Nguyên bất khuất.

Chất sử thi của thiên truyện sẽ không trở thành giọng điệu chính của tác phẩm nếu thiếu đi hình tượng cây xà nu được khai thác từ nhiều góc độ, được lặp đi lặp lại nhiều lần như vậy, nhất là các hình ảnh “đồi xà nu” (4 lần), “rừng xà nu” (5 lần), với “hàng vạn cây” “ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho làng”.

Hình ảnh cây xà nu mở đầu truyện như cách mở đầu của bức tranh đấu tranh quyết liệt của dân làng và nó cũng là một hình ảnh mang tính dự báo. Bằng nghệ thuật nhân hoá, tác giả nói lên được nỗi đau thương mất mát của dân làng Xô Man và tố cáo tội ác của kẻ thù. Mỗi cây xà nu ngã xuống, ta thấy thương tâm như một người dân làng Xô Man ngã xuống.

Tác giả Nguyễn Trung thành đã có dụng ý miêu tả rừng xà nu bằng một thứ ngôn ngữ rất giàu chất thơ, chắt lọc và tinh tế ở một thứ ngôn ngữ vừa tả vừa gợi, mở ra những liên tưởng phong phú cho người đọc. Hình ảnh rừng xà nu ở đây vừa là hình ảnh thực một rừng cây “ham ánh sáng mặt trời”, vừa là hình ảnh có nghĩa tượng trưng cho con người Tây Nguyên đau thương, bất khuất, kiên cường trong những ngày đồng khởi chống Mĩ. Kết hợp bút pháp đặc tả phối hợp với thủ pháp nhân hóa đã phát huy tối đa hiệu lực cua nó. Rừng xà nu hiện lên như một người bạn trung thành che chở cho dân làng Xô Man, như những con người đẹp của buôn làng. Và có thể nói rừng xà nu chính là biểu tượng về sức sống bất diệt của con người Tây Nguyên, của con người Việt Nam.

Advertisement

Truyện ngắn hiện lên như một bức tranh tái hiện chân thực toàn bộ cuộc chiến đấu đầy gian khó nhưng không thiếu kiên cường của nhân dân Tây Nguyên trong những ngày đánh Mĩ, nhà văn tập trung miêu tả sự trưởng thành một thế hệ tiếp nối, phát huy truyền thống anh hùng của cha ông và qua đó nhà văn cũng phản ánh sự trưởng thành của nhân dân Tây Nguyên trong đấu tranh một mất một còn với kẻ thù mới là đế quốc Mĩ. Tiêu biểu cho thế hệ thanh niên đó là Tnú và Dít. Sự trưởng thành của họ gắn liền với cuộc đấu tranh của nhân dân Strá làng Xô Man.

Tnú nhân vật chính của Rừng Xà Nu đã mồ côi cha mẹ từ nhỏ, người con của núi rừng Tây Nguyên ấy lớn lên trong sự đùm bọc của dân làng , nuôi dạy khôn lớn. Đó là người anh hùng dân tộc lớn lên, trưởng thành và kiên cường bất khuất từ trong lòng của nhân dân, của dân tộc.

Tnú đến với cách mạng ngay từ khi còn rất nhất vào thời điểm của những ngày gian khổ, ác liệt nhất khi mà Mĩ Diệm đang ngày đêm khủng bố cách mạng ở khắp mọi nơi. Chính Tnú đã chứng kiến cảnh đau thương của dân làng. Bọn giặc “treo cổ anh Xút lên cây vả đầu làng, giết bà Nhan, chặt đầu cột tóc treo đầu súng”, chỉ vì họ là những người dũng cảm, dám nuôi dấu cán bộ cách mạng.

Khi Tnú vào rừng nuôi cán bộ, tiếp nhận tri thức, lẽ sống qua sự chỉ bảo của anh cán bộ Quyết. Một lần đi liên lạc, Tnú bị giặc phục kích, bắt được, chúng dẫn về làng, tra tấn đủ mọi cách, lưng Tnú ngang dọc những vết dao chém nhưng Tnú vẫn không khai báo, chỉ điềm tĩnh chỏ và bụng mình để trả lời câu hỏi của kẻ thù: “Cộng sản ở đây này”. Câu trả lời ấy đâu chỉ đơn giản là một câu trả lời mà đó là cả một lời thách thức, sự dũng cảm! Và chính lời thách thức ấy, Tnú phải trả giá bằng ba năm tù.

Thoát ngục Kon Tum trở về, Tnú là một thanh niên, trưởng thành hơn về nhân cách. Anh hiểu rõ nhiệm vụ của mình khi tiếp nhận lời trăng trối của anh Quyết. Anh trở thành người lãnh đạo cuộc chiến đấu của dân làng Xô Man. Anh thực hiện ngay lời dặn của anh Quyết “chuẩn bị giáo, mác, vụ, rựa, tên, ná… ” chuẩn bị mọi thứ cần thiết cho cuộc chiến đấu sắp tới. Và hạnh phúc đến với anh trong những ngày đó. Mai, cô bạn gái cùng anh đi liên lạc trở thành người bạn đời của anh.

Lại một thử thách nữa đến với Tnú: bọn giặc ở đồn Rác Hà xuống làng Xô Man truy bắt anh, vợ con anh sa vào tay chúng. Không thể cầm lòng trước cảnh giặc tra tấn vợ con. Tnú đành phải ra đối đầu với bọn chúng. Và trong cuộc đối đầu này, phẩm chất kiên cường của anh càng sáng hơn bao giờ hết. Giặc bắt Tnú, chúng đốt mười ngón tay anh, “Mười ngón tay anh đã trở thành mười ngọn đuốc”, răng cắn chặt môi, không một tiếng kêu vang, Tnú trừng trừng ném căm giậm vào kẻ thù.

Có thể nói Tnú là hình ảnh của Tây Nguyên đau thương, bất khuất. Sự tàn bạo của kẻ thù đã lên tới tột đỉnh và nhân dân cũng không thể cam chịu sống dưới ách tàn bạo đó. Cho nên, khi tiếng thét căm giận Tnú vang lên, tiếng thét như một lời báo hiệu triệu dân làng cầm vũ khí đứng lên, cả làng Xô Man đứng dậy. “Tiếng giết”, tiếng chân người đạp nhà ào ào. Tiếng bọn lính kêu thất thanh… Sự vùng dậy của dân làng đã cứu thoát Tnú rồi sau đó anh vào giải phóng quân đi giải phóng cho nhân dân, giải phóng đất nước với một nhận định sâu sắc hơn.

Điều này có thế thấy rõ qua lời tâm sự của Tnú với dân làng sau “ba năm đi lực lượng”. Anh kể rằng anh giết thằng Dục, tên chi huy đồn giặc ở Đắc Hà, kẻ đã giết vợ con anh, kẻ dã gieo đau thương cho làng Xô Man và theo anh thằng giặc nào “cũng là thằng Dục cả”. Rõ ràng, với anh chiến sĩ giải phóng quân Tnú, mối thù chung của Tây Nguyên, của đất nước cũng là mối thù của gia đình, của quê hương anh. Đó là một nhận thức sâu sắc, nhận thức mà Tnú rút ra được từ nỗi đau của bản thân, của buôn làng của đất nước và từ cuộc chiến đấu của quê hương.

Cùng thế hệ của Tnú còn có Dít, cô bí thư chi bộ xã kiêm chính trị viên xã đội làng Xô Man. Ba năm trước, ngày Tnú ra đi. Dít “còn là một cô bé không có áo mặc, đêm lạnh không ngủ…”. Vậy mà, khi Tnú trở về, cô bé ấy đã đảm trách những công việc trọng yếu nhất của làng Xô Man. Sự trưởng thành kì lạ của Dít không phải ngẫu nhiên mà là quá trình rèn luyện vượt qua thử thách lúc còn nhỏ. Dít là một đứa bé lanh lợi, rất gan dạ. Lần ấy, Dít bị giặc bắt “Chúng để con bé đứng giữa sân, lên đạn tôm xong rồi từ từ bắn từng viên một, không bắn trúng, đạn chỉ sượt qua tai, xém tóc, cày đất quanh hai bàn chân nhỏ của Dít. Váy nó rách từng mảng. Nó khóc thét lên nhưng rồi đến viên thứ mười, nó chùi nước mắt, từ đó im bặt. Nó đứng lặng lẽ giữa bọn lính, cứ mỗi viên đạn nổ, cái thân hình mảnh dẻ của nó giật lên một cái nhưng đôi mắt nó vẫn nhìn bọn giặc bình thản lạ lùng”.

Không chỉ gan góc Dít còn là một cô bé cương nghị. Chứng kiến cái chết đau thương của chị Mai, Dít “lầm lì không nói gì cả, mắt ráo hoảnh trong khi mọi người cả cụ già, đều khóc”. Cứ thế Dít lớn lên cùng với cuộc đấu tranh của làng Xô Man. Trở thành người lãnh đạo cuộc chiến đấu của buôn làng, Dít cũng tỏ rõ là người có bản lĩnh, có sức thuyết phục quần chúng. Gặp lại Tnú, Dít, không khỏi xúc động, nhìn anh với “đôi mắt mở to bình thản trong suốt”. Ấy vậy, chị không quên trách nhiệm của minh khi hỏi “đồng chí có giấy không?”, khi tuyên bố dứt khoát “không có giấy thì không được, ủy ban phải bắt thôi” và sau khi xem giấy của Tnú chị lại nói tiếp “sao anh về có một đêm thôi”. Con người Dít như vậy đó, gan góc, cương nghị, không kém phần tha thiết với quê hương, đành rằng bề ngoài tưởng như chỉ có lạnh lùng bình thản.

Tnú và Dít tiêu biểu cho thế hệ thanh niên làng Xô Man, từ lòng căm thù của họ đến với cuộc chiến đấu của dân tộc và chính trong cuộc chiến đấu đó, họ trưởng thành. Sự trưởng thành của họ có cội nguồn của có một mặt là do họ tự vượt mình qua những thử thách lớn lao, mặt khác là do có sự dìu dắt cách mạng của cha ông. Đặc biệt sự trưởng thành của Tnú và Dít được Nguyên Ngọc miêu tả trong mối quan hệ với truyền thông anh hùng của người Strá. Cụ Mết chính là đại diện cho thế hệ cách mạng đi trước của làng Xô Man.

Cụ là pho sử sống, là chỗ dựa tinh thần của dân làng. Tuy già nhưng “cụ vẫn quăc thước như xưa ngực cũng như một tấm xà nu lớn tiếng nói vẫn ồ ồ vang trong lồng ngực”, vẫn sáng suốt ngày đêm lãnh đạo cuộc chiến đấu của làng. Có lẽ cuộc đời cụ đã nếm trải qua nhiều đau khổ, đã thu lượm được nhiều kinh nghiệm quý báu, cho nên cụ luôn luôn nhắc nhở con cháu nhớ tới quá khứ đau thương bất khuất của quê hương.

Chứng kiến cái chết thảm thương của Mai và sự bất lực của Tnú trước sự tra tấn dã man tàn bạo của bọn thằng Dục, cụ Mết càng thấu hiểu: Đối với kẻ thù “chỉ có hai bàn tay trắng, chỉ với bàn tay không” thì không thể nào đối đầu với chúng được, phải cầm vũ khí đứng lên! Bài học này, cụ muốn truyền lại cho thế hệ mai sau: “Nghe rõ chưa, các con, rõ chưa, nhớ lấy, ghi lấy. San này tao chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu. Chúng nó cầm súng, mình phải cầm giáo’’. Lời cụ rành rẽ vang lên trong ánh lửa bập bùng ở nhà ưng.

Xây dựng nhân vật cụ Mết như một nhân vật huyền thoại, kết tinh nhiều phẩm chất tốt đẹp của con người Tây Nguyên, phải chăng Nguyên Ngọc muốn khẳng định vai trò của thế hệ đi trước đối với thế hệ trẻ! Cụ Mết vừa là người nối kết thế hệ truyền thống, với lịch sử quê hương, vừa là người dẫn dắt thế hệ thanh niên trong cuộc chiến đấu hiện tại. Chính vì có một thế hệ cha ông như cụ Mết mà thế hệ của Tnú, của Dít… có sự trưởng thành lớn lao.

Và không chỉ có lớp người như Tnú, lớp sau Tnú như bé Heng, cũng lớn lên, lớn lên cùng với cuộc chiến đấu ác liệt của làng Xô Man. Với nhân vật bé Heng, Nguyên Ngọc chỉ phác họa vài ba đường nét miêu tả ngoại hình nhưng cũng đủ tạo ra ấn tượng sâu sắc cho người đọc.

Tuổi của bé Heng, lẽ ra, là tuổi đến trường với những trang sách, với những trò chơi vui nhộn nhưng đất nước còn giặc, bé cũng còn nhỏ, bé Heng đã có dáng vẻ của “một người lính thật sự, đội chiếc mũ sụp xin được của anh giải phóng quân nào đó, mặc vào một chiếc áo bà ba dài phết đít, vẫn đóng khố, súng đeo chéo ngang lưng”. Hơn thế, Heng thuộc từng lớp hầm bẫy, hố chông, trở thành người liên lạc như Tnú năm xưa. Thật là từ hào và tin tưởng với một lớp người như bé Heng! Lớp ấy đang lớn lên, trưởng thành, xứng đáng với thế hệ cha anh.

Đọc Rừng xà nu có cảm tưởng như được xem một bộ phim về số phận một con người với biết bao sự kiện. Truyện bắt đầu từ hiện tại từ cái thời điểm anh chiến sĩ giải phóng quân Tnú đặt chân lên mảnh đất quê hương ‘‘sau ba năm đi lực lượng” rồi ngược dòng thời gian trở về quá khứ.

Chính cái tư tưởng này đã chi phối kết cấu của Rừng xà nu. Hệ thống sự kiện trong truyện, chủ yếu được tổ chức theo sự phát triển tâm lí tính cách nhân vật trung tâm, chứ không theo trật tự thời gian thông thường. Tổ chức sự kiện theo cách đó, nhà văn có điều kiện tập trung miêu tả những tình huống gay cấn làm nổi bật tính cách nhân vật, mặt khác cũng phù hợp với ý nghĩa chính luận của tác phẩm.

Hai lần đối đầu trực tiếp với kẻ thù là hai lần Tnú thể hiện rõ phẩm chất kiên cường của anh, tất nhiên tác phẩm này thể hiện ở mỗi lần có khác nhau và có sự phát triển. Sa vào tay giặc khi còn là một cậu bé, Tnú tỏ rõ đức kiên trung quả cảm của mình. Còn lần đối đầu với kẻ thù, Tnú rực sáng kiên cường bất khuất trước bóng đen tàn bạo của kẻ thù.

Khắc họa tính cách nhân vật, Nguyên Ngọc có sở trường trong việc lựa chọn những chi tiết tiêu biểu có ý nghĩa khái quát cao, những chi tiết giàu chất tạo hình, giàu chất thơ. Trong nhận thức của người đọc, sừng sững hình ảnh cụ Mết với những nét khắc chạm rất tài tình của tác giả: một cụ Mết với những nét khắc chạm rất tài tình của tác giả: một cụ Mết quắc thước, râu dài, mắt sáng, ngực căng như một cây xà nu lớn.

Và cũng xúc động lòng người một cụ Mết ân tình với cháu con lúc trở tay chùi hai giọt nước mắt lớn khi lặng nhìn tấm lưng rộng của Tnú còn ngang dọc những vết thương đã thành sẹo tím. Như vậy nhân vật anh hùng trong Rừng xà nu không chỉ rung cảm người đọc ở sự vượt lên hoàn cảnh khốc liệt của họ mà còn ở những xúc động, những tình cảm thầm kín nơi họ.

Trên những trang viết của mình. Nguyên Ngọc thường trải những cảm xúc trữ tình của ông về con người, đất nước quê hương. Giọng văn của Rừng xà nu đằm thắm chất trữ tình, khi trầm hùng theo ánh lửa chập chờn ở nhà nhưng trong lời kể trang nghiêm xúc động về quá khứ đau thương của cụ Mết, khi tha thiết tuôn chảy theo dòng hồi tưởng về người thân, theo dòng suy tưởng về quê hương của Tnú… lời văn của Rừng xà nu giàu hình ảnh, giàu nhịp điệu, nhiều đoạn văn trau chuốt, óng mượt như ngôn ngữ của một bài thơ (ví dụ: đoạn mở đầu tác phẩm). Chính cái vẻ của lời văn đã góp phần tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm.

……..

Cập nhật thông tin chi tiết về Khu Di Tích Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm trên website Fsey.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!