Xu Hướng 2/2024 # Soạn Bài Ôn Tập Phần Làm Văn Soạn Văn 12 Tập 2 Tuần 32 (Trang 182) # Top 2 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài Ôn Tập Phần Làm Văn Soạn Văn 12 Tập 2 Tuần 32 (Trang 182) được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Fsey.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Soạn văn Ôn tập phần Làm văn I. Những nội dung kiến thức cần ôn tập

1. Thống kê các kiểu loại văn bản đã học trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông và cho biết những yêu cầu cơ bản của các loại kiểu đó.

– Tự sự: là phương thức trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc, một ý nghĩa.

– Thuyết minh: trình bày thuộc tính, cấu tạo, nguyên nhân, kết quả… của sự vật, hiện tượng, vấn đề… giúp người đọc có tri thức và thái độ đúng đắn đối với đối tượng được thuyết minh.

– Nghị luận: trình bày tư tưởng, quan điểm, nhận xét, đánh giá… đối với các vấn đề xã hội văn học qua các luận điểm, luận cứ, lập luận có tính thuyết phục.

2. Theo anh (chị) để viết một văn bản, cần thực hiện những công việc gì?

– Tìm hiểu đề, xác định được yêu cầu bài viết.

– Tìm và chọn ý cho bài văn.

– Lập dàn ý.

– Viết văn bản theo dàn ý đã xác định.

– Đọc lại, sửa chữa và hoàn thiện bài viết.

3. Ôn tập về văn nghị luận

a. Đề tài cơ bản của văn nghị luận trong nhà trường

– Đề tài của văn nghị luận trong nhà trường gồm nghị luận xã hội và nghị luận văn học.

– Điểm chung:

– Điểm khác:

Nghị luận xã hội: có hiểu biết về xã hội, dẫn chứng từ thực tế…

Nghị luận văn học: có kiến thức về văn học, dẫn chứng từ các tác phẩm văn học…

b. Lập luận trong văn nghị luận

– Lập luận gồm những yếu tố: luận điểm, luận cứ, phương pháp lập luận.

– Luận điểm, luận cứ và phương pháp lập luận là gì:

Luận điểm là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm của người viết (nói) về vấn đề nghị luận.

Luận cứ là những lí lẽ và bằng cứ được dùng để soi sáng cho luận điểm.

Phương pháp lập luận: cách thức lựa chọn, sắp xếp luận điểm, luận cứ sao cho lập luận chặt chẽ và thuyết phục.

– Yêu cầu và cách xác định luận cứ cho luận điểm:

Lí lẽ phải có cơ sở, phải dựa trên những chân lí đã được thừa nhận.

Dẫn chứng phải chính xác, tiêu biểu và phù hợp với lí lẽ.

Cả lí lẽ và dẫn chứng phải phù hợp với luận điểm, tập trung làm sáng tỏ luận điểm.

c. Bố cục của bài văn nghị luận

– Vai trò của phần mở bài là giới thiệu vấn đề cần nghị luận. Phần mở bài cần ngắn gọn, chính xác và đầy đủ. Cách mở bài có thể gián tiếp hoặc trực tiếp.

– Vị trí, nội dung cơ bản của phần thân bài trong các kiểu bài nghị luận đã học: phần chính của bài viết, nằm sau mở bài. Nội dung của thân bài là triển khai các luận điểm, luận cứ của bài viết.

– Phần kết bài có vai trò tóm lược lại nội dung của toàn bài viết, cách kết bài mở rộng và không mở rộng.

d. Diễn đạt trong văn nghị luận

– Yêu cầu của diễn đạt trong văn nghị luận: từ ngữ chính xác, rõ ràng; hạn chế sử dụng khẩu ngữ; tránh sử dụng nhiều từ ngữ mang sắc thái biểu cảm…

– Các lỗi về diễn đạt: dùng từ ngữ thiếu chính xác, lặp từ, thừa từ, dùng từ ngữ không đúng phong cách, sử dụng câu đơn điệu, câu sai ngữ pháp; sử dụng giọng điệu không phù hợp với vấn đề nghị luận…

II. Luyện tập

1. Đề bài

Đọc các đề bài trong SGK

2. Yêu cầu luyện tập

a. Tìm hiểu đề: Hai đề bài trên yêu cầu phải viết kiểu bài nghị luận nào? Những thao tác lập luận nào cần sử dụng trong bài viết? Những luận điểm cơ bản nào cần dự kiến cho bài viết?

– Đề 1: Nghị luận xã hội; Đề 2: Nghị luận văn học

Những luận điểm cơ bản:

– Đề 2: Nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ.

b. Lập dàn ý cho bài viết

* Đề 1:

1. Mở bài

2. Thân bài

– Ý nghĩa của câu chuyện: mục đích của 3 câu hỏi mà Xô-cơ-rát đã đưa ra.

3. Kết bài: Khẳng định lại tính có ích của câu chuyện và khái quát bài học rút ra được.

* Đề 2:

Chọn 9 câu thơ đầu:

1. Mở bài

Giới thiệu tác giả Nguyễn Khoa Điềm, đoạn thơ Đất nước và 9 câu thơ đầu.

2. Thân bài

– Khi ta lớn lên, đã có rồi: Đất Nước ra đời từ rất xa xưa như một sự tất yếu, trong chiều sâu của lịch sử thời các vua Hùng dựng nước và giữ nước.

– Ngày xửa ngày xưa, mẹ thường hay kể: những câu chuyện cổ tích, những bài học đạo lý làm người, ước mơ khát vọng của nhân dân về lẽ công bằng.

– Miếng trầu: phong tục ăn trầu của dân gian gắn với ta nhiều đời nay và gợi nhớ sự tích Trầu cau.

– Biết trồng tre mà đánh giặc: gợi nhớ truyền thống chống giặc ngoại xâm và truyền thuyết đầy tự hào của người Việt và truyền thuyết về người anh hùng Thánh Gióng.

– Tóc mẹ bới sau đầu: những phong tục lâu đời của người Việt, người phụ nữ để tóc dài và bới lên.

– Cha mẹ, gừng cay muối mặn: gắn với câu ca dao của dân tộc, nói về tình cảm thủy chung của người Việt.

– Cái kèo, cái cột, hạt gạo, xay, giã, giần, sàng: những vật quen thuộc trong đời sống hằng ngày của người Việt Nam gắn với lao động sản xuất và nền văn minh lúa nước.

– Đất Nước có từ ngày đó: Đất Nước có từ khi dân mình biết yêu thương, sống tình nghĩa, từ ngày dân tộc có nền văn hóa riêng, từ khi dân mình biết dựng nước và giữ nước, từ trong cuộc sống hằng ngày của con người.

Advertisement

3. Kết bài

Tổng kết về nội dung, nghệ thuật và nêu cảm nhận về đoạn trích.

c. Tập viết phần mở bài cho từng bài viết

– Đề 1: Mỗi một câu chuyện đều chứa đựng một ý nghĩa nào đó. Và khi đọc “Ba câu hỏi” nhiều người đã nhận ra được một bài học trong cuộc sống.

– Đề 2: Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Thơ ông hấp dẫn người đọc bởi sự kết hợp giữa những xúc cảm nồng nàn và chất suy tư sâu lắng của người trí thức vì đất nước, vì con người. “Đất Nước” trích trong chương 5 trường ca “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm đã góp phần làm phong phú hơn, tươi mới hơn tư tưởng ấy bằng tiếng nói riêng và cách thể hiện độc đáo. Nổi bật trong tác phẩm là chín câu thơ đầu.

d. Chọn một ý trong dàn ý để viết thành một đoạn văn

Soạn Bài Ôn Tập Về Văn Bản Thuyết Minh Soạn Văn 8 Tập 2 Bài 20 (Trang 35)

Soạn bài Ôn tập về văn bản thuyết minh

Câu 1. Văn bản thuyết minh có vai trò và tác dụng như thế nào trong đời sống?

Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp tri thức (kiến thức) về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân… của các hiện tượng và các sự vật trong tự nhiên xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích.

Câu 2. Văn bản thuyết minh có những tính chất gì khác với văn bản tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận?

Văn tự sự: Kể lại sự việc, nhân vật theo một trình tự.

Văn miêu tả: Tái hiện đặc điểm tính chất của con người, sự vật.

Văn biểu cảm: Thiên về bộc lộ cảm xúc, tình cảm.

Văn nghị luận: Trình bày ý kiến, luận điểm.

Văn thuyết minh: Cung cấp tri thức khách quan về sự vật, hiện tượng…

Câu 3. Muốn làm tốt bài văn thuyết minh, cần phải chuẩn bị những gì? Bài văn thuyết minh phải làm nổi bật điều gì?

Muốn làm tốt bài văn thuyết minh, người viết phải:

Quan sát, tìm hiểu về sự vật, hiện tượng cần thuyết minh.

Nắm bắt bản chất đặc trưng của sự vật, hiện tượng cần thuyết minh.

Câu 4. Những phương pháp thuyết minh nào thường được chú ý vận dụng?

Các phương pháp thuyết minh như: nêu định nghĩa, giải thích, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, so sánh, phân tích, phân loại.

Câu 1.  Hãy nêu cách lập ý và lập dàn bài đối với các đề bài sau:

a. Giới thiệu một đồ dùng trong học tập hoặc sinh hoạt

(1) Mở bài: Giới thiệu khái quát về đồ dùng trong học tập hoặc sinh hoạt.

(2) Thân bài:

Cấu tạo của đồ dùng

Đặc điểm của đồ dùng.

Vai trò của đồ dùng

(3) Kết bài

Giá trị của đồ dùng đối với cuộc sống.

b. Giới thiệu một danh lam thắng cảnh ở quê hương em

(1). Mở bài: Giới thiệu chung về danh lam thắng cảnh.

(2) Thân bài

Vị trí địa lí, quá trình hình thành và phát triển

Cấu trúc, quy mô

Sơ lược sự tích, hiện vật trưng bà

Phong tục, lễ hội

(3) Kết bài

Ý nghĩa lịch sử, văn hóa xã hội của thắng cảnh.

c. Thuyết minh về một văn bản, một thể loại văn học mà em đã học.

(1) Mở bài

Khái quát chung về văn bản hoặc thể loại đó.

(2) Thân bài

Đặc điểm nội dung

Đặc điểm hình thức

Giá trị của văn bản hoặc thể loại.

(3) Kết bài

Cảm nhận của em về vẻ đẹp của thể loại văn học đó.

d. Giới thiệu một phương pháp (làm đồ dùng học tập, thí nghiệm)

(1) Mở bài:

Giới thiệu khái quát về phương pháp.

(2) Thân bài

– Nguyên vật liệu.

– Cách làm.

– Yêu cầu thành phẩm.

(3) Kết bài

Khẳng định lại giá trị của sản phẩm.

Câu 2. Tập viết đoạn văn theo các đề bài sau

a. Giới thiệu một đồ dùng trong học tập hoặc sinh hoạt

Chiếc thước kẻ có hình chữ nhật. Chiều dài của thước là 20 xăng-ti-mét. Trên mặt thước có in các vạch kẻ màu đen theo đơn vị xăng-ti-mét. Thước có màu trong suốt, rất dẻo dai. Phía góc bên trái còn in những bông hoa đào.

b. Giới thiệu một danh lam thắng cảnh ở quê hương em

Thành Cổ Loa được xây dựng vào khoảng thế kỷ III TCN, dưới thời trị vì của An Dương Vương, do sự chỉ đạo trực tiếp của Cao Lỗ. Thành tọa lạc tại một khu đất đồi nằm ở tả ngạn sông Hoàng – vốn là một nhánh lớn của sông Hồng. Ở thời Âu Lạc thì vị trí của Cổ Loa nằm ngay tam giác châu thổ sông Hồng, là nơi giao lưu giữa đường thủy và đường bộ. Đây được coi là vị trí có thể kiểm soát được cả đồng bằng lẫn vùng núi nên được chọn làm kinh đô.

c. Thuyết minh về một văn bản, một thể loại văn học mà em đã học.

Trước hết, về khái niệm truyện ngắn, sẽ có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau. Nhưng hiểu đơn giản thì đúng như tên gọi của nó, truyện ngắn là một thể loại văn học, với các câu truyện được kể bằng văn xuôi. Có dung lượng ngắn gọn, súc tích và hàm nghĩa hơn các câu truyện dài như tiểu thuyết. Thông thường truyện ngắn có độ dài chỉ từ vài dòng đến vài chục trang, trong khi đó tiểu thuyết rất khó dừng lại ở con số đó. Vì thế, tình huống truyện luôn là vấn đề quan trọng bậc nhất của nghệ thuật truyện ngắn.

d. Giới thiệu một phương pháp (làm đồ dùng học tập, thí nghiệm)

Khi học văn, chúng ta cần rèn luyện kĩ năng viết. Viết nhiều, văn chương được luyện dẻo, khi bạn viết sẽ cảm thấy như một thói quen. Viết nhiều thì tay càng dẻo, văn càng ngày càng bóng bẩy, mượt mà hơn. Bạn có thể dành ra mỗi ngày ba mươi phút hoặc nếu có thời gian là khoảng một tiếng đồng hồ để dành cho việc viết văn. Việc tập làm quen với việc viết về những vấn đề văn học không chỉ giúp bạn nắm chắc kiến thức một lần nữa, mà còn giúp cho ta viết nhanh hơn, sức viết kéo dài hơn,… Sau một thời gian, đảm bảo bạn sẽ không đến với văn chương như một nỗi sợ hãi nữa. Nhưng để làm được điều này thì cần phải chăm chỉ luyện tập. Văn không ngày một ngày hai mà hay, người không phải ngày một ngày hai mà giỏi. Chính vì vậy mà vấn đề tự học một lần nữa lại được đặt lên hàng đầu. Tự học là cách tốt nhất giúp ta tự ôn luyện được kiến thức đồng thời củng cố và bồi đắp thêm vốn kiến thức của mình.

e. Thuyết minh về một giống vật nuôi

Chó là một loại động vật có rất nhiều vai trò trong cuộc sống của con người: phổ biến nhất là trong coi nhà cửa, huấn luyện để săn bắn, chó dùng trong nghiệp vụ (cứu hộ, truy bắt tội phạm…). Nhờ thông minh, chó có thể dễ dàng tiếp thu những mệnh lệnh của con người để làm theo. Chúng cũng là một loài động vật rất trung thành. Mối quan hệ giữa con người và loài chó đang ngày càng trở nên gắn bó hơn. Vậy nên mới có rất nhiều câu chuyện cảm động về loài chó hy sinh mạng sống để cứu chủ của mình. Ở một số nơi, trong đời sống tâm linh, chó còn trở thành linh vật, được thờ cúng…

Advertisement

g. Giới thiệu một sản phẩm, trò chơi mang bản sắc Việt (như chiếc nón lá, chiếc áo dài, trò chơi thả diều)

Nón lá bao gồm rất nhiều loại khác nhau. Chúng ta có nón quai thao, nón rơm, nón bài thơ (trong nón có thêu một vài câu thơ)… Trong đời sống hàng ngày, chiếc nón lá vô cùng hữu ích, đó chính là dùng để che nắng che mưa. Với đặc tính là vành tương đối rộng, người sử dụng sẽ không lo bị ướt mỗi khi trời mưa hay không lo bị nắng chiếu vào. Không chỉ che nắng, che mưa cho người sử dụng mà chiếc nón lá còn trở thành một biểu tượng cho vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Từ ngàn đời, phụ nữ Việt trong tà áo dài và đội chiếc nón lá đã trở thành một biểu tượng vô cùng đẹp cho dân tộc. Trong văn hóa nghệ thuật, nón lá được sử dụng như là một đạo cụ trong biểu diễn, múa nón trở thành một điệu múa tiêu biểu cho sân khấu dân gian.

Soạn Bài Câu Cá Mùa Thu Soạn Văn 11 Tập 1 Tuần 2 (Trang 21)

Soạn bài Câu cá mùa thu

Tài liệu Soạn văn 11: Câu cá mùa thu, vô cùng hữu ích được giới thiệu, mời các bạn học sinh tham khảo ngay sau đây.

Soạn bài Câu cá mùa thu – Mẫu 1 Soạn bài Câu cá mùa thu chi tiết

I. Tác giả

– Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) hiệu là Quế Sơn, tên lúc nhỏ là Nguyễn Thắng, sinh tại quê ngoại là xã Hoàng Xá (nay thuộc Yên Trung), huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.

– Ông xuất thân trong một gia đình nhà Nho nghèo.

– Năm 1864, ông đỗ đầu trong kỳ thi Hương. Nhưng mấy kì thi sau lại trượt, cho đến năm 1871, ông mới đỗ đầu cả kỳ thi Hội và thi Đình.

– Ông được người đời gọi là Tam Nguyên Yên Đổ (do đỗ đầu cả ba kỳ thi).

– Tuy vậy, ông chỉ làm quan có hơn mười năm, còn lại cuộc đời đều sống thanh bạch bằng nghề dạy học tại quê nhà.

– Nguyễn Khuyến là một người tài năng, có tấm lòng yêu nước thương dân.

– Sáng tác của ông bao gồm cả chữ Hán và chữ Nôm với hơn 800 bài gồm nhiều thể loại: thơ, văn, câu đối nhưng chủ yếu là thơ.

– Thơ ông thường viết về đề tài tình yêu quê hương đất nước, bạn bè, gia đình; phản ánh cuộc sống của những con người thuần hậu, chất phác; châm biếm đả kích bọn thực dân xâm lược…

– Một số tác phẩm tiêu biểu: Quế Sơn thi tập, Yên Đổ thi tập, Bách liêu thi văn tập, Cẩm Ngữ, cùng nhiều bài ca, hát ả đào, văn tế, câu đối truyền miệng…

II. Tác phẩm

1. Xuất xứ

– “Câu cá mùa thu” nằm trong chùm ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến.

– Xuân Diệu nhận xét: “Nguyễn Khuyến nổi tiếng nhất trong văn học Việt Nam là về thơ Nôm”.

– Trong đó, chùm thơ về mùa thu của ông là đặc sắc nhất, bao gồm: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh.

2. Bố cục

Gồm 2 phần:

Phần 1. Sáu câu thơ đầu: Khung cảnh làng quê vào mùa thu.

Phần 2. Hai câu cuối: Tâm trạng của nhà thơ trước khung cảnh thiên nhiên.

3. Thể thơ

Thất ngôn bát cú Đường luật.

III. Đọc – hiểu văn bản

1. Khung cảnh làng quê vào mùa thu

– Điểm nhìn: từ gần đến xa (từ “một chiếc thuyền câu bé tẹo teo” trong ao thu đến “tầng mây lơ lửng”), rồi lại từ xa đến gần (từ “trời xanh ngắt” quay trở về với “thuyền câu” và “ao thu”).

– Những hình ảnh đặc trưng của mùa thu:

Ao thu với làn nước trong veo, cùng với chiếc thuyền “bé tẻo tẹo”.

“Sóng gợn biếc”: Mặt nước trong xanh phản chiếu được màu sắc của trời thu.

“Lá vàng khẽ đưa vèo”: chuyển động tinh tế của chiếc lá.

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt: gợi cảm giác thanh nhẹ, quen thuộc gần gũi, yên bình, tĩnh lặng; sắc xanh của mùa thu lại được tiếp tục sử dụng, nhưng không phải là màu xanh dịu nhẹ, mát mẻ mà xanh thuần một màu trên diện rộng.

Hình ảnh “ngõ trúc quanh co”: con đường làng quen thuộc với bóng tre đã đứng đó từ bao đời.

2. Tâm trạng của nhà thơ trước khung cảnh thiên nhiên

– Con người xuất hiện với một công việc thật thư thái: câu cá.

– “Tựa gối buông cần”: tâm thế nhàn nhã

– “Cá đâu đớp động dưới chân bèo”: Có lẽ vì đang chìm đắm trong dòng suy nghĩ miên man của bản thân. Để rồi chỉ một âm thanh nhỏ bé của cá đớp động dưới chân bèo lại làm nhà thơ giật mình sực tỉnh.

Tổng kết: 

– Nội dung: Bài thơ Câu cá mùa thu thể hiện sự cảm nhận và nghệ thuật gợi cảm tinh tế của Nguyễn Khuyến về cảnh sắc mùa thu đồng bằng Bắc bộ. Đồng thời, bài thơ cũng cho thấy tình yêu thiên nhiên, đất nước của tác giả.

– Nghệ thuật: sử dụng từ ngữ hình ảnh độc đáo…

Soạn bài Câu cá mùa thu ngắn gọn

I. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Điểm nhìn cảnh thu của tác giả có gì đặc sắc? Từ điểm nhìn ấy, nhà thơ đã bao quát cảnh thu như thế nào?

– Điểm nhìn: từ gần đến xa từ “một chiếc thuyền câu bé tẹo teo” trong ao thu đến “tầng mây lơ lửng”, rồi lại từ xa đến gần từ “trời xanh ngắt” quay trở về với “thuyền câu” và “ao thu”.

– Từ điểm nhìn đó bức tranh ấy lần lượt hiện ra chỉ với vài đường nét tiêu biểu nhất.

Câu 2. Những từ ngữ, hình ảnh nào gợi lên được nét riêng của cách sắc mùa thu? Hãy cho biết đó là cảnh thu ở miền quê nào?

– Nét riêng của cảnh sắc mùa thu: dịu nhẹ, yên bình.

– Cảnh sắc mùa thu được miêu tả qua hình ảnh: nước trong veo, sóng biếc, trời xanh; qua đường nét: hơi gợn tí, khẽ đưa vèo, tầng mây lơ lửng.

– Cảnh thu ở vùng đồng bằng Bắc bộ.

Câu 3. Anh (chị) có nhận xét gì về không gian trong “Câu cá mùa thu” qua các chuyển động, màu sắc, hình ảnh, âm thanh? Không gian đó góp phần diễn tả tâm trạng như thế nào?

Chuyển động: sóng hơi gợn tí, lá vàng khẽ đưa vèo, tầng mây lơ lửng.

Màu sắc: nước trong veo, sóng biếc, lá vàng, trời xanh ngắt.

Hình ảnh: ao thu, bầu trời, ngõ vắng.

Âm thanh: đớp động dưới chân bèo.

Câu 4. Cách gieo vần trong bài thơ có gì đặc biệt? Cách gieo vần ấy gợi cho ta cảm giác gì về cảnh thu và tình thu.

– Cách gieo vần: gieo vần eo (veo – teo – vèo – teo – bèo). Đây vốn là một vần rất khó để vào mạch nhưng lại được Nguyễn Khuyến sử dụng khéo léo, tinh tế.

– Cách gieo vần gợi ra một không gian vắng lặng, cô quạnh cũng như nỗi lòng đầy uẩn khúc của nhà thơ.

Câu 5. Qua Câu cá mùa thu, anh (chị) có cảm nhận như thế nào về tấm lòng của nhà thơ Nguyễn Khuyến đối với thiên nhiên, đất nước?

Tình yêu thiên nhiên, đất nước sâu sắc giúp nhà thơ khắc họa bức tranh quê đẹp đẽ.

II. Luyện tập

Phân tích cái hay của nghệ thuật sử dụng từ ngữ trong bài Câu cá mùa thu.

Gợi ý:

Các từ ngữ chỉ màu sắc gây ấn tượng về đặc trưng của mùa thu: nước trong veo, sóng biếc, lá vàng, trời xanh ngắt.

Cách gieo vần “eo” – một vần khó đầy tinh tế, khéo léo.

Sử dụng một loạt từ láy gợi hình, gợi cảm: lạnh lẽo, tẻo teo, lơ lửng…

Soạn bài Câu cá mùa thu – Mẫu 2

I. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Điểm nhìn cảnh thu của tác giả có gì đặc sắc? Từ điểm nhìn ấy, nhà thơ đã bao quát cảnh thu như thế nào?

Điểm nhìn: Từ “một chiếc thuyền câu” đến “tầng mây lơ lửng”, rồi tới “ngõ vắng” trở về “ao thu”.

Bức tranh thu đã hiện lên một cách bao quát, mở ra nhiều hướng rất sinh động.

Câu 2. Những từ ngữ, hình ảnh nào gợi lên được nét riêng của cách sắc mùa thu? Hãy cho biết đó là cảnh thu ở miền quê nào?

– Từ ngữ, hình ảnh gợi lên nét riêng của cảnh sắc mùa thu: nước trong veo, sóng biếc, trời xanh; qua đường nét: hơi gợn tí, khẽ đưa vèo, tầng mây lơ lửng.

– Cảnh thu ở vùng đồng bằng Bắc bộ.

Câu 3. Anh (chị) có nhận xét gì về không gian trong “Câu cá mùa thu” qua các chuyển động, màu sắc, hình ảnh, âm thanh? Không gian đó góp phần diễn tả tâm trạng như thế nào?

Chuyển động: sóng hơi gợn tí, lá vàng khẽ đưa vèo, tầng mây lơ lửng.

Màu sắc: nước trong veo, sóng biếc, lá vàng, trời xanh ngắt.

Hình ảnh: ao thu, bầu trời, ngõ vắng.

Âm thanh: đớp động dưới chân bèo.

Câu 4. Cách gieo vần trong bài thơ có gì đặc biệt? Cách gieo vần ấy gợi cho ta cảm giác gì về cảnh thu và tình thu.

– Cách gieo vần: vần eo (veo – teo – vèo – teo – bèo). Đây vốn là một vần rất khó để vào mạch nhưng lại được Nguyễn Khuyến sử dụng khéo léo, tinh tế.

– Cách gieo vần gợi ra một không gian vắng lặng, cô quạnh cũng như nỗi lòng đầy uẩn khúc của nhà thơ.

Câu 5. Qua Câu cá mùa thu, anh (chị) có cảm nhận như thế nào về tấm lòng của nhà thơ Nguyễn Khuyến đối với thiên nhiên, đất nước?

Tình yêu thiên nhiên, đất nước tha thiết và sâu sắc của Nguyễn Khuyến.

II. Luyện tập

Phân tích cái hay của nghệ thuật sử dụng từ ngữ trong bài Câu cá mùa thu.

Gợi ý:

Hai câu đầu nói về ao thu và chiếc thuyền câu. Nước ao “trong veo” toả hơi thu “lạnh lẽo”. Sương khói mùa thu như bao trùm cảnh vật. Nước ao thu đã trong lại trong thêm, khí thu lành lạnh lại trở nên “lạnh lẽo”. Trên mặt nước hiện lên thấp thoáng một chiếc thuyền câu rất bé nhỏ – “bé tẻo teo”

Các từ ngữ: “lạnh lẽo”, “trong veo”, “bé tẻo teo” gợi tả đường nét, dáng hình và màu sắc của cảnh vật, sắc nước mùa thu; âm vang lời thơ như tiếng thu, hồn thu vọng về.

Hai câu thơ tiếp theo trong phần thực là những nét vẽ tài ba làm rõ thêm cái hồn của cảnh thu:

Màu “biếc” của sóng hòa hợp với sắc “vàng” của lá vẽ nên bức tranh quê đơn sơ mà lộng lẫy. Nghệ thuật đối trong phần thực rất điêu luyện, “lá vàng ” với “sóng biếc ”, tốc độ “vèo” của lá bay tương ứng với mức độ “tí” của gợn sóng. Nhà thơ Tản Đà đã hết lời ca ngợi chữ “vèo” trong thơ của Nguyễn Khuyến. Ông đã nói một đời thơ của mình may ra mới có được một câu thơ vừa ý trong bài “Cảm thu, tiễn thu”: “Vèo trông lá rụng đầy sân”.

Advertisement

Hai câu luận mở rộng không gian miêu tả. Bức tranh thu có thêm chiều cao của bầu Trời “xanh ngắt” với những tầng mây “lơ lửng” trôi theo chiều gió nhẹ. “Xanh ngắt” là xanh mà có chiều sâu. Trời thu không mây (mây xám), mà xanh ngắt một màu thăm thẳm. Xanh ngắt đã gợi ra cái sâu, cái lắng của không gian, cái nhìn vời vợi của nhà thơ, của ông lão đang câu cá. Thế rồi, ông lơ đãng đưa mắt nhìn về bốn phía làng quê. Hình như người dân quê đã ra đồng hết. Xóm thôn vắng lặng, vắng teo. Mọi con đường quanh co, hun hút, không một bóng người qua lại:

“Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”

Cảnh vật êm đềm, thoáng một nỗi buồn cô tịch, hiu hắt. Người câu cá như đang chìm trong một giấc mộng mùa thu. Tất cả cảnh vật từ mặt nước “ao thu lạnh lẽo” đến “chiếc thuyền câu bé tẻo teo”, từ “sóng biếc” đến “lá vàng”, từ “tầng mây lơ lửng” đến “ngõ trúc quanh co” hiện lên với đường nét, màu sắc, âm thanh… có khi thoáng chút bâng khuâng, man mác, nhưng rất gần gũi, thân thiết với mỗi con người Việt Nam. Phong cảnh thiên nhiên của mùa thu quê hương sao đáng yêu thế!

Cái ý vị của bài thơ “Thu điếu” là ở hai câu kết:

“Tựa gối ôm cần” là tư thế của người câu cá cũng là một tâm thế nhàn của một nhà thơ đã thoát vòng danh lợi. Cái âm thanh “cá đâu đớp động”, nhất là từ “đâu” gợi lên sự mơ hồ, xa vắng và chợt tỉnh. Người câu cá ở đây chính là nhà thơ, một ông quan to triều Nguyễn, yêu nước thương dân nhưng bất lực trước thời cuộc, không cam tâm làm tay sai cho thực dân Pháp đã cáo bệnh, từ quan. Đằng sau câu chữ hiện lên một nhà nho thanh sạch trốn đời đi ở ẩn. Đang ôm cần đi câu cá nhưng tâm hồn nhà thơ như đang đắm chìm trong giấc mộng mùa thu, bỗng chợt tỉnh trở về thực tại khi “cá đâu đớp động dưới chân bèo”. Cho nên cảnh vật ao thu, trời thu êm đềm, vắng lặng như chính nỗi lòng của nhà thơ vậy: “buồn, cô đơn và trống vắng”.

Soạn Bài Thực Hành Về Hàm Ý Soạn Văn 12 Tập 2 Bài 24 (Trang 79)

Soạn văn Thực hành về hàm ý

Hướng dẫn làm bài tập:

Câu 1. Đọc đoạn trích trong SGK và trả lời câu hỏi

a. Nếu căn cứ vào lời đáp của A Phủ đối với câu hỏi của Pá Tra thì:

(1) Lời đáp đó thiếu thông tin gì cần thiết đối với yêu cầu của câu hỏi?

(2) Lời đáp đó thừa thông tin gì cần thiết đối với yêu cầu của câu hỏi?

(3) Cách trả lời của A Phủ có hàm ý gì và thể hiện sự khôn khéo như thế nào?

b. Từ sự phân tích trên, hãy nhớ lại kiến thức đã học ở Trung học cơ sở: Thế nào là hàm ý? Căn cứ vào phương châm hội thoại đã được học ở Trung học cơ sở, thì ở đoạn trích trên, A Phủ đã chủ ý vi phạm phương châm về lượng (lượng tin) khi giao tiếp như thế nào?

Gợi ý:

a. Nếu căn cứ vào nghĩa tường minh trong lời đáp của A Phủ thì:

(1) Lời đáp của A Phủ thiếu thông tin: số lượng bò bị mất (mất bao nhiêu con bò).

(2) Lời đáp thừa thông tin so với yêu cầu của câu hỏi: A Phủ nói đến việc dự định và niềm tin của mình.

(3) Cách trả lời của A Phủ có sự khôn khéo là: không trả lời thẳng mà gián tiếp công nhận việc để mất bò, sau đó “xin” được “lấy công chuộc tội”.

b.

– Khái niệm: Hàm ý là những nội dung, ý nghĩ mà người nói không nói ra trực tiếp bằng từ ngữ, tuy vẫn có ý định truyền báo đến người nghe, còn người nghe phải dựa vào nghĩa tường minh của câu và tình huống giao tiếp để suy ra thì mới hiểu đúng, hiểu hết ý của người nói.

– A Phủ đã vi phạm phương châm về lượng (lượng tin) trong giao tiếp: đưa thêm những thông tin không cần thiết cho câu hỏi trước đó.

Câu 2.

a. Bá Kiến nói: “Tôi không phải là kho”, nói thế là có hàm ý gì? Cách nói như thế có đảm bảo phương châm cách thức (cần nói rõ ràng, rành mạch) không?

b. Ở lượt lời thứ nhất và thứ hai của Bá Kiến có những câu dạng câu hỏi. Những câu đó thực hiện hành động nói gì? Chúng có hàm ý như thế nào?

c. Ở lượt lời thứ nhất và thứ hai của mình, Chí Phèo đều không nói hết ý. Phần hàm ý còn lại được tường minh hóa (được nói rõ) ở lượt lời nào? Cách nói ở hai lượt lời đầu của Chí Phèo không đảm bảo phương châm về lượng và phương châm cách thức như thế nào?

Gợi ý:

a.

– Câu nói của Bá Kiến có hàm ý: từ chối trước lời đề nghị xin tiền như mọi khi của Chí Phèo.

– Cách nói trên không đảm bảo phương châm cách thức (không nói rõ ràng, rành mạch).

b.

– Những dạng câu hỏi:

Lượt lời thứ nhất: “Chí Phèo đấy hở?”. Câu này không nhằm mục đích hỏi. Bá Kiến dùng câu hỏi để thực hiện hành động chào hỏi. Hàm ý của câu hỏi đó là Chí Phèo đến có chuyện gì.

Lượt lời thứ hai: “Rồi làm ăn chứ cứ bám người ta mãi à?”.Câu này nhằm mục đích thực hiện hành động thúc giục, bá Kiến có hàm ý ra lệnh cho Chí: “Hãy làm lấy mà ăn”.

c.

– Hàm ý này được tường minh hóa, nói rõ ở lượt lời cuối cùng: “Tao muốn làm người lương thiện”.

– Hai lượt lời vi phạm phương châm về lượng, về cách thức: nói thiếu ý và nói một cách không rõ ràng.

Câu 3. Đọc truyện cười trong SGK và trả lời câu hỏi nêu ở dưới.

a. Lượt lời thứ nhất của bà đồ có hình thức câu hỏi nhưng thực chất là thực hiện hành động nói gì (ngăn cản, khuyên, đề nghị, khen…)? Ở lượt lời đó, bà đồ tỏ ý “khen tài văn chương” của ông đồ hay thực chất đánh giá như thế nào về văn chương của ông?

Advertisement

b. Vì sao bà đồ không nói thẳng ý mình mà chọn cách nói như trong truyện?

Gợi ý:

a.

– Lượt lời thứ nhất của bà đồ có hình thức câu hỏi nhưng thực chất là thực hiện hành động gợi ý.

– Ở lượt lời này, bà đồ thực chất đánh giá tài năng văn chương của ông đồ không hay. Bà đồ muốn khuyên ông nên sử dụng giấy cho có ích lợi, cho rằng ông đồ viết văn kém, ông dùng giấy để viết văn chỉ thêm lãng phí, hay bỏ phí giấy, vứt giấy đi một cách lãng phí.

b. Bà đồ không nói thẳng ý mình mà chọn cách nói như trọng truyện để thể hiện sự lịch sự, tránh vi phạm phương châm lịch sự.

Câu 4. Qua những phần trên, anh chị hãy xác định: để nói một câu có hàm ý, người ta thường dùng những cách thức nói như thế nào? Chọn phương án trả lời thích hợp.

Phương án đúng: D. Tùy ngữ cảnh mà sử dụng một hay phối hợp các cách thức trên.

Soạn Bài Bàn Về Đọc Sách Soạn Văn 9 Tập 2 Bài 18 (Trang 3)

Soạn bài Bàn về đọc sách

Hôm nay, chúng tôi sẽ giới thiệu tài liệu Soạn văn 9: Bàn về đọc sách. Nội dung chi tiết được đăng tải sau đây.

Soạn bài Bàn về đọc sách – Mẫu 1 Soạn văn Bàn về đọc sách chi tiết

I. Tác giả

Chu Quang Tiềm sinh năm 1897, mất năm 1986.

Quê quán: Trung Quốc

Ông là một nhà mĩ học và lý luận văn học nổi tiếng.

II. Tác phẩm

1. Xuất xứ

Tác phẩm được in trong cuốn “Danh nhân Trung Quốc bàn về niềm vui nỗi buồn của việc đọc sách” do Trần Đình Sử dịch.

2. Bố cục

Gồm 3 phần:

Phần 1. Từ đầu đến “nhằm phát hiện thế giới mới”: Tầm quan trọng của việc đọc sách.

Phần 2. Tiếp theo đến “tự tiêu hao lực lượng”. Những khó khăn của việc đọc sách hiện nay.

Phần 3. Còn lại. Phương pháp (cách lựa chọn) và cách đọc sách mang lại hiệu quả.

3. Tóm tắt

Sách là kho tàng quý báu cất giữ những di sản tinh thần của nhân loại, là cột mốc trên con đường tiến hoá của nhân loại. Sách đã ghi chép cô đúc và lưu truyền mọi tri thức, mọi thành tựu mà loài người tìm tòi, tích luỹ được qua từng thời đại. Lịch sử càng tiến lên, sách vở tích lũy càng nhiều, việc đọc sách cũng ngày càng không dễ. Vì vậy, cần có cách lựa chọn và cách đọc sách sao cho đúng đắn.

III. Đọc – hiểu văn bản

1. Tầm quan trọng của việc đọc sách

– Muốn phát triển và trưởng thành, con người phải tiếp thu, kế thừa có sáng tạo những tri thức, kinh nghiệm, thành tựu mà loài người đã tìm tòi, tích lũy được trong suốt quá trình phát triển lịch sử. Sách là kho tàng kinh nghiệm, là di sản tinh thần quý báu của loài người.

– Đối với mỗi con người, đọc sách là cách tốt nhất để tiếp thu kinh nghiệm xã hội, kinh nghiệm sống. Đọc sách còn là sự chuẩn bị để tiến hành cuộc trường chinh vạn dặm trên con đường học vấn, tích luỹ tri thức, khám phá và chinh phục thế giới.

2. Những khó khăn của việc đọc sách hiện nay

– Lượng sách in ra ngày càng nhiều, nếu không có sự lựa chọn, xử lý thông tin khoa học, con người dễ bối rối trước kho tàng tri thức khổng lồ mà nhân loại đã tích luỹ được. Chu Quang Tiềm đã chỉ ra một cách xác đáng những nguy hại thường gặp:

Sách nhiều khiến cho người ta không chuyên sâu, dễ sa vào lối “ăn tươi nuốt sống” chứ không kịp tiêu hoá, không biết nghiền ngẫm.

Sách nhiều khiến người đọc khó chọn lựa, lãng phí thời gian và sức lực với những cuốn không thật có ích.

3. Phương pháp (cách lựa chọn) và cách đọc sách mang lại hiệu quả

* Phương pháp chọn sách:

– Không tham đọc nhiều, đọc lung tung mà phải chọn cho tinh, đọc cho kỹ những quyển sách thực sự có giá trị, có ích cho mình.

– Cần đọc kỹ các cuốn sách, tài liệu cơ bản thuộc lĩnh vực chuyên môn, chuyên sâu của mình.

– Trong khi đọc chuyên sâu, không nên xem thường những loại sách thường thức, gần gũi với chuyên môn của mình. Tác giả khẳng định: “Trên đời không có học vấn nào là cô lập, không có liên hệ kế cận”, vì thế “không biết thông thì không thể chuyên, không biết rộng thì không thể nắm gọn. Trước biết rộng rồi sau mới nắm chắc, đó là trình tự để nắm vững bất cứ học vấn nào”.

* Cách đọc sách hiệu quả:

– Không nên đọc lướt qua, vừa đọc phải vừa suy ngẫm, “trầm ngâm tích luỹ tưởng tượng”, nhất là với các cuốn sách có giá trị.

– Không nên đọc một cách tràn lan, quyển nào có cũng đọc mà phải đọc một cách có kế hoạch và hệ thống. Có thể coi đọc sách là một công việc rèn luyện, một cuộc chuẩn bị âm thầm và gian khổ.

– Cũng theo tác giả, đọc sách không chỉ là việc học tập tri thức mà còn là chuyện rèn luyện tính cách, chuyện học làm người.

Tổng kết: 

– Nội dung: Đọc sách là một con đường quan trọng để tích lũy, nâng cao học vấn. Ngày nay, sách có nhiều, chính vì vậy cần phải biết chọn sách để đọc, đọc ít mà hiểu nhiều còn hơn là đọc nhiều mà rỗng.

– Nghệ thuật: lí lẽ xác đáng, dẫn chứng thuyết phục…

Soạn văn Bàn về đọc sách ngắn gọn

I. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Vấn đề nghị luận của bài viết này là gì? Dựa theo bố cục bài viết, hãy tóm tắt các luận điểm của tác giả khi triển khai vấn đề ấy.

– Vấn đề nghị luận: Đọc sách là con đường quan trọng để tích lũy, nâng cao học vấn, đọc sách có những khó khăn và phải có phương pháp đọc hiệu quả.

– Tóm tắt luận điểm:

Tầm quan trọng của việc đọc sách.

Những khó khăn của việc đọc sách hiện nay.

Phương pháp (cách lựa chọn) và cách đọc sách mang lại hiệu quả.

Câu 2. Qua lời bàn của Chu Quang Tiềm, em thấy sách có tầm quan trọng như thế nào, việc đọc sách có ý nghĩa gì?

– Tầm quan trọng của việc đọc sách: Ghi chép, lưu truyền mọi tri thức, thành tựu; Sách là những cột mốc trên con đường phát triển học thuật.

– Ý nghĩa của việc đọc sách: Là con đường quan trọng của học vấn, sự chuẩn bị cho cuộc trường chinh vạn dặm trên con đường học vấn, phát triển thế giới mới.

Câu 3. Muốn tích lũy học vấn, đọc sách có hiệu quả, tại sao trước tiên cần biết cách chọn lựa sách mà đọc? Theo tác giả, nên chọn lựa như thế nào?

– Trước tiên phải lựa sách mà đọc vì sách nhiều cũng có những nguy hại của nó:

– Sách nhiều khiến người ta không chuyên sâu, không biết nghiền ngẫm.

– Sách nhiều khó lựa chọn, người đọc dễ lạc hướng, lãng phí thời gian.

– Cách chọn lựa sách mà tác giả đưa ra:

Không tham đọc nhiều, đọc lung tung, phải đọc kỹ những cuốn thực sự có giá trị.

Đọc kĩ về sách, tài liệu thuộc lĩnh vực chuyên môn của mình.

Khi đọc chuyên sâu, không thể xem thường loại sách gần gũi với chuyên môn.

Câu 4. Phân tích lời bàn của tác giả bài viết về phương pháp đọc sách. Tìm hiểu cách lập luận, trình bày ở phần này.

Lời bàn của tác giả về phương pháp đọc sách:

– Không nên đọc lướt mà phải đọc kĩ, vừa đọc vừa suy ngẫm.

– Không đọc một cách tràn lan kiểu hứng thú mà phải đọc có hệ thống.

Câu 5. Bài viết “Bàn về đọc sách” có sức thuyết phục cao. Theo em, điều ấy được tạo nên từ những yếu tố cơ bản nào?

Yếu tố tạo nên sức thuyết phục cho bài văn:

– Bố cục chặt chẽ, hợp lý. Cách viết giàu hình ảnh, ví von cụ thể, thú vị.

– Phân tích cụ thể, dẫn dắt tự nhiên bằng giọng trò chuyện, tâm tình của một học giả uy tín. Nội dung các lời bàn rất đúng đắn, có tính triết lý sâu sắc.

II. Luyện tập

Phát biểu điều mà em thấm thía nhất khi học bài “Bàn về đọc sách”.

Gợi ý:

– Đọc sách là một con đường quan trọng để tích lũy, nâng cao học vấn.

– Ngày nay, sách có nhiều, chính vì vậy chúng ta cần phải biết chọn sách để đọc, cũng như có phương pháp đọc sách đúng đắn, đọc ít mà hiểu nhiều còn hơn là đọc nhiều mà rỗng.

Soạn bài Bàn về đọc sách – Mẫu 2

I. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Vấn đề nghị luận của bài viết này là gì? Dựa theo bố cục bài viết, hãy tóm tắt các luận điểm của tác giả khi triển khai vấn đề ấy.

– Vấn đề nghị luận của bài viết là: Đọc sách là con đường quan trọng để tích lũy, nâng cao học vấn, đọc sách có những khó khăn và phải có phương pháp đọc hiệu quả.

– Các luận điểm của tác giả khi triển khai vấn đề gồm:

Tầm quan trọng của việc đọc sách.

Những khó khăn của việc đọc sách hiện nay.

Phương pháp (cách lựa chọn) và cách đọc sách mang lại hiệu quả.

Câu 2. Qua lời bàn của Chu Quang Tiềm, em thấy sách có tầm quan trọng như thế nào, việc đọc sách có ý nghĩa gì?

Tầm quan trọng của việc đọc sách: Ghi chép, lưu truyền mọi tri thức, thành tựu; Sách là những cột mốc trên con đường phát triển học thuật.

Ý nghĩa của việc đọc sách: Là con đường quan trọng của học vấn, sự chuẩn bị cho cuộc trường chinh vạn dặm trên con đường học vấn, phát triển thế giới mới.

Câu 3. Muốn tích lũy học vấn, đọc sách có hiệu quả, tại sao trước tiên cần biết cách chọn lựa sách mà đọc? Theo tác giả, nên chọn lựa như thế nào?

– Muốn tích lũy học vấn, đọc sách có hiệu quả, tại sao trước tiên cần biết cách chọn lựa sách mà đọc vì sách nhiều cũng có những nguy hại của nó:

Nếu đọc quá nhiều sách sẽ khiến người đọc không hiểu chuyên sâu, không biết nghiền ngẫm.

Sách nhiều khiến cho người đọc khó lựa chọn, người đọc dễ lạc hướng, lãng phí thời gian.

– Cách chọn lựa sách mà tác giả đưa ra:

Không tham đọc nhiều, đọc lung tung, phải đọc kỹ những cuốn thực sự có giá trị.

Đọc kĩ về sách, tài liệu thuộc lĩnh vực chuyên môn của mình.

Khi đọc chuyên sâu, không thể xem thường loại sách gần gũi với chuyên môn.

Câu 4. Phân tích lời bàn của tác giả bài viết về phương pháp đọc sách. Tìm hiểu cách lập luận, trình bày ở phần này.

– Không nên đọc lướt mà phải đọc kĩ, vừa đọc vừa suy ngẫm: Có nghĩa là khi đọc cần suy nghĩ những vấn đề được đề cập đến trong cuốn sách, có thể đánh dấu vào những vấn đề khó hiểu để tìm kiếm kiến thức từ bên ngoài cuốn sách…

Câu 5. Bài viết “Bàn về đọc sách” có sức thuyết phục cao. Theo em, điều ấy được tạo nên từ những yếu tố cơ bản nào?

Yếu tố tạo nên sức thuyết phục cho bài văn: Bố cục chặt chẽ, luận điểm rõ ràng, dẫn chứng cụ thể.

II. Luyện tập

Phát biểu điều mà em thấm thía nhất khi học bài “Bàn về đọc sách”.

Gợi ý:

Sau khi đọc văn bản “Bàn về đọc sách”, chúng ta nhận thức được tầm quan trọng của việc đọc sách. Đó là con đường quan trọng để tích lũy, nâng cao học vấn. Nhưng việc đọc sách cần có phương pháp đúng đắn. Bởi ngày nay, sách có nhiều, chính vì vậy chúng ta cần phải biết chọn sách để đọc, cũng như có phương pháp đọc sách đúng đắn, đọc ít mà hiểu nhiều còn hơn là đọc nhiều mà rỗng.

Soạn bài Bàn về đọc sách – Mẫu 3

Câu 1.

– Vấn đề nghị luận của bài viết là: Tầm quan trọng của việc đọc sách và phương pháp đọc sách đúng đắn, khoa học.

– Dựa theo bố cục bài viết, tóm tắt các luận điểm của tác giả khi triển khai vấn đề:

Tầm quan trọng của việc đọc sách.

Những khó khăn của việc đọc sách hiện nay.

Phương pháp (cách lựa chọn) và cách đọc sách mang lại hiệu quả.

Câu 2.

– Qua lời bàn của Chu Quang Tiềm, em thấy sách có tầm quan trọng vô cùng to lớn:

Học tập kiến thức, kĩ năng cần thiết trong cuộc sống bởi sách là kho tàng tri thức của nhân loại

Chuẩn bị để tiến hành cuộc trường chinh vạn dặm trên con đường học vấn, tích luỹ tri thức, khám phá và chinh phục thế giới.

– Việc đọc sách có ý nghĩa: Đó là con đường quan trọng của học vấn, sự chuẩn bị cho cuộc trường chinh vạn dặm trên con đường học vấn, phát triển thế giới mới.

Advertisement

Câu 3.

– Muốn tích lũy học vấn, đọc sách có hiệu quả, tại sao trước tiên cần biết cách chọn sách:

Sách nhiều khiến cho người ta không chuyên sâu, dễ sa vào lối “ăn tươi nuốt sống” chứ không kịp tiêu hoá, không biết nghiền ngẫm.

Sách nhiều khiến người đọc khó chọn lựa, lãng phí thời gian và sức lực với những cuốn không thật có ích.

– Cách chọn lựa sách mà tác giả đưa ra:

Không tham đọc nhiều, đọc lung tung mà phải chọn cho tinh, đọc cho kỹ những quyển sách thực sự có giá trị, có ích cho mình.

Cần đọc kỹ các cuốn sách, tài liệu cơ bản thuộc lĩnh vực chuyên môn, chuyên sâu của mình.

Trong khi đọc chuyên sâu, không nên xem thường những loại sách thường thức, gần gũi với chuyên môn của mình. Tác giả khẳng định: “Trên đời không có học vấn nào là cô lập, không có liên hệ kế cận”, vì thế “không biết thông thì thông thể chuyên, không biết rộng thì không thể nắm gọn. Trước biết rộng rồi sau mới nắm chắc, đó là trình tự để nắm vững bất cứ học vấn nào”.

Câu 4.

Phân tích lời bàn của tác giả bài viết về phương pháp đọc sách:

– Không nên đọc lướt mà phải đọc kĩ, vừa đọc vừa suy ngẫm: Khi đọc sách không nên đọc quá nhanh, đọc lướt mà cần vừa đọc vừa nghiền ngẫm, suy nghĩ những vấn đề được đề cập đến trong cuốn sách, có thể đánh dấu vào những vấn đề khó hiểu để tìm kiếm kiến thức từ bên ngoài cuốn sách…

– Không đọc một cách tràn lan kiểu hứng thú mà phải đọc có hệ thống: Cần lựa chọn những cuốn sách phù hợp với nhu cầu của bản thân, đọc sách theo trình độ học vấn, đọc sách cũng cần có kế hoạch, lập mục tiêu cụ thể…

Câu 5.

Bài viết “Bàn về đọc sách” có sức thuyết phục cao. Theo em, điều ấy được tạo nên từ những yếu tố cơ:

Nội dung của bài viết rất cần thiết trong cuộc sống.

Các ý kiến nhận xét được đưa ra rõ ràng, xác đáng.

Bài viết có bố cục chặt chẽ, hợp lý, các ý được dẫn dắt rất tự nhiên.

-Sử dụng nhiều hình ảnh qua cách ví von vừa cụ thể vừa thú vị cũng là một yếu tố quan trọng làm nên sức thuyết phục của bài.

Soạn Bài Tổng Kết Về Từ Vựng (Luyện Tập Tổng Hợp) Soạn Văn 9 Tập 1 Bài 12 (Trang 158)

Soạn bài Tổng kết từ vựng

Mong rằng sẽ cung cấp cho các bạn học sinh lớp 9 để có thể chuẩn bị bài một cách nhanh chóng nhất.

1. So sánh hai dị bản của câu ca dao:

– Sự khác nhau trong hai dị bản trên: sử dụng từ “gật đầu” và “gật gù”.

– Giải thích:

Gật đầu: cúi đầu xuống rồi ngẩng lên ngay, thường để chào hỏi hay tỏ sự đồng ý.

Gật gù: gật nhẹ và nhiều lần, tỏ thái độ đồng tình, tán thưởng.

2. Nhận xét cách hiểu nghĩa từ ngữ của người vợ trong câu chuyện cười trong SGK:

– Cách nói của người chồng: “một chân sút” – dùng theo nghĩa chuyển với phương thức hoán dụ, chỉ người có khả năng ghi bàn tốt.

– Cách hiểu của người vợ: “một chân” – nghĩa gốc, một bộ phận trên cơ thể con người, dùng để di chuyển.

3. Đọc đoạn thơ trong SGK và trả lời câu hỏi.

– Từ được dùng theo nghĩa gốc: miệng, chân, tay

– Từ được dùng theo nghĩa chuyển:

vai (phương thức hoán dụ – vai áo).

đầu (phương thức ẩn dụ – đầu súng)

4. Vận dụng kiến thức đã học về trường từ vựng để phân tích cái hay trong cách dùng từ ở bài thơ:

(Vũ Quần Phương, Áo đỏ)

– Các trường từ vựng:

Màu sắc: đỏ, xanh, hồng

– Tác dụng: Xây dựng được những hình ảnh gây ấn tượng với người đọc, qua đó nhằm thể hiện một tình yêu mãnh liệu và cháy bỏng.

5. Đọc đoạn trích trong SGK và trả lời câu hỏi

– Các sự vật và hiện tượng trên được đặt tên theo cách: dùng từ ngữ có sẵn theo một nội dung mới (rạch có nhiều cây mái giầm – rạch Mái Giầm, kênh có nhiều bọ mắt – kênh Bọ Mắt…)

– Năm ví dụ về những sự vật, hiện tượng được gọi tên theo cách dựa vào đặc điểm riêng biệt của chúng: chuồn chuồn ớt (có màu đỏ), chim ruồi (loài chim nhỏ bé), áo đuôi tôi (hình dáng ở phía đuôi áo giống như đuôi tôm), cá ngựa (loài cá có hình dáng giống con ngựa), dưa bở (loại dưa có ruột rất bở)…

6. Truyện cười trong SGK phê phán điều gì?

– Từ “đốc tờ” – được phiên âm từ tiếng nước ngoài “doctor” có nghĩa là bác sĩ.

– Nhân vật này đã sử dụng cụm từ “bố đốc tờ” này để gọi bác sĩ – cho thấy hiện sính chữ.

Câu 1. Giải thích nghĩa của từ xuân trong các câu sau:

(Hồ Chí Minh)

Gợi ý:

– Từ xuân trong câu “Mùa xuân là tết trồng cây”: mùa chuyển tiếp từ đông sang hạ, thời tiết ấm dần lên, thường được coi là mở đầu của một năm.

– Từ xuân trong câu “Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”: thuộc về tuổi trẻ, coi là tươi đẹp, tràn đầy sức sống.

Câu 2. Từ nào không đồng nghĩa với các từ còn lại:

a. tổ quốc, tổ tiên, giang sơn, đất nước, quốc gia

b. mênh mông, bao la, bát ngát, rộng lớn, lung linh

c. vắng vẻ, hiu quạnh, hiu hắt, vắng ngắt, vắng mặt

d. thật thà, ngay thẳng, trung thực, thẳng thắn, dối trá

Gợi ý:

Các từ không đồng nghĩa với từ còn lại là:

a. tổ tiên

b. lung linh

c. vắng mặt

d. dối trá

Câu 3. Tìm các từ thuộc trường từ vựng sau:

– Sinh vật sống ở biển

– Nhiệt độ

– Tính cách con người

Gợi ý:

– Sinh vật sống ở biển: hải âu, hải cẩu, đồi mồi, bào ngư, sò huyết, cá mập…

– Nhiệt độ: nóng, lạnh, ấm, mát…

– Tính cách con người: hiền lành, tốt bụng, độc ác, dữ tợn…

1. So sánh hai dị bản của câu ca dao:

– Giống nhau: Tình cảm vợ chồng thắm thiết.

– Khác nhau: “gật đầu” và “gật gù”.

– Giải thích:

Gật đầu: cúi đầu xuống rồi ngẩng lên ngay, thường để chào hỏi hay tỏ sự đồng ý.

Gật gù: gật nhẹ và nhiều lần, tỏ thái độ đồng tình, tán thưởng.

2. Nhận xét cách hiểu nghĩa từ ngữ của người vợ trong câu chuyện cười trong SGK:

Cách nói của người chồng: “một chân sút” – dùng theo nghĩa chuyển với phương thức hoán dụ, chỉ người có khả năng ghi bàn tốt.

Cách hiểu của người vợ: “một chân” – nghĩa gốc, một bộ phận trên cơ thể con người, dùng để di chuyển.

3. Đọc đoạn thơ trong SGK và trả lời câu hỏi.

– Từ được dùng theo nghĩa gốc: miệng, chân, tay

– Từ được dùng theo nghĩa chuyển:

vai (phương thức hoán dụ – vai áo)

đầu (phương thức ẩn dụ – đầu súng)

4. Vận dụng kiến thức đã học về trường từ vựng để phân tích cái hay trong cách dùng từ ở bài thơ:

(Vũ Quần Phương, Áo đỏ)

– Các trường từ vựng:

Màu sắc: đỏ, xanh, hồng

– Tác dụng: Xây dựng được những hình ảnh gây ấn tượng với người đọc, qua đó nhằm thể hiện một tình yêu mãnh liệu và cháy bỏng.

Đọc đoạn trích trong SGK và trả lời câu hỏi

– Các sự vật và hiện tượng trên được đặt tên theo cách: dùng từ ngữ có sẵn theo một nội dung mới (rạch có nhiều cây mái giầm – rạch Mái Giầm, kênh có nhiều bọ mắt – kênh Bọ Mắt…)

– Năm ví dụ về những sự vật, hiện tượng được gọi tên theo cách dựa vào đặc điểm riêng biệt của chúng: chuồn chuồn ớt (có màu đỏ), chim ruồi (loài chim nhỏ bé), áo đuôi tôi (hình dáng ở phía đuôi áo giống như đuôi tôm), cá ngựa (loài cá có hình dáng giống con ngựa), dưa bở (loại dưa có ruột rất bở)…

5. Truyện cười trong SGK phê phán điều gì?

– Từ “đốc tờ” – được phiên âm từ tiếng nước ngoài “doctor” có nghĩa là bác sĩ.

– Nhân vật này đã sử dụng cụm từ “bố đốc tờ” này để gọi bác sĩ – cho thấy hiện sính chữ.

Câu 1. Viết một đoạn văn tả mùa xuân có sử dụng từ đồng nghĩa.

Advertisement

Gợi ý:

Mùa xuân là mùa bắt đầu của một năm, cũng là mùa đẹp nhất trong năm. Khi mùa xuân đến, cảnh vật như vừa lấy lại sức sống mới. Tiết trời se lạnh, gió thổi man mác. Từng đợt gió nhẹ thoảng qua, cành lá khẽ lung lay để lộ ra những giọt sương long lanh huyền ảo. Mặt trời vừa mới nhô lên tỏa ánh nắng sưởi ấm vạn vật. Chim hót ríu rít đón chào ngày mới. Trong vườn, chị Hồng chợt tỉnh giấc rồi hòa vào đám bạn đang đua nhau khoe sắc. Các chú bướm bay rập rờn cùng bầy ong thợ chăm chỉ hút mật làm cho khu vườn thêm nhộn nhịp. Những bông hoa mai vàng thắm bừng nở báo hiệu một mùa xuân ấm áp đã đến. Khung cảnh khu vườn như một bức tranh thiên nhiên rực rỡ được họa sĩ nào đó vẽ lên. Mùa xuân đến, con người cũng cảm thấy hân hoan hơn. Chúng ta chào đón một năm mới đến với những niềm vui mới. Mùa xuân gắn với ngày tết cổ truyền của dân tộc. Người lớn rộn ràng chuẩn bị để đón tết. Trẻ em thích thú vì được sắm sửa quần áo mới. Các khu chợ ngày tết thật đông đúc. Nhưng tôi thích nhất là mỗi ngày tết, gia đình mình được sum họp bên nhau trong đêm giao thừa với mâm cơm ấm áp sau một năm làm việc bận rộn. Mọi người cùng trò chuyện về một năm cũ đã qua, hứa hẹn về một năm mới sắp đến… Một mùa xuân tuyệt vời biết bao!

Từ đồng nghĩa: tấp nập, đông đúc.

Câu 2. Tìm các ví dụ về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.

Gợi ý:

– Từ đồng âm: chú ba, số ba.

– Từ nhiều nghĩa: chân tay (nghĩa gốc), tay vợt (nghĩa bóng).

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài Ôn Tập Phần Làm Văn Soạn Văn 12 Tập 2 Tuần 32 (Trang 182) trên website Fsey.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!