Xu Hướng 2/2024 # Soạn Bài Thuyết Minh Về Một Phương Pháp (Cách Làm) Soạn Văn 8 Tập 2 Bài 19 (Trang 24) # Top 2 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài Thuyết Minh Về Một Phương Pháp (Cách Làm) Soạn Văn 8 Tập 2 Bài 19 (Trang 24) được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Fsey.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Soạn bài Thuyết minh về một phương pháp (cách làm)

Chúng tôi mong rằng tài liệu này có thể giúp ích cho các bạn học sinh lớp 8 chuẩn bị bài trước khi đến lớp.

Soạn bài Thuyết minh về một phương pháp (cách làm) I. Giới thiệu một phương pháp (cách làm)

Đọc các văn bản trong SGK và trả lời câu hỏi:

– Khi cần thuyết minh cách làm một đồ vật (hay cách nấu món ăn, may quần áo…), người ta thường nêu những nội dung sau:

Nguyên/vật liệu

Các bước thực hiện

Yêu cầu thành/sản phẩm

– Cách làm được trình bày theo thứ tự trước sau, lần lượt từng bước.

Tổng kết:

Khi giới thiệu một phương pháp (cách làm) nào, người viết phải tìm hiểu, nắm chắc phương pháp, cách làm đó.

Khi thuyết minh, cần trình bày rõ điều kiện, cách thức, trình tự… làm ra sản phẩm và yêu cầu chất lượng đối với sản phẩm đó.

Lời văn cần ngắn gọn, rõ ràng.

II. Luyện tập

Câu 1. Hãy tự chọn một đồ chơi, trò chơi quen thuộc và lập dàn bài thuyết minh cách làm, cách chơi trò chơi đó. Yêu cầu trình bày rõ ràng, mạch lạc.

Gợi ý:

(1) Mở bài: Giới thiệu chung về trò chơi bịt mắt bắt dê.

(2) Thân bài

– Không gian chơi: Trò chơi bịt mắt bắt dê thường được chơi ở những nơi rộng rãi như sân cỏ, công viên.

– Số lượng người chơi: Không giới hạn, thường rất đông và khoảng từ mười đến hai mươi người.

– Cách chơi: Những người chơi sẽ nắm tay nhau để tạo ra một vòng tròn. Tất cả những người chơi sẽ oẳn tù xì để quyết định xem ai là người làm. Người thua sẽ phải bịt mắt lại bằng một chiếc khăn để không nhìn thấy. Những người còn lại đứng thành vòng tròn quanh người bị bịt mắt. Mọi người chạy xung quanh người bị bịt mắt đến khi nào người đó hô “bắt đầu” hoặc “đứng lại” thì tất cả mọi người phải đứng lại, không được di chuyển nữa.

– Kết quả: Nếu người làm bắt được “dê” và đoán đúng tên thì người đó sẽ phải ra “bắt dê”. Còn nếu đoán sai lại bị bịt mắt lại và làm tiếp.

(3) Kết bài: Suy nghĩ về trò chơi bịt mắt bắt dê.

Câu 2. Đọc bài giới thiệu “Phương pháp học nhanh” (trang 26 SGK Ngữ văn 8 tập 2). Hãy chỉ ra cách đặt vấn đề, cách đọc và đặc biệt là nội dung và hiệu quả của phương pháp đọc nhanh được nêu trong bài. Các số liệu trong bài có ý nghĩa gì đối với việc giới thiệu phương pháp đọc nhanh?

Gợi ý:

– Cách đặt vấn đề: Vì sao cần phải có phương pháp đọc nhanh?

Khoa học phát triển nhanh, đã có máy điện tử. Nhưng con người vẫn là trung tâm của thiên nhiên, máy móc. Con người phải đọc, phải tích lũy kiến thức và tiết kiệm thời gian. Nếu chỉ đọc theo kiểu thông thường (150 – 200 từ/phút) thì mỗi người suốt đời chỉ đọc được 2 – 3 nghìn quyển sách. Muốn tiến kịp thời đại, có thể đọc được từ 50 – 100 nghìn cuốn sách thì phải có cách đọc mới, đó là phương pháp đọc nhanh.

– Cách đọc:

Phương pháp đọc truyền thống là phương pháp đọc từ (đọc thành vần, nhiều vần thành từ, và nhiều từ thành câu và khi đọc phải phát âm), mỗi phút chỉ đọc được 150 – 200 từ/ phút.

Phương pháp đọc thứ hai là phương pháp đọc ý, chỉ thu nhận ý, lướt qua, lọc bỏ những thông tin không cần thiết gọi là lướt.

– Bí quyết của phương pháp đọc mới như thế nào?

Chỉ cần một cái nhìn đã bao trùm lên 6 – 7 dòng và đôi khi cả trang. Không đọc theo đường ngang mà mắt luôn chuyển động theo đường dọc từ trên xuống dưới. Cách đọc mới, cơ mắt ít mỏi, mà lại thâu tóm được toàn bộ nội dung chứa trong trang sách, trong toàn bộ bài viết. Phương pháp đọc nhanh ai cũng học được nhưng phải tập trung cao, có ý chí lớn.

Advertisement

Phương pháp đọc nhanh đã được phổ biến khá rộng. Có một số nhà văn, nhà chính trị có phương pháp đọc nhanh kỳ lạ: Na-pô-lê-ông đọc tốc độ 2000 từ/ phút, Ban-dắc đọc tốc độ 4000 từ/phút, Mác-xim Go-rơ-ki đọc mỗi trang sách chỉ mất vài giây. Hiện nay trên thế giới, nhiều nước tiên tiến mở các lớp đọc nhanh. Học viên sau lớp học có thể đọc từ 1500 từ/phút, thậm chí tốc độ đọc lên tới 12.000 từ/phút đối với những bài viết nhẹ nhàng đơn giản như truyện trinh thám.

– Các số liệu giúp cho bài đọc có độ chính xác, tin cậy cao hơn.

Soạn Bài Ôn Tập Về Văn Bản Thuyết Minh Soạn Văn 8 Tập 2 Bài 20 (Trang 35)

Soạn bài Ôn tập về văn bản thuyết minh

Câu 1. Văn bản thuyết minh có vai trò và tác dụng như thế nào trong đời sống?

Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp tri thức (kiến thức) về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân… của các hiện tượng và các sự vật trong tự nhiên xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích.

Câu 2. Văn bản thuyết minh có những tính chất gì khác với văn bản tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận?

Văn tự sự: Kể lại sự việc, nhân vật theo một trình tự.

Văn miêu tả: Tái hiện đặc điểm tính chất của con người, sự vật.

Văn biểu cảm: Thiên về bộc lộ cảm xúc, tình cảm.

Văn nghị luận: Trình bày ý kiến, luận điểm.

Văn thuyết minh: Cung cấp tri thức khách quan về sự vật, hiện tượng…

Câu 3. Muốn làm tốt bài văn thuyết minh, cần phải chuẩn bị những gì? Bài văn thuyết minh phải làm nổi bật điều gì?

Muốn làm tốt bài văn thuyết minh, người viết phải:

Quan sát, tìm hiểu về sự vật, hiện tượng cần thuyết minh.

Nắm bắt bản chất đặc trưng của sự vật, hiện tượng cần thuyết minh.

Câu 4. Những phương pháp thuyết minh nào thường được chú ý vận dụng?

Các phương pháp thuyết minh như: nêu định nghĩa, giải thích, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, so sánh, phân tích, phân loại.

Câu 1.  Hãy nêu cách lập ý và lập dàn bài đối với các đề bài sau:

a. Giới thiệu một đồ dùng trong học tập hoặc sinh hoạt

(1) Mở bài: Giới thiệu khái quát về đồ dùng trong học tập hoặc sinh hoạt.

(2) Thân bài:

Cấu tạo của đồ dùng

Đặc điểm của đồ dùng.

Vai trò của đồ dùng

(3) Kết bài

Giá trị của đồ dùng đối với cuộc sống.

b. Giới thiệu một danh lam thắng cảnh ở quê hương em

(1). Mở bài: Giới thiệu chung về danh lam thắng cảnh.

(2) Thân bài

Vị trí địa lí, quá trình hình thành và phát triển

Cấu trúc, quy mô

Sơ lược sự tích, hiện vật trưng bà

Phong tục, lễ hội

(3) Kết bài

Ý nghĩa lịch sử, văn hóa xã hội của thắng cảnh.

c. Thuyết minh về một văn bản, một thể loại văn học mà em đã học.

(1) Mở bài

Khái quát chung về văn bản hoặc thể loại đó.

(2) Thân bài

Đặc điểm nội dung

Đặc điểm hình thức

Giá trị của văn bản hoặc thể loại.

(3) Kết bài

Cảm nhận của em về vẻ đẹp của thể loại văn học đó.

d. Giới thiệu một phương pháp (làm đồ dùng học tập, thí nghiệm)

(1) Mở bài:

Giới thiệu khái quát về phương pháp.

(2) Thân bài

– Nguyên vật liệu.

– Cách làm.

– Yêu cầu thành phẩm.

(3) Kết bài

Khẳng định lại giá trị của sản phẩm.

Câu 2. Tập viết đoạn văn theo các đề bài sau

a. Giới thiệu một đồ dùng trong học tập hoặc sinh hoạt

Chiếc thước kẻ có hình chữ nhật. Chiều dài của thước là 20 xăng-ti-mét. Trên mặt thước có in các vạch kẻ màu đen theo đơn vị xăng-ti-mét. Thước có màu trong suốt, rất dẻo dai. Phía góc bên trái còn in những bông hoa đào.

b. Giới thiệu một danh lam thắng cảnh ở quê hương em

Thành Cổ Loa được xây dựng vào khoảng thế kỷ III TCN, dưới thời trị vì của An Dương Vương, do sự chỉ đạo trực tiếp của Cao Lỗ. Thành tọa lạc tại một khu đất đồi nằm ở tả ngạn sông Hoàng – vốn là một nhánh lớn của sông Hồng. Ở thời Âu Lạc thì vị trí của Cổ Loa nằm ngay tam giác châu thổ sông Hồng, là nơi giao lưu giữa đường thủy và đường bộ. Đây được coi là vị trí có thể kiểm soát được cả đồng bằng lẫn vùng núi nên được chọn làm kinh đô.

c. Thuyết minh về một văn bản, một thể loại văn học mà em đã học.

Trước hết, về khái niệm truyện ngắn, sẽ có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau. Nhưng hiểu đơn giản thì đúng như tên gọi của nó, truyện ngắn là một thể loại văn học, với các câu truyện được kể bằng văn xuôi. Có dung lượng ngắn gọn, súc tích và hàm nghĩa hơn các câu truyện dài như tiểu thuyết. Thông thường truyện ngắn có độ dài chỉ từ vài dòng đến vài chục trang, trong khi đó tiểu thuyết rất khó dừng lại ở con số đó. Vì thế, tình huống truyện luôn là vấn đề quan trọng bậc nhất của nghệ thuật truyện ngắn.

d. Giới thiệu một phương pháp (làm đồ dùng học tập, thí nghiệm)

Khi học văn, chúng ta cần rèn luyện kĩ năng viết. Viết nhiều, văn chương được luyện dẻo, khi bạn viết sẽ cảm thấy như một thói quen. Viết nhiều thì tay càng dẻo, văn càng ngày càng bóng bẩy, mượt mà hơn. Bạn có thể dành ra mỗi ngày ba mươi phút hoặc nếu có thời gian là khoảng một tiếng đồng hồ để dành cho việc viết văn. Việc tập làm quen với việc viết về những vấn đề văn học không chỉ giúp bạn nắm chắc kiến thức một lần nữa, mà còn giúp cho ta viết nhanh hơn, sức viết kéo dài hơn,… Sau một thời gian, đảm bảo bạn sẽ không đến với văn chương như một nỗi sợ hãi nữa. Nhưng để làm được điều này thì cần phải chăm chỉ luyện tập. Văn không ngày một ngày hai mà hay, người không phải ngày một ngày hai mà giỏi. Chính vì vậy mà vấn đề tự học một lần nữa lại được đặt lên hàng đầu. Tự học là cách tốt nhất giúp ta tự ôn luyện được kiến thức đồng thời củng cố và bồi đắp thêm vốn kiến thức của mình.

e. Thuyết minh về một giống vật nuôi

Chó là một loại động vật có rất nhiều vai trò trong cuộc sống của con người: phổ biến nhất là trong coi nhà cửa, huấn luyện để săn bắn, chó dùng trong nghiệp vụ (cứu hộ, truy bắt tội phạm…). Nhờ thông minh, chó có thể dễ dàng tiếp thu những mệnh lệnh của con người để làm theo. Chúng cũng là một loài động vật rất trung thành. Mối quan hệ giữa con người và loài chó đang ngày càng trở nên gắn bó hơn. Vậy nên mới có rất nhiều câu chuyện cảm động về loài chó hy sinh mạng sống để cứu chủ của mình. Ở một số nơi, trong đời sống tâm linh, chó còn trở thành linh vật, được thờ cúng…

Advertisement

g. Giới thiệu một sản phẩm, trò chơi mang bản sắc Việt (như chiếc nón lá, chiếc áo dài, trò chơi thả diều)

Nón lá bao gồm rất nhiều loại khác nhau. Chúng ta có nón quai thao, nón rơm, nón bài thơ (trong nón có thêu một vài câu thơ)… Trong đời sống hàng ngày, chiếc nón lá vô cùng hữu ích, đó chính là dùng để che nắng che mưa. Với đặc tính là vành tương đối rộng, người sử dụng sẽ không lo bị ướt mỗi khi trời mưa hay không lo bị nắng chiếu vào. Không chỉ che nắng, che mưa cho người sử dụng mà chiếc nón lá còn trở thành một biểu tượng cho vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Từ ngàn đời, phụ nữ Việt trong tà áo dài và đội chiếc nón lá đã trở thành một biểu tượng vô cùng đẹp cho dân tộc. Trong văn hóa nghệ thuật, nón lá được sử dụng như là một đạo cụ trong biểu diễn, múa nón trở thành một điệu múa tiêu biểu cho sân khấu dân gian.

Soạn Bài Thực Hành Về Hàm Ý Soạn Văn 12 Tập 2 Bài 24 (Trang 79)

Soạn văn Thực hành về hàm ý

Hướng dẫn làm bài tập:

Câu 1. Đọc đoạn trích trong SGK và trả lời câu hỏi

a. Nếu căn cứ vào lời đáp của A Phủ đối với câu hỏi của Pá Tra thì:

(1) Lời đáp đó thiếu thông tin gì cần thiết đối với yêu cầu của câu hỏi?

(2) Lời đáp đó thừa thông tin gì cần thiết đối với yêu cầu của câu hỏi?

(3) Cách trả lời của A Phủ có hàm ý gì và thể hiện sự khôn khéo như thế nào?

b. Từ sự phân tích trên, hãy nhớ lại kiến thức đã học ở Trung học cơ sở: Thế nào là hàm ý? Căn cứ vào phương châm hội thoại đã được học ở Trung học cơ sở, thì ở đoạn trích trên, A Phủ đã chủ ý vi phạm phương châm về lượng (lượng tin) khi giao tiếp như thế nào?

Gợi ý:

a. Nếu căn cứ vào nghĩa tường minh trong lời đáp của A Phủ thì:

(1) Lời đáp của A Phủ thiếu thông tin: số lượng bò bị mất (mất bao nhiêu con bò).

(2) Lời đáp thừa thông tin so với yêu cầu của câu hỏi: A Phủ nói đến việc dự định và niềm tin của mình.

(3) Cách trả lời của A Phủ có sự khôn khéo là: không trả lời thẳng mà gián tiếp công nhận việc để mất bò, sau đó “xin” được “lấy công chuộc tội”.

b.

– Khái niệm: Hàm ý là những nội dung, ý nghĩ mà người nói không nói ra trực tiếp bằng từ ngữ, tuy vẫn có ý định truyền báo đến người nghe, còn người nghe phải dựa vào nghĩa tường minh của câu và tình huống giao tiếp để suy ra thì mới hiểu đúng, hiểu hết ý của người nói.

– A Phủ đã vi phạm phương châm về lượng (lượng tin) trong giao tiếp: đưa thêm những thông tin không cần thiết cho câu hỏi trước đó.

Câu 2.

a. Bá Kiến nói: “Tôi không phải là kho”, nói thế là có hàm ý gì? Cách nói như thế có đảm bảo phương châm cách thức (cần nói rõ ràng, rành mạch) không?

b. Ở lượt lời thứ nhất và thứ hai của Bá Kiến có những câu dạng câu hỏi. Những câu đó thực hiện hành động nói gì? Chúng có hàm ý như thế nào?

c. Ở lượt lời thứ nhất và thứ hai của mình, Chí Phèo đều không nói hết ý. Phần hàm ý còn lại được tường minh hóa (được nói rõ) ở lượt lời nào? Cách nói ở hai lượt lời đầu của Chí Phèo không đảm bảo phương châm về lượng và phương châm cách thức như thế nào?

Gợi ý:

a.

– Câu nói của Bá Kiến có hàm ý: từ chối trước lời đề nghị xin tiền như mọi khi của Chí Phèo.

– Cách nói trên không đảm bảo phương châm cách thức (không nói rõ ràng, rành mạch).

b.

– Những dạng câu hỏi:

Lượt lời thứ nhất: “Chí Phèo đấy hở?”. Câu này không nhằm mục đích hỏi. Bá Kiến dùng câu hỏi để thực hiện hành động chào hỏi. Hàm ý của câu hỏi đó là Chí Phèo đến có chuyện gì.

Lượt lời thứ hai: “Rồi làm ăn chứ cứ bám người ta mãi à?”.Câu này nhằm mục đích thực hiện hành động thúc giục, bá Kiến có hàm ý ra lệnh cho Chí: “Hãy làm lấy mà ăn”.

c.

– Hàm ý này được tường minh hóa, nói rõ ở lượt lời cuối cùng: “Tao muốn làm người lương thiện”.

– Hai lượt lời vi phạm phương châm về lượng, về cách thức: nói thiếu ý và nói một cách không rõ ràng.

Câu 3. Đọc truyện cười trong SGK và trả lời câu hỏi nêu ở dưới.

a. Lượt lời thứ nhất của bà đồ có hình thức câu hỏi nhưng thực chất là thực hiện hành động nói gì (ngăn cản, khuyên, đề nghị, khen…)? Ở lượt lời đó, bà đồ tỏ ý “khen tài văn chương” của ông đồ hay thực chất đánh giá như thế nào về văn chương của ông?

Advertisement

b. Vì sao bà đồ không nói thẳng ý mình mà chọn cách nói như trong truyện?

Gợi ý:

a.

– Lượt lời thứ nhất của bà đồ có hình thức câu hỏi nhưng thực chất là thực hiện hành động gợi ý.

– Ở lượt lời này, bà đồ thực chất đánh giá tài năng văn chương của ông đồ không hay. Bà đồ muốn khuyên ông nên sử dụng giấy cho có ích lợi, cho rằng ông đồ viết văn kém, ông dùng giấy để viết văn chỉ thêm lãng phí, hay bỏ phí giấy, vứt giấy đi một cách lãng phí.

b. Bà đồ không nói thẳng ý mình mà chọn cách nói như trọng truyện để thể hiện sự lịch sự, tránh vi phạm phương châm lịch sự.

Câu 4. Qua những phần trên, anh chị hãy xác định: để nói một câu có hàm ý, người ta thường dùng những cách thức nói như thế nào? Chọn phương án trả lời thích hợp.

Phương án đúng: D. Tùy ngữ cảnh mà sử dụng một hay phối hợp các cách thức trên.

Soạn Bài Bàn Về Đọc Sách Soạn Văn 9 Tập 2 Bài 18 (Trang 3)

Soạn bài Bàn về đọc sách

Hôm nay, chúng tôi sẽ giới thiệu tài liệu Soạn văn 9: Bàn về đọc sách. Nội dung chi tiết được đăng tải sau đây.

Soạn bài Bàn về đọc sách – Mẫu 1 Soạn văn Bàn về đọc sách chi tiết

I. Tác giả

Chu Quang Tiềm sinh năm 1897, mất năm 1986.

Quê quán: Trung Quốc

Ông là một nhà mĩ học và lý luận văn học nổi tiếng.

II. Tác phẩm

1. Xuất xứ

Tác phẩm được in trong cuốn “Danh nhân Trung Quốc bàn về niềm vui nỗi buồn của việc đọc sách” do Trần Đình Sử dịch.

2. Bố cục

Gồm 3 phần:

Phần 1. Từ đầu đến “nhằm phát hiện thế giới mới”: Tầm quan trọng của việc đọc sách.

Phần 2. Tiếp theo đến “tự tiêu hao lực lượng”. Những khó khăn của việc đọc sách hiện nay.

Phần 3. Còn lại. Phương pháp (cách lựa chọn) và cách đọc sách mang lại hiệu quả.

3. Tóm tắt

Sách là kho tàng quý báu cất giữ những di sản tinh thần của nhân loại, là cột mốc trên con đường tiến hoá của nhân loại. Sách đã ghi chép cô đúc và lưu truyền mọi tri thức, mọi thành tựu mà loài người tìm tòi, tích luỹ được qua từng thời đại. Lịch sử càng tiến lên, sách vở tích lũy càng nhiều, việc đọc sách cũng ngày càng không dễ. Vì vậy, cần có cách lựa chọn và cách đọc sách sao cho đúng đắn.

III. Đọc – hiểu văn bản

1. Tầm quan trọng của việc đọc sách

– Muốn phát triển và trưởng thành, con người phải tiếp thu, kế thừa có sáng tạo những tri thức, kinh nghiệm, thành tựu mà loài người đã tìm tòi, tích lũy được trong suốt quá trình phát triển lịch sử. Sách là kho tàng kinh nghiệm, là di sản tinh thần quý báu của loài người.

– Đối với mỗi con người, đọc sách là cách tốt nhất để tiếp thu kinh nghiệm xã hội, kinh nghiệm sống. Đọc sách còn là sự chuẩn bị để tiến hành cuộc trường chinh vạn dặm trên con đường học vấn, tích luỹ tri thức, khám phá và chinh phục thế giới.

2. Những khó khăn của việc đọc sách hiện nay

– Lượng sách in ra ngày càng nhiều, nếu không có sự lựa chọn, xử lý thông tin khoa học, con người dễ bối rối trước kho tàng tri thức khổng lồ mà nhân loại đã tích luỹ được. Chu Quang Tiềm đã chỉ ra một cách xác đáng những nguy hại thường gặp:

Sách nhiều khiến cho người ta không chuyên sâu, dễ sa vào lối “ăn tươi nuốt sống” chứ không kịp tiêu hoá, không biết nghiền ngẫm.

Sách nhiều khiến người đọc khó chọn lựa, lãng phí thời gian và sức lực với những cuốn không thật có ích.

3. Phương pháp (cách lựa chọn) và cách đọc sách mang lại hiệu quả

* Phương pháp chọn sách:

– Không tham đọc nhiều, đọc lung tung mà phải chọn cho tinh, đọc cho kỹ những quyển sách thực sự có giá trị, có ích cho mình.

– Cần đọc kỹ các cuốn sách, tài liệu cơ bản thuộc lĩnh vực chuyên môn, chuyên sâu của mình.

– Trong khi đọc chuyên sâu, không nên xem thường những loại sách thường thức, gần gũi với chuyên môn của mình. Tác giả khẳng định: “Trên đời không có học vấn nào là cô lập, không có liên hệ kế cận”, vì thế “không biết thông thì không thể chuyên, không biết rộng thì không thể nắm gọn. Trước biết rộng rồi sau mới nắm chắc, đó là trình tự để nắm vững bất cứ học vấn nào”.

* Cách đọc sách hiệu quả:

– Không nên đọc lướt qua, vừa đọc phải vừa suy ngẫm, “trầm ngâm tích luỹ tưởng tượng”, nhất là với các cuốn sách có giá trị.

– Không nên đọc một cách tràn lan, quyển nào có cũng đọc mà phải đọc một cách có kế hoạch và hệ thống. Có thể coi đọc sách là một công việc rèn luyện, một cuộc chuẩn bị âm thầm và gian khổ.

– Cũng theo tác giả, đọc sách không chỉ là việc học tập tri thức mà còn là chuyện rèn luyện tính cách, chuyện học làm người.

Tổng kết: 

– Nội dung: Đọc sách là một con đường quan trọng để tích lũy, nâng cao học vấn. Ngày nay, sách có nhiều, chính vì vậy cần phải biết chọn sách để đọc, đọc ít mà hiểu nhiều còn hơn là đọc nhiều mà rỗng.

– Nghệ thuật: lí lẽ xác đáng, dẫn chứng thuyết phục…

Soạn văn Bàn về đọc sách ngắn gọn

I. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Vấn đề nghị luận của bài viết này là gì? Dựa theo bố cục bài viết, hãy tóm tắt các luận điểm của tác giả khi triển khai vấn đề ấy.

– Vấn đề nghị luận: Đọc sách là con đường quan trọng để tích lũy, nâng cao học vấn, đọc sách có những khó khăn và phải có phương pháp đọc hiệu quả.

– Tóm tắt luận điểm:

Tầm quan trọng của việc đọc sách.

Những khó khăn của việc đọc sách hiện nay.

Phương pháp (cách lựa chọn) và cách đọc sách mang lại hiệu quả.

Câu 2. Qua lời bàn của Chu Quang Tiềm, em thấy sách có tầm quan trọng như thế nào, việc đọc sách có ý nghĩa gì?

– Tầm quan trọng của việc đọc sách: Ghi chép, lưu truyền mọi tri thức, thành tựu; Sách là những cột mốc trên con đường phát triển học thuật.

– Ý nghĩa của việc đọc sách: Là con đường quan trọng của học vấn, sự chuẩn bị cho cuộc trường chinh vạn dặm trên con đường học vấn, phát triển thế giới mới.

Câu 3. Muốn tích lũy học vấn, đọc sách có hiệu quả, tại sao trước tiên cần biết cách chọn lựa sách mà đọc? Theo tác giả, nên chọn lựa như thế nào?

– Trước tiên phải lựa sách mà đọc vì sách nhiều cũng có những nguy hại của nó:

– Sách nhiều khiến người ta không chuyên sâu, không biết nghiền ngẫm.

– Sách nhiều khó lựa chọn, người đọc dễ lạc hướng, lãng phí thời gian.

– Cách chọn lựa sách mà tác giả đưa ra:

Không tham đọc nhiều, đọc lung tung, phải đọc kỹ những cuốn thực sự có giá trị.

Đọc kĩ về sách, tài liệu thuộc lĩnh vực chuyên môn của mình.

Khi đọc chuyên sâu, không thể xem thường loại sách gần gũi với chuyên môn.

Câu 4. Phân tích lời bàn của tác giả bài viết về phương pháp đọc sách. Tìm hiểu cách lập luận, trình bày ở phần này.

Lời bàn của tác giả về phương pháp đọc sách:

– Không nên đọc lướt mà phải đọc kĩ, vừa đọc vừa suy ngẫm.

– Không đọc một cách tràn lan kiểu hứng thú mà phải đọc có hệ thống.

Câu 5. Bài viết “Bàn về đọc sách” có sức thuyết phục cao. Theo em, điều ấy được tạo nên từ những yếu tố cơ bản nào?

Yếu tố tạo nên sức thuyết phục cho bài văn:

– Bố cục chặt chẽ, hợp lý. Cách viết giàu hình ảnh, ví von cụ thể, thú vị.

– Phân tích cụ thể, dẫn dắt tự nhiên bằng giọng trò chuyện, tâm tình của một học giả uy tín. Nội dung các lời bàn rất đúng đắn, có tính triết lý sâu sắc.

II. Luyện tập

Phát biểu điều mà em thấm thía nhất khi học bài “Bàn về đọc sách”.

Gợi ý:

– Đọc sách là một con đường quan trọng để tích lũy, nâng cao học vấn.

– Ngày nay, sách có nhiều, chính vì vậy chúng ta cần phải biết chọn sách để đọc, cũng như có phương pháp đọc sách đúng đắn, đọc ít mà hiểu nhiều còn hơn là đọc nhiều mà rỗng.

Soạn bài Bàn về đọc sách – Mẫu 2

I. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Vấn đề nghị luận của bài viết này là gì? Dựa theo bố cục bài viết, hãy tóm tắt các luận điểm của tác giả khi triển khai vấn đề ấy.

– Vấn đề nghị luận của bài viết là: Đọc sách là con đường quan trọng để tích lũy, nâng cao học vấn, đọc sách có những khó khăn và phải có phương pháp đọc hiệu quả.

– Các luận điểm của tác giả khi triển khai vấn đề gồm:

Tầm quan trọng của việc đọc sách.

Những khó khăn của việc đọc sách hiện nay.

Phương pháp (cách lựa chọn) và cách đọc sách mang lại hiệu quả.

Câu 2. Qua lời bàn của Chu Quang Tiềm, em thấy sách có tầm quan trọng như thế nào, việc đọc sách có ý nghĩa gì?

Tầm quan trọng của việc đọc sách: Ghi chép, lưu truyền mọi tri thức, thành tựu; Sách là những cột mốc trên con đường phát triển học thuật.

Ý nghĩa của việc đọc sách: Là con đường quan trọng của học vấn, sự chuẩn bị cho cuộc trường chinh vạn dặm trên con đường học vấn, phát triển thế giới mới.

Câu 3. Muốn tích lũy học vấn, đọc sách có hiệu quả, tại sao trước tiên cần biết cách chọn lựa sách mà đọc? Theo tác giả, nên chọn lựa như thế nào?

– Muốn tích lũy học vấn, đọc sách có hiệu quả, tại sao trước tiên cần biết cách chọn lựa sách mà đọc vì sách nhiều cũng có những nguy hại của nó:

Nếu đọc quá nhiều sách sẽ khiến người đọc không hiểu chuyên sâu, không biết nghiền ngẫm.

Sách nhiều khiến cho người đọc khó lựa chọn, người đọc dễ lạc hướng, lãng phí thời gian.

– Cách chọn lựa sách mà tác giả đưa ra:

Không tham đọc nhiều, đọc lung tung, phải đọc kỹ những cuốn thực sự có giá trị.

Đọc kĩ về sách, tài liệu thuộc lĩnh vực chuyên môn của mình.

Khi đọc chuyên sâu, không thể xem thường loại sách gần gũi với chuyên môn.

Câu 4. Phân tích lời bàn của tác giả bài viết về phương pháp đọc sách. Tìm hiểu cách lập luận, trình bày ở phần này.

– Không nên đọc lướt mà phải đọc kĩ, vừa đọc vừa suy ngẫm: Có nghĩa là khi đọc cần suy nghĩ những vấn đề được đề cập đến trong cuốn sách, có thể đánh dấu vào những vấn đề khó hiểu để tìm kiếm kiến thức từ bên ngoài cuốn sách…

Câu 5. Bài viết “Bàn về đọc sách” có sức thuyết phục cao. Theo em, điều ấy được tạo nên từ những yếu tố cơ bản nào?

Yếu tố tạo nên sức thuyết phục cho bài văn: Bố cục chặt chẽ, luận điểm rõ ràng, dẫn chứng cụ thể.

II. Luyện tập

Phát biểu điều mà em thấm thía nhất khi học bài “Bàn về đọc sách”.

Gợi ý:

Sau khi đọc văn bản “Bàn về đọc sách”, chúng ta nhận thức được tầm quan trọng của việc đọc sách. Đó là con đường quan trọng để tích lũy, nâng cao học vấn. Nhưng việc đọc sách cần có phương pháp đúng đắn. Bởi ngày nay, sách có nhiều, chính vì vậy chúng ta cần phải biết chọn sách để đọc, cũng như có phương pháp đọc sách đúng đắn, đọc ít mà hiểu nhiều còn hơn là đọc nhiều mà rỗng.

Soạn bài Bàn về đọc sách – Mẫu 3

Câu 1.

– Vấn đề nghị luận của bài viết là: Tầm quan trọng của việc đọc sách và phương pháp đọc sách đúng đắn, khoa học.

– Dựa theo bố cục bài viết, tóm tắt các luận điểm của tác giả khi triển khai vấn đề:

Tầm quan trọng của việc đọc sách.

Những khó khăn của việc đọc sách hiện nay.

Phương pháp (cách lựa chọn) và cách đọc sách mang lại hiệu quả.

Câu 2.

– Qua lời bàn của Chu Quang Tiềm, em thấy sách có tầm quan trọng vô cùng to lớn:

Học tập kiến thức, kĩ năng cần thiết trong cuộc sống bởi sách là kho tàng tri thức của nhân loại

Chuẩn bị để tiến hành cuộc trường chinh vạn dặm trên con đường học vấn, tích luỹ tri thức, khám phá và chinh phục thế giới.

– Việc đọc sách có ý nghĩa: Đó là con đường quan trọng của học vấn, sự chuẩn bị cho cuộc trường chinh vạn dặm trên con đường học vấn, phát triển thế giới mới.

Advertisement

Câu 3.

– Muốn tích lũy học vấn, đọc sách có hiệu quả, tại sao trước tiên cần biết cách chọn sách:

Sách nhiều khiến cho người ta không chuyên sâu, dễ sa vào lối “ăn tươi nuốt sống” chứ không kịp tiêu hoá, không biết nghiền ngẫm.

Sách nhiều khiến người đọc khó chọn lựa, lãng phí thời gian và sức lực với những cuốn không thật có ích.

– Cách chọn lựa sách mà tác giả đưa ra:

Không tham đọc nhiều, đọc lung tung mà phải chọn cho tinh, đọc cho kỹ những quyển sách thực sự có giá trị, có ích cho mình.

Cần đọc kỹ các cuốn sách, tài liệu cơ bản thuộc lĩnh vực chuyên môn, chuyên sâu của mình.

Trong khi đọc chuyên sâu, không nên xem thường những loại sách thường thức, gần gũi với chuyên môn của mình. Tác giả khẳng định: “Trên đời không có học vấn nào là cô lập, không có liên hệ kế cận”, vì thế “không biết thông thì thông thể chuyên, không biết rộng thì không thể nắm gọn. Trước biết rộng rồi sau mới nắm chắc, đó là trình tự để nắm vững bất cứ học vấn nào”.

Câu 4.

Phân tích lời bàn của tác giả bài viết về phương pháp đọc sách:

– Không nên đọc lướt mà phải đọc kĩ, vừa đọc vừa suy ngẫm: Khi đọc sách không nên đọc quá nhanh, đọc lướt mà cần vừa đọc vừa nghiền ngẫm, suy nghĩ những vấn đề được đề cập đến trong cuốn sách, có thể đánh dấu vào những vấn đề khó hiểu để tìm kiếm kiến thức từ bên ngoài cuốn sách…

– Không đọc một cách tràn lan kiểu hứng thú mà phải đọc có hệ thống: Cần lựa chọn những cuốn sách phù hợp với nhu cầu của bản thân, đọc sách theo trình độ học vấn, đọc sách cũng cần có kế hoạch, lập mục tiêu cụ thể…

Câu 5.

Bài viết “Bàn về đọc sách” có sức thuyết phục cao. Theo em, điều ấy được tạo nên từ những yếu tố cơ:

Nội dung của bài viết rất cần thiết trong cuộc sống.

Các ý kiến nhận xét được đưa ra rõ ràng, xác đáng.

Bài viết có bố cục chặt chẽ, hợp lý, các ý được dẫn dắt rất tự nhiên.

-Sử dụng nhiều hình ảnh qua cách ví von vừa cụ thể vừa thú vị cũng là một yếu tố quan trọng làm nên sức thuyết phục của bài.

6 Bài Soạn “Thuyết Minh Về Một Thể Loại Văn Học” (Lớp 8) Hay Nhất

Ở các loạt bài trước, chúng mình đã giới thiệu khá đầy đủ về thể loại văn thuyết minh, về phương pháp, đặc điểm và cách làm một bài văn thuyết minh. Để tìm hiểu cụ thể dạng bài thuyết minh về một thể loại văn học, mời các bạn tham khảo một số bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” trong Ngữ Văn lớp 8 ngắn gọn, chi tiết đã được tổng hợp trong bài viết sau đây.

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 6

b) Mỗi một thể loại văn học có những đặc thù riêng, thuyết minh về một thể loại văn học là giải trình về những điểm riêng ấy. Nên gắn việc thuyết minh về thể loại văn học với phương pháp nêu ví dụ để cụ thể hoá vấn đề.

c) Lập dàn ý

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 5

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 6

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

Thuyết minh về một thể loại văn học là một loại thuyết minh khó. Bởi lẽ, muốn rút ra được những nhận thức quan trọng để thuyết minh, các em phải có một số hiểu biết nhất định về thơ: luật bằng – trắc, vần, niêm, đối, nhịp,… Chỉ có như vây, việc thuyết minh của các em mới có kết quả. Luật bằng – trắc, vần, niêm, đối, nhịp,… chính là những công cụ, phương tiện để các em khám phá, nhận thức thơ nói chung và thơ Việt Nam nói riêng.

Dùng công cụ trên, các em sẽ quan sát, khám phá và phát hiện đặc điểm của hai bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác và Đập đá ở Côn Lôn. Các em sẽ phát hiện ra:

– Đây là thể thơ thất ngôn bát cú (mỗi dòng bảy tiếng, mỗi bài tám dòng thơ).

– Nhịp thơ thường là 4 / 3:

Bủa tay ôm chặt / bồ kinh tế,

Mở miệng cười tan / cuộc oán thù.

Thân ấy vẫn còn, / còn sự nghiệp

Bao nhiêu nguy hiếm / sợ gì đâu.

(Vào nhà ngục Quảng Đỏng cảm tác)

Tháng ngày bao quản / thân sành sỏi,

Mưa nắng càng bền / dạ sắt son.

Những kẻ vá trời / khi lỡ bước,

Gian nan chi kể / việc con con.

(Đập đá ở Côn Lôn)

Khi đọc một dòng thơ, sau một số tiếng nhất định, có nghĩa, các em dừng lại một chút trước khi đọc hết dòng thơ. Chỗ ngừng đó là những chỗ ngắt nhịp trong dòng thơ.

VÀO NHÀ NGỰC QUẢNG ĐÔNG CẢM TÁC

T – B – B – T / – T – B – B

T – T – B – B / – T – T – B

T – T – B – B / – B – T – T

T – B – T – T / – T – B – B

T – B – B – T / – B – B – T

B – T – T – B / – B – T – T

B – B – B – T/ – T – B – B

ĐẬP ĐÁ Ở CÔN LÔN

B – B – T – T / – T – B – B

B – T – B – B / – T – B – B

T – T – T – B / – B – T – T

B – T – B – B / – T – T – B

B – B – B – T / – T – B – B

Dựa vào luân phiên B – T này các em có thể tìm ra niêm và đối trong bài thơ:

– Niêm (dính nhau): Tiếng dòng trên và tiếng tương ứng dòng dưới đều B. Ví dụ:

Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn,

Lừng lẫy làm cho lở núi non.

(làm / lừng: niêm với nhau)

– Đối: Tiếng dòng trên B và tiếng tương ứng dòng dưới T. Ví dụ, trong hai dòng thơ dẫn trên thì trai / lẫy đối với nhau.

II. HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU BÀI

Tham khảo để viết bài thuyết minh về Thơ thất ngôn bát cú.

THƠ THẤT NGÔN

a) Thơ thất ngôn Đường luật có niêm luật (tức sự quy định thanh bằng, thanh trắc trong từng câu, từng bài) rất chặt. Nếu tiếng thứ hai của câu đầu có thanh bằng thì thơ thuộc thể bằng, tiếng thứ hai thanh trắc là thể trắc.

Ví dụ:

– Thể bằng: Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom

– Thể trắc: Tạo hoá gây chi cuộc hí trường

Thể trắc được coi là chính thể, còn thể bằng là biến thể.

b) Các câu trong bài lại phải dính với nhau, người ta gọi là niêm. Bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc theo một hệ thống như sau:

Tiếng thứ hai câu I niêm với tiếng thứ hai câu VIII.

Tiếng thứ hai câu II niêm với tiếng thứ hai câu III.

Tiếng thứ hai câu IV niêm với tiếng thứ hai câu V.

Tiếng thứ hai câu VI niêm với tiếng thứ hai câu VII.

Tóm lại: nhất – bát, nhị – tam, tứ – ngũ, lục – thất.

c) Thơ thất ngôn Đường luật chỉ dùng vần bằng và chỉ được gieo một vần (độc vận), thông thường thì bài bốn câu (tứ tuyệt) là ba vần, bài tám câu (bát cú) là năm vần, trừ biệt lệ.

– Biệt lệ về luật bằng trắc (gọi là lệ bất luận):

Nhất tam ngũ bất luận tức là tiếng đầu, tiếng thứ ba, tiếng thứ năm trong câu không kể bằng trắc, mà vẫn không coi là thất luật.

– Biệt lệ về cách trốn vần:

Muốn trốn vần thì hai câu trốn vần đó (tức hai câu đầu) phải đối nhau (gọi là song phong).

Lờ đờ mắt trắng đời không bạn

Lận đận đầu xanh tuổi đã già…

Một bài bát cú trốn vần phải có sáu câu đối nhau.

– Thể trắc thất ngôn bát cú.

Ví dụ: QUA ĐÈO NGANG

Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

Lom khom dưới núi, tiều vài chú,

Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.

Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,

Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.

Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,

Một mảnh tình riêng, ta với ta.

(Bà Huyện Thanh Quan)

– Thể bằng thất ngôn bát cú:

Ví dụ: THU ĐIẾU

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.

Tựa gối buông cần lâu chẳng được,

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

(Nguyền Khuyến)

Xét về mặt bố cục, bài thơ thất ngôn cách luật có bốn phần (đề, thực, luận, kết):

+ Đề gồm câu phá đề và thừa đề. Đây là phần mở bài, chuẩn bị không khí cho toàn bài.

+ Thực gồm hai câu III và IV đối nhau. Đây là phần triển khai ý từ câu thừa đề, như tả cảnh, tả việc, diễn ý, cắt nghĩa, chuẩn bị cho câu luận, hoặc đã ngầm có ý luận ở trong.

+ Kết gồm hai câu VII và VIII có chức năng khép bài, nhưng thông thường là gợi ý, mở ra một ý mới khiến người đọc bâng khuâng,…

Chú ý: Lối ngắt nhịp trong câu thơ thất ngôn bát cú Đường luật theo dạng 4/3, hoặc 2/2/3, tạo nên một nhịp điệu nhẹ nhàng, uyển chuyển, mềm mại. Thể thơ bảy tiếng cổ truyền ngắt theo nhịp 3/4 hoặc 3/2/2, kết hợp với lối hiệp vần hỗn hợp cả bằng lẫn trắc, cả vần chân lẫn vần lưng, tạo nên nhịp điệu câu thơ khoẻ.

(Đinh Trọng Lạc, Tiếng Việt 11, SGV,NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000).

III. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

1. Lập dàn bài thuyết minh đặc điểm của truyện ngắn (Dựa vào một số truyện ngắn đã học như: Tôi đi học, Lão Hạc, Chiếc lá cuối cùng).

a) Mở bài

Nêu định nghĩa truyện ngắn:

Ví dụ: “Truyện ngắn là hình thức tự sự loại nhỏ… tập trung mô tả một biến cố, một hành động, một trạng thái nào đó trong cuộc đời nhân vật, thể hiện một khía cạnh của tính cách hay một mặt nào đó của đời sống xã hội”.

b) Thân bài

Nêu các đặc điểm chính của truyện ngắn:

– Đặc điểm về dung lượng: số trang viết ít, không dài.

Chỉ ra đặc điểm này trong ba truyện ngắn Tôi đi học, Lão Hạc, Chiếc lá cuối cùng.

– Đặc điểm về sự kiện, nhân vật: ít nhân vật và sự kiện vì dung lượng truyện ngắn không lớn. Thường đó chỉ là một hoặc hai nhân vật với vài ba sự kiện nhỏ.

Phân tích Tôi đi học, Lão Hạc, Chiếc lá cuối cùng để thấy rõ hơn và cụ thể hơn về điều này.

– Đặc điểm về cốt truyện:

+ Diễn ra trong một khoảng không gian và thời gian hẹp.

+ Không kể trọn vẹn quá trình diễn biến của đời người mà thường chỉ chọn một thời đoạn, thời điểm hay một khoảnh khắc nào đó để trình bày.

Tiếp tục phân tích ba tác phẩm trên.

– Ý nghĩa:

Truyện tuy ngắn, dung lượng tuy không nhiều nhưng không phái vì thế ý nghĩa xã hội của truyện ngắn không lớn. Có những truyện độ dài không lớn nhưng ý nghĩa xã hội lại hết sức sâu sắc.

Chỉ ra ý nghĩa xã hội lớn lao của ba tác phẩm Tôi đi học, Lão Hạc và Chiếc lá cuối cùng.

c) Kết bài

Nêu cảm nhân của bản thân:

– Về vẻ đẹp, về sức hấp dẫn của truyện ngắn.

– Phù hợp với cuộc sống lao động khẩn trương trong giai đoạn hiện nay.

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 5

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 4

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 5

I. Từ quan sát đến mô tả, thuyết minh đặc điểm một thể loại văn học

Đề bài: “Thuyết minh đặc điểm thể thơ thất ngôn bát cú”.

Giải câu 1 (Trang 153 SGK ngữ văn 8 tập 1)

Đọc kĩ hai bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác và Đập đá ở Côn Lôn rồi trả lời câu hỏi.

a) Mỗi bài thơ có mấy dòng, mỗi dòng có mấy chữ (tiếng)? Số dòng số chữ ấy có bắt buộc không? Có thể tùy ý thêm bớt được không?

b) Tiếng có thanh huyền và thanh ngang gọi là tiếng bằng, kí hiệu là B, các tiếng có thanh hỏi, ngã, sắc, nặng gọi là tiếng trắc, kí hiệu là T. Hãy ghi kí hiệu bằng, trắc cho từng tiếng trong hai bài thơ đó.

c) Nhận xét quan hệ bằng trắc giữa các dòng với nhau, biết rằng nếu dòng trên tiếng bằng ứng với dòng dưới tiếng trắc thì gọi là “đối” nhau, nếu dòng trên tiếng bằng ứng với dòng dưới cũng tiếng bằng thì gọi là “niêm” với nhau (dính nhau). Dựa vào kết quả quan sát, hãy nêu mối quan hệ bằng trắc giữa các dòng.

d) Vần là bộ phận của tiếng không kể dấu thanh và phụ âm đầu (nếu có). Những tiếng có bộ phận vần giống nhau, ví dụ: an, than, can, man,… là những tiếng hiệp vần với nhau. Vần có thanh huyền hoặc thanh ngang gọi là vần bằng, vần có thanh hỏi, ngã, sắc, nặng gọi là vần trắc. Hãy cho biết mỗi bài thơ có những tiếng nào hiệp vần với nhau, nằm ở vị trí nào trong dòng thơ và đó là vần bằng hay trắc.

e) Thơ muốn nhịp nhàng thì phải phải ngắt nhịp, chỗ ngắt nhịp đọc hơi ngừng lại một chút trước khi đọc tiếp đến hết dòng. Chỗ ngắt nhịp cũng đánh dấu một chỗ ngừng có nghĩa. Hãy cho biết câu thơ bảy tiếng trong bài ngắt nhịp như thế nào.

Trả lời:

a) Mỗi bài thơ có 8 dòng, mỗi dòng 7 tiếng. Số dòng số chữ ấy là bắt buộc, không được tùy ý thêm bớt.

b) Kí hiệu bằng, trắc cho từng bài thơ :

– Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác :

Vẫn là hào kiệt vẫn phong lưu

(T – B – B – T – T – B – B )

Chạy mỏi chân thì hãy ở tù

(T – T – B – B – T – T – B )

Đã khách không nhà trong bốn biển

(T – T – B – B – B – T – T )

Lại người có tội giữa năm châu

(T – B – T – T – T – B – B )

Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế

(T – B – B – T – B – B – T )

Mở miệng cười tan cuộc oán thù

Thân ấy vẫn còn, còn sự nghiệp

(B – T – T – B – B – T – T )

Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu

(B – B – B – T – T – B – B )

– Đập đá ở Côn Lôn :

Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn

(B – B – T – T – T – B – B )

Lừng lẫy làm cho lở núi non

(B – T – B – B – T – T – B )

Xách búa đánh tan năm bảy đống

(T – T – T – B – B – T – T )

Ra tay đập bể mấy trăm hòn

Tháng ngày bao quản thân sành sỏi

Mưa nắng càng bền dạ sắt son

Những kẻ vá trời khi lỡ bước

Gian nan chi kể việc con con

c) Nhận xét quan hệ bằng trắc :

– Tiếng thứ 4 của các câu luôn trái thanh với tiếng thứ 2 và thứ 6. Ví dụ câu 1 bài Đập đá ở Côn Lôn : B – B – T – T – T – B – B

– Các tiếng 2, 4, 6 của các cặp câu 1-2, 3-4, 5-6, 7-8 luôn trái ngược về thanh.

– Các tiếng 2, 4, 6 của câu 1-8, 2-3, 4-5, 6-7 trùng nhau về thanh điệu.

d) Những tiếng hiệp vần với nhau trong bài thơ là ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8.

e) Thường ngắt nhịp chẵn lẻ : 4/3, 2/2/3

Giải câu 2 (Trang 153 SGK ngữ văn 8 tập 1)

Lập dàn bài: Thuyết minh đặc điểm thể thơ thất ngôn bát cú

a) Mở bài: Nêu định nghĩa chung về thể thơ.

Ví dụ: Thất ngôn bát cú là một thể thơ thông dụng trong các thể thơ Đường luật, một thể thơ được viết theo luật đặt ra từ thời nhà Đường ( 618 – 907 ) được các nhà thơ rất yêu thích. Các nhà thơ cổ điển VN ai cũng làm thơ theo thể thơ này bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm.

b) Thân bài: Giới thiệu các đặc diểm của thể thơ:

– Số câu, số chữ– Quy luật B – T– Cách gieo vần– Cách ngắt nhịp…– Bố cục– Nghệ thuật đối

Ưu điểm: Bài thơ có vẻ đẹp hài hòa cân đối ( số câu chữ bố cục ) âm thanh nhạc điệu trầm bổng ( vần luật bằng trắc )

Hạn chế: Vì niêm luật chặt chẽ nên việc diễn tả cảm xúc gò bó vì bị ràng buộc không được tự do như thơ tự do.

c) Kết bài: Cảm nhận của người viết về vẻ đẹp, nhạc điệu của thể thơ.

Ví dụ: Đây là thể thơ quan trọng có nhiều tác phẩm có giá trị được làm theo thể thơ này. Và cho đến nay nó vẫn được ưa chuộng.

II. Luyện tập

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 3

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 4

I. Từ quan sát, nghe – đọc đến mô tả, thuyết minh về một thể loại văn học

Đề bài: Thuyết minh đặc điểm của thể thơ thất ngôn bát cú.

1. Quan sát

Đọc kĩ hai bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác và Đập đá ở Côn Lôn rồi trả lời các câu hỏi :a. Mỗi bài thơ có mấy dòng, mỗi dòng có mấy chữ (tiếng)? Số dòng, số chữ ấy có bắt buộc không? Có thể tuỳ ý thêm bớt được không?b. Tiếng có thanh huyền và thanh ngang gọi là tiếng bằng, kí hiệu B, các tiếng có thanh hỏi, ngã, sắc, nặng gọi là tiếng trắc, kí hiệu T. Hãy ghi kí hiệu bằng, trắc cho từng tiếng trong bài thơ đó.c. Nhận xét quan hệ bằng trắc giữa các dòng với nhau, biết rằng nếu dòng trên tiếng bằng ứng với dòng dưới tiếng trắc thì gọi là “đối” nhau, nếu dòng trên tiếng bằng ứng với dòng dưới cũng tiếng bằng thì gọi là “niêm” với nhau (dính nhau).

Dựa vào kết quả quan sát, hãy nêu mối quan hệ bằng trắc giữa các dòng.d. Vần là bộ phận của tiếng không kể dấu thanh và phụ âm đầu (nếu có). Những tiếng có bộ phận vần giống nhau, ví dụ: an, than, can, man… là những tiếng hiệp vần nhau. Vần có thanh huyền hoặc thanh ngang gọi là vần bằng, ván có thanh hỏi, ngã, sắc, nặng gọi là vần trắc. Hãy cho biết mỗi bài thơ có những tiếng nào hiệp vần với nhau, nằm ở vị trí nào trong dòng thơ và đó là vần bằng hay vần trắc.e. Thơ muốn nhịp nhàng thì phải ngắt nhịp, chỗ ngắt nhịp đọc hơi ngừng lại một chút trước khi đọc tiếp đến hết dòng. Chỗ ngắt nhịp cũng đánh dấu một chỗ ngừng có nghĩa. Hãy cho biết câu thơ bảy tiếng trong bài ngắt nhịp như thế nào?

a. Quan sát:

Quan sát hai bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác và Đập đá Côn Lôn. – Mỗi bài thơ có 8 dòng, mỗi dòng có 7 tiếng, số dòng số chữ bắt buộc theo quy định.

Quan hệ bằng trắc theo quy định, đặc biệt ở các tiếng 2-4-6.

Vẫn rơi vài câu cuối dòng, vần bằng vào các câu 2-4-6-8: non, hôn, sen, con. – Ngắt nhịp 4/3/ “Vẫn là hào kiệt / vẫn phong lưu Chạy mỏi chân thì / hãy ở tù’’.

b. Ghi lại luật bằng, trắc. Những từ có dấu huyền, không dấu (thanh bằng – B), các dấu còn lại (thanh trắc – T)

Bài Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác

Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu. (T-B-B-T-T-B-B)

Chạy mỏi chân thì hãy ở tù. (T-T-B-B-T-T-B)

Đã khách không nhà trong bốn biển, (T – T – B – B – B – T – T)

Lại người có tội giữa năm châu. (T-B-T-T-T-B-B)

Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế, (T-B B-T-B-B-T)

Mà miệng cười tan cuộc oán thù. (T – T – B – B – T – T – B)

Thân ấy vẫn còn, còn sự nghiệp, (B-T-T-B-B-T-T)

Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu. (B-B-B-T-T-B-B)

Bài Đập đá ở Côn Lôn

Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn, (B-B-T-T-T-B-B)

Lừng lẫy làm cho lở núi non. (B-T-B-B-T-T-B)

Xách búa đánh tan năm bảy đống, (T – T – T – B – B – T – T)

Ra tay đập bể mấy trăm hòn. (B-B-T-T-T-B-B)

Tháng ngày bao quản thân sành sỏi, (T-B-B-T-B-B-T)

Mưa nắng càng bền dạ sắt son. (B-T-B-B-T-T-B)

Những kẻ vá trời khi lỡ bước, (T-T-T-B-B-T-T)

Gian nan chi kể việc con con. (B- B – B – T – T – B – B)

2. Lập dàn bài:

Ghi nhớ:

Muốn thuyết minh đặc điểm một thể loại văn học (thể thơ hay văn bản cụ thể), trước hết phải quan sát, nhận xét, sau đó khái quát thành những đặc điểm.

Khi nêu các đặc điểm, cần lựa chọn những đặc điểm tiêu biểu, quan trọng và cần có những ví dụ cụ thể để làm sáng tỏ các đặc điểm ấy.

Câu 1+2: trang 154 sgk Ngữ Văn 8 tập một

TRUYỆN NGẮN

Truyện ngắn là hình thức tự sự loại nhỏ. Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ, tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống: một biến cố, một hành động, một trạng thái nào đó trong cuộc đời của nhân vật, thể hiện một khía cạnh của tính cách hay một mặt nào đó của đời sống xã họi. Do đó, truyện ngắn thường ít nhân vật và sự kiện.

Truyện ngắn tuy ngắn nhưng cũng có thể đề cập tới những vấn đề lớn của cuộc đời. Tác phẩm của nhiều bậc thầy trong thể loại này đã cho ta biết điều đó.

Truyện ngắn là một thể loại văn học gần gũi và ta có thể sẽ tiếp xúc hàng ngày với chúng. Có rất nhiều những nhận định khác nhau về truyện ngắn, song, truyện ngắn là hình thức tự sự loại nhỏ để tái hiện lại một mảnh nhỏ của cuộc sống, có thể là môt biến cố, một hành động, một trạng thái trong cuộc đời của nhân vật, thể hiện một khía cạnh của tính cách hay một mặt nào đó của đời sống xã hội. Truyện ngắn thường có dung lượng ngắn, khoảng vài trang hoặc vài chục trang, sự kiện và nhân vật không nhiều. Còn những truyện cực ngắn chỉ khoảng vài trăm chữ.

Hệ quả của số lượng nhân vật ít là biến cố trong, sự kiện trong truyện cũng không nhiều. Bởi người nghệ sĩ sẽ chỉ lựa chọn một hoặc một vài sự kiện, biến cố trong cuộc đời nhân vật để khắc họa tính cách, số phận của nhân vật mà thôi. Như trong tác phẩm Tôi đi học tác giả đã lựa chọn cảm xúc của nhân vật tôi trong ngày khai giảng đầu tiên của cuộc đời, nhân vật trong truyện chỉ có người mẹ và nhân vật tôi. Truyện ngắn Lão Hạc có nhân vật lão Hạc, ông giáo, Binh Tư, cậu con trai, vợ ông giáo (chỉ được nhắc qua), những người dân trong làng (xuất hiện với vai trò là người chứng kiến cái chết của lão Hạc) và có sự kiện nổi bật trong tác phẩm là khi lão Hạc quyết định bán con chó Vàng để không phải ăn vào tiền của cậu con trai. Còn trong truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của O.Hen-ri câu chuyện chỉ xoay quanh các nhân vật Giôn-xi, cụ Bơ-men và Xiu với bức họa Chiếc lá cuối cùng .

Thứ hai, cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một không gian, thời gian hạn chế. Nó không kể chọn vẹn một quá trình diễn biến một đời người mà chọn lấy khoảnh khắc, những “lát cắt” của cuộc sống để thể hiện. Thanh Tịnh đã lựa chọn không gian biến đổi từ nhà tới trường học, trong khoảng thời gian như được kéo dài từ tối hôm trước đến sáng hôm sau, khi con bước chân qua cánh cổng trường để bắt đầu đi học. Nam Cao lựa chọn khắc họa lão Hạc trong khoảng thời gian lão sống xa con, lúc lão ốm đau bệnh tật và lựa chọn cái chết đau đớn đế giữ lại mảnh vườn cho con trai. Còn O. Hen-ri lại bắt đầu câu chuyện của mình bằng sự chán nản, tuyệt vọng để rồi người đọc thấ được sự hồi sinh trong tâm hồn cô gái trẻ khi trông thấy bức tranh vẽ chiếc lá cuối cùng bên bậu cửa sổ của cụ Bơ-men. Cả ba tác phẩm người đọc chỉ nhìn thấy một đoạn, một lát cắt trong cuộc đời của nhân vật chứ không phải là toàn bộ cuộc đời họ, từ lúc họ sinh ra, lớn lên, trưởng thành như thế nào.Điều ấy cũng đồng nghĩa với truyện ngắn chỉ là những khoảng khắc của cuộc sống, của đời người, nhưng chừng ấy cũng đủ để người đọc nhận ra được bản chất của nhân vật, con người trong tác phẩm ấy.

Không phải ngẫu nhiên Nam Cao lại đặt nhân vật ông giáo trong cái nhìn đối sánh với lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của mình. Tác giả muốn ông giáo có thể tìm thấy được mình trong cuộc đời của lão Hạc và cùng là để ca ngợi phẩm chất cao thượng, lương thiện của người nông dân trong xã hội xưa. O. Hen-ri đã rất thành công khi sử dụng hai lần thủ pháp đảo ngược tình huống gây ra sự bất ngờ đến ngỡ ngàng cho người đọc. Sự hồi phục đầy kinh ngạc của Giôn-xi và cái chết không báo trước của cụ Bơ-men. Tất cả những chi tiết ấy là làm sống dậy tình người giữa những con người nghèo khổ với nhau.

Tuy dung lượng không dài song truyện ngắn là một thể loại mang tới cho người đọc nhiều cung bậc cảm xúc và những bài học nhận thức sâu sắc trong cuộc sống. Đến tận ngày nay, vai trò của truyện ngắn trong đời sống của con người vẫn không thể phủ nhận.

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 2

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 3

Phần I

TỪ QUAN SÁT ĐẾN MÔ TẢ, THUYẾT MINH ĐẶC ĐIỂM MỘT THỂ LOẠI VĂN HỌC

Quan sát, nghe – đọc

Đọc kĩ hai bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác và Đập đá ở Côn Lôn theo định hướng sau:

a. Mỗi bài thơ có mấy dòng? Mỗi dòng thơ có mấy chữ (tiếng)? Số dòng, số chữ ấy có thể thay đổi được không?

b. Những tiếng nào được gọi là bằng (kí hiệu là B), tiếng nào được gọi là trắc (kí hiệu là T)? Hãy ghi kí hiệu B hoặc T cho từng tiếng trong bài thơ đó.

c. Nhận xét quan hệ bằng trắc giữa các dòng với nhau, biết rằng nếu dòng trên tiếng bằng ứng với dòng dưới tiếng trắc gọi là đối nhau, nếu dòng trên tiếng bằng ứng với dòng dưới cũng là tiếng bằng gọi là niêm với nhau. Dựa vào kết quả quan sát, hãy nêu mối quan hệ bằng trắc giữa các dòng.

d. Hãy cho biết mỗi bài thơ có những tiếng nào hiệp vần với nhau, nằm ở vị trí nào trong dòng thơ, đó là vần bằng hay trắc.

e. Hãy cho biết câu thơ tiếng bảy tiếng trong bài ngắt nhịp thế nào?

Lời giải chi tiết:

1. Quan sát Bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác

a) Bài thơ có 8 dòng, mỗi dòng 7 chữ (tiếng). Số dòng, số chữ ấy là bắt buộc. Không thể tuỳ ý thêm bớt.

b) Tiếng bằng, tiếng trắc:

Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu.

(T-B-B-T-T-B-B)

Chạy mỏi chân thì hãy ở tù.

(T-T-B-B-T-T-B)

Đã khách không nhà trong bốn biển,

(T – T – B – B – B – T – T)

Lại người có tội giữa năm châu.

(T-B-T-T-T-B-B)

Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế,

(T-B B-T-B-B-T)

Mà miệng cười tan cuộc oán thù.

(T – T – B – B – T – T – B)

Thân ấy vẫn còn, còn sự nghiệp,

(B-T-T-B-B-T-T)

Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì dâu.

(B-B-B-T-T-B-B)

c) Dòng 1 và 2 đối nhau (tiếng là bằng, tiếng mỏi trắc), dòng 2 và 3 niêm nhau (tiếng mỏi trắc, tiếng khách trắc), dòng 3 và 4 đối nhau (tiếng khách trắc, tiếng người bằng), dòng 4 và 5 niêm nhau (tiếng người bằng, tiếng tay bằng), dòng 5 và 6 đối nhau (tiếng tay bằng, tiếng miệng trắc), dòng 6 và 7 niêm nhau (tiếng miệng trắc, tiếng ấy trắc), dòng 7 và 8 đối nhau (tiếng ấy trắc, tiếng nhiều bằng), dòng 1 và 8 niêm nhau (tiếng là bằng, tiếng nhiêu bằng). Hệ thống bằng – trắc được tính từ âm tiết thứ hai cùa mỗi dòng thơ. Âm tiết thứ hai ở dòng thứ nhất của bài thơ này là bằng cho nên bài thơ thuộc thể bằng.

d) Ở bài thơ này, khẩu khí, những câu thơ đối nhau đã góp phần tạo nên âm hưởng, nhịp điệu của bài thơ.

e) Các câu thơ trong bài ngắt nhịp 4/3.

2. Bài thơ Đập đá ở Côn Lôn

Làm trai dứng giữa đất Côn Lôn,

(B-B-T-T-T-B-B)

(B-T-B-B-T-T-B)

Xách búa đánh tan năm bảy đống,

(T – T – T – B – B – T – T)

Ra tay đập bể mấy trăm hòn.

Tháng ngày bao quản thân sành sỏi,

(T-B-B-T-B-B-T)

Mưa nắng càng bền dạ sắt son.

Những kẻ vá trời khi lỡ bước,

(T-T-T-B-B-T-T)

Gian nan chi kể việc con con.

(B- B – B – T – T – B – B)

c) Dòng 1 và 2 đối nhau, dòng 2 và 3 niêm nhau… Bài thơ được làm theo thể bằng.

d) Các tiếng có vần giống nhau là những tiếng cuối của các dòng: 1, 2, 4, 6, 8 (vần on). Đó là vần bằng.

e) Các câu thơ trong bài ngắt nhịp 4/ 3.

Phần II

LUYỆN TẬP

Câu 1 (trang 154 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Qua các truyện ngắn đã đọc (Tôi đi học, Lão Hạc, Chiếc lá cuối cùng,…), hãy thuyết minh về đặc điểm của thể loại truyện ngắn.

Mở bài:

– Nêu định nghĩa về truyện ngắn

Thân bài:

– Nêu các đặc điểm chính của truyện ngắn

+ Đặc điểm về dung lượng: số trang viết ít, không dài.

– Đặc điểm về sự kiện, nhân vật: ít nhân vật và sự kiện vì dung lượng truyện ngắn không lớn. Thường chỉ vài nhân vật và sự kiện nhỏ.

+ Diễn ra trong một khoảng thời gian và không gian hẹp

+ Không diễn đạt trọn vẹn cuộc đời mà diễn đạt theo từng khoảng thời gian

– Ý nghĩa: Mang ý nghĩa nhân sinh, ý nghĩa xã hội.

Kết bài: Nêu cảm nhận của bản thân:

+ Về vẻ đẹp, sức hấp dẫn của truyện ngắn

+ Phù hợp với cuộc sống lao động khẩn trương hiện nay

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 2

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 1

Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” số 2

Đề bài: Thuyết minh đặc điểm thể thơ thất ngôn bát cú

a, Mỗi bài thơ có 7 tiếng, số dòng và số chữ có bắt buộc và không thể tùy tiện thêm bớt.

b, Sử dụng kí hiệu bằng trắc cho hai bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác và Đập đá ở Côn Lôn

( T-B-B-T/ – T- B- B )

( T- T-B-B-T-T-B)

( T- T- B- B- B-T-T)

( T- B- T- T-T-B-B)

( T- B- B- T-B- B-T)

Miệng cười tan cuộc oán thù

( T- T- B- T- T- B)

( B- T- T- T/ B- T-T)

Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu.

( B- B-B- T- T- T- B)

c, Niêm luật của bài thơ:

+ Niêm (dính nhau) tiếng dòng trên tương ứng với dòng dưới đều B

+ Đối: tiếng dòng trên B ứng với tiếng dòng dưới T

d, Những tiếng ở cuối câu luôn hiệp vần với nhau, câu 1- 2- 4- 6- 8

e, Thường ngắt nhịp chẵn lẻ: 4/3 ; 2/2/ 3

Đăng bởi: Thiều Phạm

Từ khoá: 6 Bài soạn “Thuyết minh về một thể loại văn học” (lớp 8) hay nhất

Soạn Bài Ôn Tập Phần Làm Văn Soạn Văn 12 Tập 2 Tuần 32 (Trang 182)

Soạn văn Ôn tập phần Làm văn I. Những nội dung kiến thức cần ôn tập

1. Thống kê các kiểu loại văn bản đã học trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông và cho biết những yêu cầu cơ bản của các loại kiểu đó.

– Tự sự: là phương thức trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc, một ý nghĩa.

– Thuyết minh: trình bày thuộc tính, cấu tạo, nguyên nhân, kết quả… của sự vật, hiện tượng, vấn đề… giúp người đọc có tri thức và thái độ đúng đắn đối với đối tượng được thuyết minh.

– Nghị luận: trình bày tư tưởng, quan điểm, nhận xét, đánh giá… đối với các vấn đề xã hội văn học qua các luận điểm, luận cứ, lập luận có tính thuyết phục.

2. Theo anh (chị) để viết một văn bản, cần thực hiện những công việc gì?

– Tìm hiểu đề, xác định được yêu cầu bài viết.

– Tìm và chọn ý cho bài văn.

– Lập dàn ý.

– Viết văn bản theo dàn ý đã xác định.

– Đọc lại, sửa chữa và hoàn thiện bài viết.

3. Ôn tập về văn nghị luận

a. Đề tài cơ bản của văn nghị luận trong nhà trường

– Đề tài của văn nghị luận trong nhà trường gồm nghị luận xã hội và nghị luận văn học.

– Điểm chung:

– Điểm khác:

Nghị luận xã hội: có hiểu biết về xã hội, dẫn chứng từ thực tế…

Nghị luận văn học: có kiến thức về văn học, dẫn chứng từ các tác phẩm văn học…

b. Lập luận trong văn nghị luận

– Lập luận gồm những yếu tố: luận điểm, luận cứ, phương pháp lập luận.

– Luận điểm, luận cứ và phương pháp lập luận là gì:

Luận điểm là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm của người viết (nói) về vấn đề nghị luận.

Luận cứ là những lí lẽ và bằng cứ được dùng để soi sáng cho luận điểm.

Phương pháp lập luận: cách thức lựa chọn, sắp xếp luận điểm, luận cứ sao cho lập luận chặt chẽ và thuyết phục.

– Yêu cầu và cách xác định luận cứ cho luận điểm:

Lí lẽ phải có cơ sở, phải dựa trên những chân lí đã được thừa nhận.

Dẫn chứng phải chính xác, tiêu biểu và phù hợp với lí lẽ.

Cả lí lẽ và dẫn chứng phải phù hợp với luận điểm, tập trung làm sáng tỏ luận điểm.

c. Bố cục của bài văn nghị luận

– Vai trò của phần mở bài là giới thiệu vấn đề cần nghị luận. Phần mở bài cần ngắn gọn, chính xác và đầy đủ. Cách mở bài có thể gián tiếp hoặc trực tiếp.

– Vị trí, nội dung cơ bản của phần thân bài trong các kiểu bài nghị luận đã học: phần chính của bài viết, nằm sau mở bài. Nội dung của thân bài là triển khai các luận điểm, luận cứ của bài viết.

– Phần kết bài có vai trò tóm lược lại nội dung của toàn bài viết, cách kết bài mở rộng và không mở rộng.

d. Diễn đạt trong văn nghị luận

– Yêu cầu của diễn đạt trong văn nghị luận: từ ngữ chính xác, rõ ràng; hạn chế sử dụng khẩu ngữ; tránh sử dụng nhiều từ ngữ mang sắc thái biểu cảm…

– Các lỗi về diễn đạt: dùng từ ngữ thiếu chính xác, lặp từ, thừa từ, dùng từ ngữ không đúng phong cách, sử dụng câu đơn điệu, câu sai ngữ pháp; sử dụng giọng điệu không phù hợp với vấn đề nghị luận…

II. Luyện tập

1. Đề bài

Đọc các đề bài trong SGK

2. Yêu cầu luyện tập

a. Tìm hiểu đề: Hai đề bài trên yêu cầu phải viết kiểu bài nghị luận nào? Những thao tác lập luận nào cần sử dụng trong bài viết? Những luận điểm cơ bản nào cần dự kiến cho bài viết?

– Đề 1: Nghị luận xã hội; Đề 2: Nghị luận văn học

Những luận điểm cơ bản:

– Đề 2: Nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ.

b. Lập dàn ý cho bài viết

* Đề 1:

1. Mở bài

2. Thân bài

– Ý nghĩa của câu chuyện: mục đích của 3 câu hỏi mà Xô-cơ-rát đã đưa ra.

3. Kết bài: Khẳng định lại tính có ích của câu chuyện và khái quát bài học rút ra được.

* Đề 2:

Chọn 9 câu thơ đầu:

1. Mở bài

Giới thiệu tác giả Nguyễn Khoa Điềm, đoạn thơ Đất nước và 9 câu thơ đầu.

2. Thân bài

– Khi ta lớn lên, đã có rồi: Đất Nước ra đời từ rất xa xưa như một sự tất yếu, trong chiều sâu của lịch sử thời các vua Hùng dựng nước và giữ nước.

– Ngày xửa ngày xưa, mẹ thường hay kể: những câu chuyện cổ tích, những bài học đạo lý làm người, ước mơ khát vọng của nhân dân về lẽ công bằng.

– Miếng trầu: phong tục ăn trầu của dân gian gắn với ta nhiều đời nay và gợi nhớ sự tích Trầu cau.

– Biết trồng tre mà đánh giặc: gợi nhớ truyền thống chống giặc ngoại xâm và truyền thuyết đầy tự hào của người Việt và truyền thuyết về người anh hùng Thánh Gióng.

– Tóc mẹ bới sau đầu: những phong tục lâu đời của người Việt, người phụ nữ để tóc dài và bới lên.

– Cha mẹ, gừng cay muối mặn: gắn với câu ca dao của dân tộc, nói về tình cảm thủy chung của người Việt.

– Cái kèo, cái cột, hạt gạo, xay, giã, giần, sàng: những vật quen thuộc trong đời sống hằng ngày của người Việt Nam gắn với lao động sản xuất và nền văn minh lúa nước.

– Đất Nước có từ ngày đó: Đất Nước có từ khi dân mình biết yêu thương, sống tình nghĩa, từ ngày dân tộc có nền văn hóa riêng, từ khi dân mình biết dựng nước và giữ nước, từ trong cuộc sống hằng ngày của con người.

Advertisement

3. Kết bài

Tổng kết về nội dung, nghệ thuật và nêu cảm nhận về đoạn trích.

c. Tập viết phần mở bài cho từng bài viết

– Đề 1: Mỗi một câu chuyện đều chứa đựng một ý nghĩa nào đó. Và khi đọc “Ba câu hỏi” nhiều người đã nhận ra được một bài học trong cuộc sống.

– Đề 2: Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Thơ ông hấp dẫn người đọc bởi sự kết hợp giữa những xúc cảm nồng nàn và chất suy tư sâu lắng của người trí thức vì đất nước, vì con người. “Đất Nước” trích trong chương 5 trường ca “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm đã góp phần làm phong phú hơn, tươi mới hơn tư tưởng ấy bằng tiếng nói riêng và cách thể hiện độc đáo. Nổi bật trong tác phẩm là chín câu thơ đầu.

d. Chọn một ý trong dàn ý để viết thành một đoạn văn

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài Thuyết Minh Về Một Phương Pháp (Cách Làm) Soạn Văn 8 Tập 2 Bài 19 (Trang 24) trên website Fsey.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!