Xu Hướng 2/2024 # Tóm Tắt Một Số Tác Phẩm Văn Học Lớp 9 Tóm Tắt Tác Phẩm Văn Học Lớp 9 # Top 8 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Tóm Tắt Một Số Tác Phẩm Văn Học Lớp 9 Tóm Tắt Tác Phẩm Văn Học Lớp 9 được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Fsey.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

1. Chuyện người con gái Nam Xương

Chuyện kể về Vũ Thị Thiết, một người phụ nữ đẹp người đẹp nét, lấy chồng là Trương Sinh, con nhà hào phú. Hạnh phúc chưa được bao lâu, Trương Sinh đã phải đi lính, để lại mẹ già và người vợ trẻ. Chẳng lâu sau, Vũ Nương hạ sinh một bé trai kháu khỉnh và đặt tên là Đản. Vũ Nương hết lòng chăm sóc mẹ chồng như mẹ ruột của mình. Người mẹ vì thương nhớ con nên mẹ Trương Sinh bị bệnh qua đời. Một mình Vũ nương tảo tần nuôi con nhỏ.

Giặc tan, Trương Sinh trở về, nghe lời con nhỏ, nghi là vợ mình ở nhà thất tiết. Vũ Nương bị oan, hết lời giả bày nhưng Trương Sinh không nghe. Quá ức uất, nàng gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn. Thương Vũ Nương hàm oan, Linh Phi đã cứu nàng và cho về ở nơi động rùa dưới thủy cung. Một đêm, Trương Sinh cùng con trai ngồi bên đèn, đứa con chỉ chiếc bóng trên tường và nói đó chính là người hay tới đêm đêm. Lúc đó chàng mới hiểu ra vợ mình đã bị oan.

Phan Lang, một người cùng làng, do cứu Linh Phi nên khi chạy nạn chết đuối đã được Linh Phi cứu sống, tình cờ gặp lại Vũ Nương dưới thuỷ cung. Khi Phan Lang được trở về trần gian, Vũ Nương gửi chiếc hoa vàng cùng lời nhắn cho Trương Sinh lập đàn giải oan cho nàng. Trương Sinh nghe lời lập đàn giải oan trên bến Hoàng Giang. Vũ Nương trở về ngồi trên chiếc kiệu hoa đứng ở giữa dòng, lúc ẩn, lúc hiện nói lời từ biệt rồi biến mất.

2. Hoàng Lê nhất thống chí

Lê Chiêu Thống vì muốn đòi lại ngôi vua đã sang cầu viện nhà Thanh. Nắm được thời cơ, nhà Thanh lấy cớ khôi phục nhà Lê nhưng thực chất là nhân cơ hội này đem quân xâm chiếm nước ta. Khi Tôn Sĩ Nghị, thống lĩnh quân Thanh, kéo quân sang xâm chiếm nước ta, chúng vào Thăng Long như vào chỗ không người nên binh tướng đều kiêu căng, buông tuồng. Ở triều đình vua Lê, người cung nhân trò chuyện với thái hậu tỏ ý không tin tưởng Tôn Sĩ Nghị và khiếp sợ uy danh của Nguyễn Huệ. Lê Chiêu Thống phải đến dinh của Nghị xin xuất quân bình định phương Nam nhưng Nghị không chịu, hẹn đến mùng 6 Tết.

Khi nghe tin quân Thanh kéo vào thành Thăng Long, Nguyễn Huệ vô cùng tức giận, định cầm quân đi ngay. Các tướng lĩnh ngăn cản, cho rằng thời cơ chưa đến và khuyên Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, chính ngôi để an định lòng dân. Ngày 25 tháng Chạp năm 1788, Nguyễn Huệ lập đàn trên núi Bân, tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu Quang Trung, rồi kéo quân ra Bắc. Đến Nghệ An, vua cho tuyển thêm binh lính rồi bản hịch chiêu dụ quân sĩ. Đến Tam Điệp, vua tha tội lui quân của Sở và Lân, khen chiến thuật rút quân của Ngô Thời Nhậm.

Sau khi sửa lễ và cúng tế, ngày 30 tháng chạp, vua chia 5 đạo quân cùng tiến ra Bắc. Với chiến lược thần tốc, quân Tây Sơn tiến công như vũ bão. Ngày 30 tháng giêng chiếm Hà Hồi, ngày 5 chiến Ngọc Hồi, thái thú Sầm Nghi Đống thắt cổ chết. Trưa hôm ấy, vua Quang Trung tiến chiếm Thăng Long, quân Thanh đại bại. Tôn Sĩ Nghị đang vui say yến tiệc, nghe cấp báo sợ mất mật chạy về hướng Bắc. Vua Lê cùng tuỳ tùng chạy theo Tôn Sĩ Nghị.

3. Phong cách Hồ Chí Minh

Trong cuộc đời đầy truân chuyên của mình, Hồ Chí Minh đã được tiếp xúc với nhiều nền văn hóa các nước và thành thạo nhiều thứ tiếng khác nhau: Pháp, Anh, Hoa, Nga… Nhưng những nét văn hóa quốc tế ấy vẫn không làm ảnh hưởng đến nhân cách của một con người đậm chất Việt Nam với lối sống giản dị. Từ cuộc sống hằng ngày đến cách làm việc. Nếp sống giản dị và thanh đạm ấy giống như các vị danh nho thời xưa và hoàn toàn không phải là một cách tự thần thánh hóa, làm cho mình khác người. Đó là lối sống thanh cao, một cách di dưỡng tinh thần của Bác.

4. Truyện Kiều

Thuý Kiều, con gái đầu lòng của gia đình Vương Viên ngoại, là một cô gái tài sắc vẹn toàn. Nàng có cô em gái tên là Thúy Vân, tài sắc cũng bậc hơn người và một em trai là vương Quan rất khôi ngô, tuấn tú. Nhân tiết thanh minh, ba chị em đi chơi xuân và gặp Kim Trọng. Kim Trọng dọn đến trọ học ở mé sau vườn nhà Thuý Kiều. Nhờ đó, hai người có dịp gặp nhau để thổ lộ tình yêu và thề nguyền đính ước.

Ngay sau ngày Kim Trọng về Liêu Dương hộ tang chú, gia đình Thúy Kiều bỗng bị vu oan, Vương ông và Vương Quan bị quan phủ bắt giam. Kiều phải bán mình chuộc cha và em sau khi nhờ Thuý Vân nối duyên mình với Kim Trọng. Mã Giám Sinh mua Kiều rồi lừa bán cho Tú Bà, một kẻ buôn thịt bán người hết sức nham hiểm. Kiều bị Tú Bà đánh đập, toan tự tử nhưng mụ tra cứu kịp. Mụ dùng lời ngon ngọt dụ dỗ Kiều ra lầu Ngưng Bích nhưng lại thuê Sở Khanh lập mưu dụ nàng bỏ trốn để có cớ bắt lại, đánh đập và buộc nàng tiếp khách. Từ đó, Kiều phải sống cuộc đời ô nhục của một kỹ nữ lầu xanh.

Kiều được Thúc Sinh, một khách làng chơi hào phóng chuộc về làm vợ lẽ. Được hơn một năm, Kiều bị vợ cả của Thúc Sinh là Hoạn Thư đánh ghen thảm khốc rồi bắt về Vô Tích làm đứa ở, sau cho ra Tàng kinh các chép kinh. Kiều bỏ trốn khỏi nhà Hoạn Thư đến nương nhờ sư Giác Duyên. Bạc Bà, một phật tử thường lui tới chùa sư Giác Duyên, lại là đồng môn với Tú Bà, đã âm mưu đẩy Thúy Kiều vào lầu xanh lần thứ hai.

Kiều may mắn gặp Từ Hải – người anh hùng tài trí phi thường chuộc cưới làm vợ rồi giúp nàng báo ân báo oán. Hồ Tôn Hiến lợi dụng Thúy Kiều khuyên Từ Hải quy hàng. Từ Hải trúng kế Hồ Tôn Hiến phải chết đứng giữa trận tiền. Còn Kiều bị Hồ Tôn Hiến bắt hầu rượu và làm nhục, sau đó ép gả nàng cho tên thổ quan. Quá ô nhục, trên đường đi, Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường tự vẫn nhưng được vãi Giác Duyên cứu đem về nương nhờ nơi cửa Phật.

Nói về Kim Trọng, sau nửa năm về Liêu Dương hộ tang cho chú, trở lại mới hay tin Kiều đã bán mình chuộc cha, chàng đau đớn. Theo lời dặn của Kiều, Vương ông se duyên chàng với Thuý Vân. Sau khi đỗ đạt và làm quan, Kim Trọng lặn lội tìm Kiều, lần hỏi tin tức và gặp sư Giác Duyên biết nàng còn sống. Kim Trọng quá mừng rỡ, không quản ngại đường xa, ngay lập tức đến đón Thúy Kiều. Thúy Kiều được đoàn tụ với gia đình sau mười lăm năm lưu lạc khắp nhân gian, chịu không biết bao nhiêu khổ nhục. Kim Trọng ngỏ ý kết lại tình xưa với Thúy Kiều nhưng nàng đã từ chối. Nàng chấp nhận sống trong nhà và chỉ xem Kim Trọng như bạn bè.

5. Lục Vân Tiên

Lục Vân Tiên là một chàng trai khôi ngô tuấn tú, có tài có đức, văn võ song toàn, con một gia đình thường dân ở quận Đông Thành. Trên đường lên kinh đô dự thi, chàng đánh tan bọn cướp cứu Kiều Nguyệt Nga. Cảm công ơn ấy, Kiều Nguyệt Nga xin đền ơn nhưng chàng không nhận, về nhà, Kiều Nguyệt Nga vẽ hình Lục Vân Tiên và tự cho rằng mình đã là vợ của chàng..

Sau khi về hộ tang mẹ, Lục Vân Tiên sang nhà Võ Công nhắc lại lời hứa năm xưa. Cha con Võ Công không những bội ước mà còn nhẫn tâm đem bỏ vào hang núi Thương Tòng cho hổ dữ ăn thịt. Lục Vân Tiên được Du Thần và ông Tiều cứu, chàng may mắn gặp lại Hớn Minh. Hớn Minh đem Lục Vân Tiên về ẩn náu nơi am vắng. Khoa thi năm ấy Vương Tử Trực đỗ thủ khoa, trở lại nhà Võ Công hỏi tin tức Lục Vân Tiên. Võ Công ngỏ ý muốn gả con gái, bị Tử Trực cự tuyệt và mắng thẳng vào mặt. Võ Công quá hổ thẹn, thổ huyết mà chết.

Lại nói về Kiều Nguyệt Nga. Nghe tin Lục Vân Tiên đã chết, Kiều Nguyệt Nga thề sẽ thủ tiết suốt đời. Tên thái sư ép nàng lấy con trai hắn nhưng không được. Đem lòng thù oán, hắn tâu vua bắt nàng cống cho giặc ô Qua. Trên đường đi, nàng gieo mình xuống sông tự tử. Phật Bà Quan Âm đưa nàng dạt vào vườn hoa nhà họ Bùi. Bùi Công nhận nàng làm con nuôi nhưng Bùi Kiệm lại đòi lấy nàng làm vợ. Kiều Nguyệt Nga phải bỏ trốn nương nhờ nhà bà lão dệt vải trong rừng.

Lục Vân Tiên ở với Hớn Minh được thuốc tiên mắt sáng. kỳ thi năm ấy, chàng đi thi, đỗ trạng nguyên và được vua cử đi dẹp giặc Ô Qua. Đánh tan giặc, Lục Vân Tiên một mình lạc trong rừng, đến nhà bà lão hỏi thăm đường, chàng gặp lại Kiều Nguyệt Nga. Về triều, Lục Vân Tiên tâu hết sự tình, kẻ gian bị trừng trị, người nhân nghĩa được đền bù xứng đáng, Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga nên vợ nên chồng, sống cuộc đời hạnh phúc, viên mãn.

6. Làng

Truyện kể về tình yêu làng, yêu nước, một lòng đi theo cách mạng của người nông dân Việt Nam thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp cứu nước. Nhân vật chính là ông Hai, một người nông dân ở làng Chợ Dầu, có tình yêu sâu đậm, gắn bó tha thiết với làng quê. Vì hoàn cảnh gia đình, ông phải di cư lên thị trấn Thắng nhưng luôn khổ tâm, day dứt vì nhớ làng, nhớ anh em, nhớ đồng chí.

Khi ông chủ tịch làng lên cải chính làng ông không theo Tây, làng ông vẫn kháng chiến, ông mừng vui và cảm thấy như mình được minh oan: làng ông, nhà ông bị Tây đốt. ông vui sướng trong cái mất mát đó. Tình yêu làng của ông Hai đã được nâng cao thành lòng yêu nước nồng nàn, sâu thẳm.

7. Lặng lẽ Sa pa

Truyện kể về cuộc sống của anh thanh niên làm công tác khí tượng thuỷ văn kiêm vật lý địa cầu trên đỉnh cao Yên Sơn 2600m. Cuộc gặp gỡ bất ngờ và ngắn ngủi giữa anh thanh niên và ông hoạ sĩ sắp về hưu, bác lái xe và cô kĩ sư mới ra trường thật vui vẻ. Anh thanh niên kể về công việc của mình và những người lao động khác lặng lẽ cống hiến cho đất nước.

Qua cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, cô kỹ sư trẻ và ông họa sĩ thầm cảm phục tinh thần dám sống vì đất nước và tinh thần dũng cảm của chàng trai trẻ. Ông hoạ sĩ cảm nhận được vẻ đẹp trong bức chân dung anh thanh niên làm việc giữa bốn bề chỉ có mây mù và cây cỏ không có một bóng người.

Tất cả mọi người đến Sa Pa đều cảm nhận được Sa Pa không chỉ đẹp ở thiên nhiên yên tĩnh lặng lẽ, mà ở đó còn có những con người lao động âm thầm lặng lẽ cống hiến tuổi thanh xuân cho Tổ quốc. Cuộc chia tay đầy lưu luyến đã để lại trong lòng mọi người về con người lao động mới có lí tưởng sống cao đẹp.

8. Chiếc lược ngà

Ông Sáu, một cán bộ kháng chiến, xa nhà đi kháng chiến lúc bé Thu, con gái đầu lòng của ông chưa đầy một tuổi. Mãi đến khi con gái lên tám tuổi, ông mới có dịp về thăm nhà, thăm con. Bé Thu không nhận ra cha vì vết sẹo trên mặt làm ba em không giống với người cha trong bức ảnh mà em biết. Em đối xử với ba như người xa lạ.

Ông Sáu rất yêu thương con, cố gắng thuyết phục bé Thu gọi “ba” nhưng nó một mực không nghe. Ông càng tiếp cận, nó càng trở nên bướng bỉnh, cự tuyệt ông quyết liệt. Điều ấy khiến ông vô cùng đau khổ. Nhờ ngoại giải thích, Thu mới hiểu rõ. Đến khi Thu nhận ra cha, tình cha con thức dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc ông Sáu phải lên đường trở về khu căn cứ. Cuộc chia tay trên bến sông hôm ấy đẫm đầy nước mắt.

Ở khu căn cứ, ông Sáu dồn hết tình cảm yêu quý, nhớ thương đứa con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà voi để tặng con. Trong một trận càn, ông Sáu hi sinh. Trước lúc ra đi mãi mãi, ông đã kịp trao cây lược cho bác Ba, nhờ bạn chuyển cho con gái.

9. Cố hương

Truyện kể lại chuyến về quê lần cuối cùng của nhân vật người kể chuyện (tôi) để dọn nhà đi nơi khác làm ăn sinh sống. Nhân vật tôi đau xót nhận ra những thay đổi ghê gớm của làng quê, đặc biệt là sự tàn tạ, đần độn của Nhuận Thổ, người bạn thân thiết của “tôi” thời thơ ấu. Từ đó, người kể chuyện đã lật xới lên những vấn đề bức xúc của xã hội Trung Hoa trì trệ lúc bấy giờ. Từ đó, ông chỉ cho mọi người thấy xã hội phân chia giai cấp là do con người tạo ra. Để không còn thảm cảnh ấy nữa nhất thiết phải xây dựng một xã hội mới, trong đó con người với con người là bình đẳng.

Khi cùng gia đình tạm biệt làng quê cũ, nhân vật tôi hi vọng mọi người sẽ có một tương lai sáng sủa hơn.

10. Những đứa trẻ

Gần một tuần trôi qua ba đứa trẻ hàng xóm lại ra sân chơi và rủ Aliosa chơi cùng. Trong cuộc trò chuyện với ba anh em con nhà ông đại tá Ốp- xi- an- ni- cốp, Aliosa có hỏi mẹ chúng, chúng buồn vì mẹ của chúng đã mất còn bố chúng lấy một người mẹ khác. Để an ủi ba đứa trẻ, Aliosa đã kể cho chúng nghe những câu chuyện cổ tích mà bà câu hay kể. Tuy nhiên bố của ba đứa trẻ xuất hiện và cấm đoán Aliosa không được chơi với ba đứa trẻ nữa. Bất chấp sự ngăn cấm, những đứa trẻ vẫn tìm cách chơi với nhau, an ủi nhau bằng cách kể cho nhau nghe những câu chuyện vui buồn.

11. Bến quê

Nhĩ – nhân vật chính của truyện – từng đi khắp mọi nơi trên trái đất, về cuối đời bị cột chặt vào giường bệnh bởi một căn bệnh hiểm nghèo, đến nỗi không thể tự mình dịch chuyển lấy vài mươi phân trên chiếc giường hẹp kê bên cửa sổ. Nhưng cũng chính vào thời điểm ấy, Nhĩ đã phát hiện ra vùng đất bên kia sông, nơi bến quê quen thuộc, một vẻ đẹp bình dị mà hết sức quyến rũ. Cũng như đến lúc nằm liệt giường, nhận sự săn sóc đến từng miếng ăn, ngụm nước của người vợ, Nhĩ mới cảm nhận hết được nỗi vất vả, sự tần tảo, tình yêu và đức hi sinh thầm lặng của người vợ.

Nhĩ vô cùng khao khát được một lần đặt chân lên bờ bãi bên kia sông, cái miền đất thật gần gũi nhưng đã trở nên rất xa vời đối với anh. Và nhân vật đã chiêm nghiệm được cái quy luật đầy vẻ nghịch lý của đời người “con người ta trên đường đời thật khó tránh được những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình” họa chăng chỉ có anh đã từng in gót chân trên khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp của một bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia, trong những nét tiêu sơ và cái điều riêng anh khám phá thấy giống như một niềm mê say pha lẫn với nỗi ân hận, đau đớn.

12. Những ngôi sao xa xôi

Truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” kể về cuộc sống và chiến đấu của ba cô thanh niên xung phong – tổ trinh sát mặt đường – gồm Phương Định, Nho và chị Thao. Họ sống trong một cái hang, trên cao điểm tại một vùng trọng điểm ở tuyến đường Trường Sơn những năm chống Mỹ. Công việc của họ là quan sát máy bay địch ném bom, đo khối lượng đất đá để san lấp hố bom do địch gây ra, đánh dấu những quả bom chưa nổ và phá bom.

Công việc nguy hiểm, luôn phải đối mặt với cái chết, nhưng cuộc sống của họ vẫn không mất đi niềm vui hồn nhiên của tuổi trẻ, những giây phút thảnh thơi, thơ mộng. Họ rất gắn bó, yêu thương nhau dù mỗi người một cá tính.

Phương Định là nhân vật được khắc họa nổi bậc nhất. Cô là cô gái Hà nội xinh đẹp, luôn nhận thức rõ về bản thân. Nơi chiến trường đầy thử thách, ý chí chiến đấu, lòng dũng cảm, tình yêu tổ quốc của phương Định không ngừng được nuôi dưỡng, tăng cường, khởi sáng.

Trong một lần phá bom, Nho bị thương, hai người đồng đội hết lòng lo lắng và chăm sóc cho Nho. Một cơn mưa đá vụt đến và vụt đi đã gợi trong lòng Phương Định bao hoài niệm, khát khao.

13. Bố của Xi-mông

Truyện Bố của Xi-mông Gồm các nội dung như sau, phần đầu kể về nỗi tuyệt vọng khi bị trêu chọc của nhân vật Xi-mông. Cậu bé đã từng có ý định sẽ đi tự tử vì những lời chế giễu quá cay độc của đám bạn cùng trang lứa. Ở phần tiếp theo kể về phân cảnh XI mông gặp được người cha tương lai của mình với cái tên là Phi – líp. Bác Phi-líp gặp Xi-mông an ủi, động viên em. Những lời nói đó đã vô tình in vào tâm thức của xi mông khiến cậu bé nghĩ rằng mình phải sống tốt hơn và suy nghĩ cho mình nhiều hơn, bác đã khuyên cậu bé hãy sống vì bản thân mình chứ đừng sống vì người khác, đó là điều hết sức dại dột.

Phần tiếp theo bác Phi-líp đưa Xi-mông về nhà và sau đó bác nhận làm bố của em. Xi mông đã rất vui mừng cậu bỗng dưng có một người cha mà trước đây mình chưa hề có. Sau cùng, Xi-mông vui vẻ nói mình đã có bố là ông Phi-líp.

14. Con chó Bấc

Tác phẩm kể về con chó Bấc – đây là loài chó duy nhất được đưa lên vùng bắc cực sinh sống với mục đích làm xe kéo trượt tuyết cho những thợ đào vàng nơi đây. Nó tốt hay xấu, được ăn no hay bỏ đói đều phụ thuộc vào tay người chủ. Trước đây Bấc đã từng qua tay của rất nhiều thợ đào vàng độc ác, chúng hành hạ đối xử bất công với những chú chó bấc của họ. Duy nhất mỗi Thooc – tơn – một người được biết đến là rất yêu quý những giống động vật, ông không coi những con chó bấc là phương tiện kiếm sống mà coi nó như những người thân trong gia đình. Từ đó, chú chó Bấc đã được cảm hóa. Sau khi Thooc – tơn qua đời chú chó quyết định rời xa cuộc sống thực tại để đi theo tiếng gọi của thiên nhiên hoang dã.

15. Bắc Sơn

Ngọc sau vụ đó được thưởng rất nhiều tiền, tiếp tục làm tay sai cho giặc dẫn Tây về tìm bắt anh Thái và Cửu – một nông dân người Tày làm cán bộ Cách mạng. Khi hắn dẫn theo tùy tùng đi truy đuổi, cô Thơm đã giấu Thái và Cửu vào trong buồng nhà và cứu thoát họ, cô chính thức giác ngộ cách mạng. Biết được âm mưu đánh úp của chồng và đồng bọn, Thơm băng qua rừng giữa đêm khuya tới căn cứ để tiếp tế và báo tin. Quay về gặp Ngọc, cô bị y bắn trọng thương, y cũng trúng đạn mà chết. Cuộc càn quét của giặc thất bại, Thái và Cửu đưa Thơm về cứu chữa.

Advertisement

16. Đồng chí

Bài thơ Đồng chí kể về cuộc sống và chiến đấu của những người lính cụ Hồ thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp đầy gian khổ. Họ xuất thân tù những miền quê nghèo khó, rời bỏ làng quê, gia đình để đến với cách mạng, đến với cuộc kháng chiến chống giặc cứu nước. Cuộc sống và chiến đấu nơi rừng núi của người lính vô cùng thiếu thốn, gian khổ và hiểm nguy. Thế nhưng, những trở ngại ấy không làm họ sờn lòng. Họ chia sẻ cho nhau những vật chất đơn sơ, cùng chăm sóc nhau khi ốm đau bệnh tật, cùng chiến đấu bên cạnh nhau. Không những thế, họ còn có những giây phút mơ mộng, hướng về cái đẹp trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Chính tình đồng chí ấm áp, thiêng liêng tiếp thêm sức mạnh, giúp họ vượt qua nghịch cảnh, chiến thắng kẻ thù.

17. Mùa xuân nho nhỏ

Nội dung Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ nói về vẻ đẹp mùa xuân với những hình ảnh, màu sắc hài hòa và sinh động. Cảm xúc của tác giả trước cảnh xuân của đất nước Niềm tin của tác giả vào tương lai rạng ngời của dân tộc Việt Nam. Âm thanh mùa xuân vang lên từ sự vất vả khó khăn, Đất nước ta luôn đứng vững trên mọi bầu trời. Lời ước nguyện khiêm nhường, âm thầm và lặng lẽ của tác giả muốn tô điểm và cống hiến cho cuộc đời.

18. Bàn về đọc sách

Bài “Bàn về đọc sách” nói về tầm quan trọng của việc đọc sách đối với việc nâng cao tri thức và tạo dựng giá trị con người. Đồng thời bài viết còn chỉ ra những cách đọc sách đúng, hiệu quả để khai thác tối đa ý nghĩa của những cuốn sách cho bạn đọc nhiều thế hệ.

19. Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới

Bài viết “Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới” là một bài viết mang ý nghĩa thời sự lâu dài đối với con người, đặc biệt là thế hệ trẻ Việt Nam ở mọi giai đoạn lịch sử. Bài viết đề cập một cách thẳng thắn và đầy thuyết phục về những điểm mạnh, điểm yếu của con người Việt Nam. Từ cơ sở đó, tác giả Vũ Khoan nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc chuẩn bị bản thân con người trước thềm đổi mới, hội nhập cùng với đó là vai trò của thế hệ trẻ – những người chủ thực sự của đất nước trong thế kỉ mới.

20. Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang

Rô-bin-xơn là một thanh niên cường tráng, dũng cảm ưa mạo hiểm, khao khát đi tới những miền đất lạ, thích vượt trùng dương. Chàng đi xuống tàu tại thương cảng Hơn, theo bạn đi Luân Đôn. Tàu bị đắm tại Yác-mao. Chẳng nhụt chí trước tai họa, chẳng mềm lòng trước lời kêu khóc của mẹ cha, Rô-bin-xơn làm quen với một thuyền trưởng tàu buôn đi sang Ghi-nê: Chuyến đầu tốt đẹp, chuyến thứ hai gặp cướp biển, bị bắt làm nô lệ ở Xa-lê. Hai năm sau trốn thoát, lưu lạc sang Bra-xin lập đồn điền. Có một tí vốn, 4 năm sau lại cùng bạn xuống tàu buôn đi Ghi-nê. Tàu gặp bão, bị đắm. Hầu hết đều chết, chỉ còn Rô-bin-xơn may mắn sống sót. Tàu đắm dạt vào một nơi gần đảo hoang. Chàng tìm cách lên đảo, làm lán trại chuyên chở mọi thứ còn lại trên tàu đắm, từ khẩu súng, viên đạn đến lương thực lên đảo. Chàng săn bắn, kiếm ăn, trồng trọt, nuôi dê, làm đủ nghề như đan lát, nặn gốm …. để duy trì cuộc sống đơn độc trên đảo hoang.

21. Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh

Chúa Trịnh (Trịnh Sâm) đánh bại các cuộc khởi nghĩa nông dân, nam chinh. Sau này trở nên sa đọa, vị vua có thói ăn chơi, thích xây dựng các đền đài cung điện để thỏa mãn sở thích của mình. Mỗi lần đi chơi, Chúa đều mang theo nhiều binh lính, người hầu hạ. Các công trình của Trịnh Sâm xây dựng đều tốn tiền bạc của nhân dân.

Chúa Trịnh Sâm có thú chơi thích sưu tầm của ngon vật lạ trên thế gian mang về làm của riêng. Bọn quan lại xấu xa ban ngày thì đi điều tra của ngon vật lạ của dân chúng, ban đêm cướp cây cảnh, chậu hoa quý. Ai phản kháng bọn chúng tố giác giấu vật biếu vua. Dân chúng buộc phải bỏ tiền cho chúng hoặc đập phá cây cảnh, chậu hoa nếu không muốn rước họa vào thân.

22. Tôi và chúng ta

Vở kịch Tôi và chúng ta là câu chuyện về cuộc đấu tranh gay gắt giữa những con người mạnh dạn đổi mới, dám nghĩ dám làm, vì lợi ích của mọi người như Hoàng Việt và Thanh với những con người bảo thủ, lạc hậu, khư khư giữ lấy các quy tắt đã xơ cứng lạc hậu, tiêu biểu là Nguyễn Chính, Trương, Trần Khắc. Từ đó, tác giả khẳng định rằng không có thứ chủ nghĩa tập thể chung chung, không thể giữ mãi những thứ đã cũ mòn, cần quan tâm chăm chút đến cái “tôi” riêng làm nên cái “ta”, đến từng cá nhân con người.

23. Đấu tranh cho một thế giới hòa bình

Bài viết Đấu tranh cho một thế giới hòa bình của Mác-két đề cập đến vấn đề mang tính thời sự của toàn nhân loại: nguy cơ chiến tranh hạt nhân đang đe dọa toàn thể loài người và sự sống trên trái đất, cuộc chạy đua vũ trang vô cùng tốn kém đã cướp đi của thế giới nhiều điều kiện để phát triển. Từ đó tác giả đặt ra vấn đề: nhân loại cần phải đấu tranh cho một thế giới hòa bình, ngăn chặn và xóa bỏ nguy cơ chiến tranh hạt nhân.

24. Tiếng nói của văn nghệ

Bài nghị luận “Tiếng nói của văn nghệ” là hệ thống luận điểm phân tích nội dung phản ánh, thể hiện của văn nghệ. Không chỉ vậy, tác giả còn thông qua bài viết khẳng định sức mạnh lớn lao của văn nghệ đối với đời sống con người.

Văn Mẫu Lớp 10: Tóm Tắt Văn Bản Hồi Trống Cổ Thành (13 Mẫu) Tóm Tắt Hồi Trống Cổ Thành

TOP 13 mẫu Tóm tắt Hồi trống Cổ Thành

Tóm tắt đoạn trích Hồi trống cổ Thành 

Tóm tắt Hồi trống cổ Thành (4 mẫu)

Tóm tắt bài Hồi trống Cổ thành (8 mẫu)

Tóm tắt đoạn trích Hồi trống cổ Thành

Đoạn trích Hồi trống Cổ Thành thuộc hồi 28. Quan Công đưa hai chị dâu sang Nhữ Nam, kéo quân đến Cổ Thành gặp được Trương Phi. Nào ngờ, việc Quan Công hàng Tào Tháo bị Trương Phi hiểu lầm là bội nghĩa, đòi giết Quan Công. Để xua tan mối nghi ngờ, Quan Công đã nhận ngay điều kiện Trương Phi đưa ra : Phải lấy đầu Sái Dương (viên tướng của Tào Tháo) trong ba hồi trống. Chưa đứt một hồi, đầu Sái Dương đã lăn dưới đất. Bấy giờ, Phi mới hiểu được lòng dạ trung thực của Quan Công, rỏ nước mắt khóc, thụp lạy Quan Công.

Tóm tắt Hồi trống cổ Thành (4 mẫu) Tóm tắt mẫu 1

Quan Công trúng kế của Tào Tháo, dẫn quân ra ngoài thành Hạ Bì nên bị thất thủ. Ba anh em Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi lạc nhau mỗi người một nơi. Khi Quan Công bị quân Tào bắt, Trương Liêu, một viên tướng của Tào Tháo là bạn của Quan Công thời trẻ đã đến thuyết phục Quan Công về với Tào Tháo. Quan Công ra ba điều kiện trong đó có một điều kiện là hễ nghe tin Lưu bị ở đâu thì phải để cho Quan Công về ngay với anh. Khi nghe tin Lưu Bị sống ở bên Viên Thiệu, Quan Công đã vượt qua năm cửa ải, chém sáu tướng, đưa hai chị dâu về với Lưu Bị. Trên đường về, đến Cổ Thành, gặp Trương Phi và xung đột đã xảy ra do hiểu lầm Quan Công hàng Tào Tháo. Cho đến khi Quan Công lấy đầu viên tướng của Tào Tháo là Sái Dương, và nghe kể lại mọi chuyện từ tên lính Tào thì Trương Phi mới hiểu được lòng dạ của Quan Công.

Tóm tắt mẫu 2

Hồi trống Cổ Thành thuộc hồi 28 – Tam quốc diễn nghĩa. Quan Công đưa hai chị dâu sang Nhữ Nam. Đến Cổ Thành thì nghe nói Trương Phi đang ở đó thì mừng rỡ sai Tôn Càn vào thành báo Trương Phi ra đón hai chị. Trương Phi khi ấy đang tức giận vì hiểu lầm Quan Công hàng Tào, nghe tin báo liền mặc áo giáp, vác mâu và dẫn 1000 quân lính ra cổng thành. Vừa tới gần bèn múa xà mâu lao đến đòi giết Quan Công. Quan Công bị bất ngờ nhưng rất may tránh kịp nên không mất mạng. Đang nóng giận, Trương Phi nhất quyết không chịu ghi nhận lòng trung của Quan Công dù cả hai chị dâu đã hết lời thanh minh sự thật. Đột nhiên ở đằng xa, Sái Dương mang quân Tào đuổi tới. Trương Phi càng thêm tức giận, buộc Vân Trường phải lấy đầu ngay tên tướng đó trong ba hồi trống để chứng thực lòng trung. Quan Công không nói một lời, múa long đao xô lại. Chưa đứt một hồi trống giục, đầu Sái Dương đã lăn dưới đất. Bấy giờ, Phi mới tin anh là thực. Phi mời hai chị vào thành, nghe kể lại những việc anh Hai đã làm bèn cúi đầu sụp lạy xin lỗi.

Tóm tắt mẫu 3

Sau thất thủ Từ Châu, ba anh em kết nghĩa Lưu – Quan – Trương phiêu bạt mỗi người một nơi. Quan Vũ túng thế đành phải tạm ẩn náu nhờ đất Tào Tháo với điều kiện hàng Hán chứ không hàng Tào, hễ biết tin anh ở đâu là sẽ đi ngay. Ngay khi nghe tin Lưu Bị đang ở với Viên Thiệu, Quan Vũ rời bỏ đất Tào, vượt qua năm cửa ải, chém sáu tướng Tào cản đường, hộ tống hai chị dâu trở về. Trên đường đi, Quan Vũ gặp Trương Phi ở Cổ Thành. Quan Vũ hết sức mừng rỡ khi gặp lại người em kết nghĩa, nhưng không may, Trương Phi nghe tin Quan Công theo Tào phản bội anh em nên đem quân ra cửa Bắc “hỏi tội” Vân Trường. Mặc cho sự can ngăn của hai chị dâu, Trương Phi vẫn không dẹp bỏ mối nghi ngờ với Quan Công, thậm chí còn quát mắng, kể tội thậm chí múa xà mâu chạy lại đâm Quan Công. May thay Quan Công tránh kịp mũi mâu. Sau quá trình đối chất căng thẳng, Trương Phi càng nóng nảy. Mãi cho tới khi thấy quân Sái Dương đuổi theo Quan Công để trả thù việc giết Tần Kì, rồi nghe được tên lính cầm cờ hiệu kể lại đầu đuôi nông nỗi, Trương Phi mới tin anh mình, rỏ nước mắt khóc, thụp lạy anh.

Tóm tắt mẫu 4

Đoạn trích Hồi trống Cổ Thành thuộc hồi 28. Quan Công đưa hai chị sang Nhữ Nam. Kéo quân đến Cổ Thành thì nghe nói Trương Phi đang ở đó. Quan Công mừng rỡ sai Tôn Càn vào thành báo Trương Phi ra đón hai chị. Trương Phi khi ấy đang tức giận, nghe tin báo liền sai quân lính mở cổng thành, rồi một mình một ngựa vác bát xà mâu lao đến đòi giết Quan Công. Quan Công bị bất ngờ nhưng rất may tránh kịp nên không mất mạng. Đang nóng giận, Trương Phi nhất quyết không chịu ghi nhận lòng trung của Quan Công dù cả hai vị phu nhân đã hết lời thanh minh sự thật. Giữa lúc đang bối rối thì đột nhiên ở đằng xa, Sái Dương mang quân Tào đuổi tới. Trương Phi càng thêm tức giận, buộc Vân Trường phải lấy đầu ngay tên tướng đó để chứng thực lòng trung. Quan Công không nói một lời, múa long đao xô lại. Chưa đứt một hồi trống giục, đầu Sái Dương đã lăn dưới đất. Bấy giờ, Phi mới tin anh là thực. Phi mời hai chị vào thành rồi cúi đầu sụp lạy xin lỗi Quan Công.

Tóm tắt bài Hồi trống Cổ thành (8 mẫu) Tóm tắt mẫu 1

“Hồi trống Cổ Thành” được trích ở hồi 28 “Chém Sái Dương anh em hòa giải. Hồi Cổ Thành tôi chúa đoàn viên”. Ở đoạn trích này, để minh oan cho mình, xua tan mối nghi ngờ, sự hiểu lầm của Trương Phi, Quan Công đã nhận ngay điều kiện mà Trương Phi đã đưa ra: Phải lấy đầu Sái Dương trong ba hồi trống. Không đợi đến hồi thứ ba, chỉ mới xong hồi trống thứ nhất, đầu Sái Dương đã lăn lóc dưới đất. Sở dĩ Quan Công hành động gấp như vậy là vì ông muốn tỏ rõ ngay tấm lòng trung thực của ông, để giải quyết ngay sự hiểu lầm của Trương Phi. Riêng Trương Phi, vì nghĩ rằng Quan Công ở với Tào Tháo mà Tào Tháo là giặc, nên Quan Công bội nghĩa. Khi nghe Tôn Càn báo tin Vân Trường đưa phu nhân từ Hứa Đô đến, Trương Phi nóng nảy định giết Quan Công. Cho đến khi thấy Quan Công lấy đầu Sái Dương (viên tướng của Tào Tháo), và nghe lời kể của một tên lính Tào Tháo thì Trương Phi mới hiểu được lòng dạ trung thực của Quan Công và nhất là khi nghe những việc Quan Công đã trải qua, Trương Phi đã rỏ nước mắt khóc, sụp xuống lạy Vân Trường.

Tóm tắt mẫu 2

Biết tin anh là Lưu Bị ở Hà Bắc trên đất Viên Thiệu, Quan Vũ đưa 2 chị (vợ của Lưu Bị) đi tìm anh. Tào Tháo tránh không tiếp Quan Vũ đến từ biệt vì muốn lưu giữ Quan Vũ để dùng. Tháo không cấp giấy qua ải, nhưng cũng không cho tướng đuổi bắt. Các tướng vẫn không cho Quan Vũ qua ải. Quan Vũ phải mở đường máu mà đi.

Đến Cổ Thành, Quan Vũ ngỡ là gặp được em xiết bao vui mừng, ai ngờ Trương Phi “mắt trợn tròn xoe, râu hùm vểnh ngược, hò hét như sấm, múa xà mâu chạy lại đâm Quan Công”. Bất ngờ, Sái Dương lại kéo quân đến bắt Quan Vũ. Phi càng nghi ngờ… Chỉ đến lúc đầu Sái Dương bị Quan Vũ chém đứt, Phi mới đánh được hồi trống, Phi mới nguôi giận dần. Và chỉ sau khi nghe tên lính kể đầu đuôi mọi chuyện… Phi mới tin, “rỏ nước mắt khóc, thụp lạy Vân Trường”.

Tóm tắt mẫu 3

Sau thất thủ Từ Châu, ba anh em kết nghĩa Lưu – Quan – Trương phiêu bạt mỗi người một nơi. Quan Vũ túng thế đành phải tạm náu nhờ đất Tào Tháo với điều kiện hàng Hán chứ không hàng Tào, hễ biết tin anh ở đâu là sẽ đi ngay. Ngay khi nghe tin Lưu Bị đang ở với Viên Thiệu, Quan Vũ rời bỏ đất Tào, vượt qua năm cửa ải, chém sáu tướng Tào cản đường, hộ tống hai chị dâu trở về. Trên đường đi, Quan Vũ gặp Trương Phi ở Cổ Thành. Quan Vũ hết sức mừng rỡ khi gặp lại người em kết nghĩa, nhưng không may, Trương Phi nghe tin Quan Công theo Tào phản bội anh em nên đem quân ra cửa Bắc “hỏi tội” Vân Trường. Mặc cho sự can ngăn của hai chị dâu, Trương Phi vẫn không dẹp bỏ mối nghi ngờ với Quan Công, thậm chí còn quát mắng, kể tội thậm chí múa xà mâu chạy lại đâm Quan Công. May thay Quan Công tránh kịp mũi mâu. Sau quá trình đối chất căng thẳng, Trương Phi càng nóng nảy. Mãi cho tới khi thấy quân Sái Dương đuổi theo Quan Công để trả thù việc giết Tần Kì, rồi nghe được tên lính cầm cờ hiệu kể lại đầu đuôi nông nỗi, Trương Phi mới tin anh mình, rỏ nước mắt khóc, thụp lạy anh.

Tóm tắt mẫu 4

Đoạn trích “Hồi trống Cổ Thành” kể về việc Quan Công bị Trương Phi nghi ngờ, không tin vào lòng trung thành mà đòi giết. Khi đó Quan Công đưa hai chị sang Nhữ Nam, đi đến Cổ Thành thì nghe được tin Trương Phi đang ở đó, liền mừng rỡ sai Tôn Càn vào thành bẩm báo Trương Phi ra đón hai chị.

Trương Phi lúc đó tức giận, lại nghe tin liền sai quân lính mở cổng thành, một mình một ngựa vác bát xà mâu một mực lao đến đòi giết Quan Công. Quan Công bất ngờ về hành động của Trương Phi nhưng rất may là tránh kịp nếu không đã mất mạng. Lúc nóng giận, Trương Phi nhất quyết không ghi nhận lòng trung thành của Quan Công, mặc cho hai vị phu nhân dốc sức thanh minh sự thật.

Đúng lúc bối rối thì phía đằng xa Sái Dương mang quân Tào đuổi tới, Trương Phi lại càng tức giận thêm. Trương Phi buộc Quan Công phải lấy được đầu Sái Dương để chứng minh lòng trung thành. Quan Công không nói một lời, chưa dứt một hồi trống giục thì đầu Sái Dương đã lăn xuống dưới đấy. Lúc đó Trương Phi mới tin Quan Công, mở cổng thành mời hai chị và cúi đầu sụp lạy Quan Công.

Tóm tắt mẫu 5

Vân Trường biết tin Lưu Bị ở Hà Bắc trên đất Viên Thiệu liền đưa hai người vợ của Lưu Bị đi tìm anh. Vì Tào Tháo muốn giữ Vân Trường lại để dùng mà không cấp giấy quả ải, nhưng cũng không cho tướng đuổi bắt. Vì không cho qua ải mà Vân Trường buộc phải mở đường máu mà đi.

Khi đến Cổ Thành, Vân Trường vui mừng vì gặp được Trương Phi, nào ngờ Phi “mắt trợn tròn xe, râu hùm vểnh ngược, hò hét như sấm, máu xà mâu” một mực đòi giết. Đúng lúc đó Sái Dương cùng với quân Tào Tháo đuổi đến, điều này càng làm Trương Phi thêm tức giận, buộc Vân Trường phải lấy được đầu Sái Dương để chứng minh lòng trung thành. Chưa kết thúc một hồi trống giục thì đấu Sái Dương đã lăn xuống đất, Phi lúc này mới bình tâm mà nghe kể đầu đuôi câu chuyện và bày tỏ sự hối lỗi với Vân Trường và hai chị.

Advertisement

Tóm tắt mẫu 6

Nghe tin Lưu Bị ở đất Viên Thiệu, Quan Công đưa hai chị dâu lên đường đi tìm anh. Khi đi đến Cổ Thành, Quan Công nghe nói Trương Phi đang chiếm thành ở đó bèn sai Tôn Càn vào báo tin để Trương Phi ra ngoài thành đón hai chị. Do có sự hiểu nhầm rằng Quan Công đã đầu hàng Tào Tháo mà Trương Phi định đâm người anh em kết nghĩa. Dù hai chị dâu đã thanh minh, thuyết phục nhưng Trương Phi vẫn không tin lòng trung thành của Quan Công. Trương Phi thách thức Quan Công sau ba hồi trống phải lấy được đầu của tên tướng quân Tào đang dẫn quân vào đánh. Chỉ khi Quan Công lấy đầu tên tướng Sái Dương thì Quan Công mới chứng thực được sự trung nghĩa của mình và được Trương Phi tin tưởng. Sau đó, Trương Phi mời hai người chị dâu vào thành và xin lỗi Quan Công vì đã hiểu nhầm anh.

Tóm tắt mẫu 7

Quan Công dẫn hai chị chạy đến Cổ Thành thì nghe nói Trương Phi đang ở đó. Ông mừng rỡ sai Tôn Càn vào thành báo tin cho Trương Phi ra đón. Nghe tin báo, Trương Phi lập tức mặc áo giáp, vác mâu lên ngựa, dẫn nghìn quân, đi tắt ra cửa Bắc. Gặp Trương Phi, Quan Công vô cùng mừng rỡ. Nhưng Trương Phi nghi ngờ Quan Công đã hàng Tào, bội nghĩa vườn đào nên vác mâu xông tới đâm Quan Công mặc cho Quan Công và hai vị phu nhân hết lời thanh minh. Giữa lúc đang bối rối thì đột nhiên ở đằng xa, Sái Dương mang quân Tào đuổi tới khiến Trương Phi càng thêm tức giận, buộc Quan Công phải lấy đầu ngay tên tướng đó để chứng thực lòng trung. Chưa dứt một hồi trống giục, đầu Sái Dương đã lăn dưới đất. Lúc này, Trương Phi mới tin lời Quan Công. Trương Phi mời hai chị vào thành rồi cúi đầu sụp lạy xin lỗi Quan Công.

Tóm tắt mẫu 8

“Hồi trống Cổ Thành” được trích ở hồi 28 – Tam quốc diễn nghĩa. là đoạn trích kể về việc Quan Công minh oan cho mình, xua tan mối nghi ngờ, sự hiểu lầm của Trương Phi. Khi nghe tin Lưu Bị đang ở bên Viên Thiệu, Quan Công liền lập tức đưa hai chị lên đường, đến Cổ Thành nghe tin Trương Phi đang ở đây thì hết sức vui mừng, nào ngờ Trương Phi lại hiểu lầm anh Hai đã hàng Tào. Khi nghe Tôn Càn báo tin Vân Trường đưa phu nhân từ Hứa Đô đến, Trương Phi nóng nảy định giết Quan Công. Bấy giờ, do giết cháu ngoại tướng Sái Dương của Tào lên bị hắn đem quấn đuổi tới. Và Quan Công đã chấp nhận điều kiện mà Trương Phi đã đưa ra: “Phải lấy đầu Sái Dương trong ba hồi trống”. Không đợi đến hồi thứ ba, chỉ mới xong hồi trống thứ nhất, đầu Sái Dương đã lăn lóc dưới đất. Sau đó lại nghe lời kể của một tên lính Tào Tháo thì Trương Phi mới hiểu được lòng dạ trung thực của Quan Công và nhất là khi nghe những việc Quan Công đã trải qua, Trương Phi đã rỏ nước mắt khóc, sụp xuống lạy anh Hai.

Văn Mẫu Lớp 9: Tóm Tắt Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân (Sơ Đồ Tư Duy) Dàn Ý & 23 Mẫu Tóm Tắt Bài Làng

TOP 23 mẫu tóm tắt truyện ngắn Làng ngắn gọn, đặc sắc nhất. Qua đó, giúp các em học sinh lớp 9 nắm được toàn bộ nội dungchính trong truyện ngắn Làng của Kim Lân để dễ dàng tóm tắt văn bản Làng.

Dàn ý tóm tắt truyện ngắn Làng của Kim Lân

Tóm tắt văn bản Làng lớp 9 ngắn nhất (14 mẫu)

Tóm tắt bài Làng đầy đủ (9 mẫu)

Sơ đồ tư duy tác phẩm Làng (2 mẫu)

Ông Hai rất yêu làng chợ Dầu. Ở vùng tản cư, suốt ngày ông kể về làng, khoe về làng.

Khi nhận được tin làng chợ Dầu theo Tây, ông rất đau khổ nằm lì trong nhà ba bốn ngày liền.

Ông Hai nghe được tin cải chính: Làng chợ Dầu không phải là làng Việt gian, không theo Tây. Ông sung sướng đi khoe với mọi người. Mặc dù nhà bị đốt, nhưng ông Hai lại rất vui mừng vì làng ông vẫn là làng kháng chiến.

Tác phẩm thể hiện chân thực, sâu sắc và cảm động tình yêu làng quê và lòng yêu nước, tinh thần kháng chiến của người nông dân phải rời làng đi tản cư.

Ông Hai là một người nông dân rất yêu và tự hào về làng chợ Dầu của mình. Vì chiến tranh, gia đình ông phải đi tản cư. Một hôm ông nghe tin làng chợ Dầu theo Tây. Tin dữ bất ngờ khiến ông không thể tin, rồi sau đó là bàng hoàng và xót xa. Về nhà, ông nằm vật ra, ai nói gì cũng tưởng họ bàn tán về làng mình. Ông không biết nên về làng hay đi đến nơi khác. Sau khi trò chuyện với thằng con trai út, ông Hai quyết định: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Đến khi chủ tịch xã lên cải chính làng Dầu không theo giặc, ông vô cùng sung sướng đi khoe với tất cả mọi người.

Ông Hai là người một người nông dân yêu tha thiết yêu làng Chợ Dầu của mình. Do yêu cầu của ủy ban kháng chiến, ông Hai phải cùng gia đình tản cư. Xa làng ông nhớ làng da diết. Trong những ngày xa quê, ông luôn nhớ đến làng Chợ Dầu và muốn trở về. Một hôm, ông nghe tin làng Chợ Dầu của ông làm Việt gian theo Tây. Ông Hai vừa căm uất vừa tủi hổ, chỉ biết tâm sự cùng đứa con thơ. Khi cùng đường, ông Hai nhất định không quay về làng vì theo ông “làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù.” Sau đó, ông được nghe tin cải chính về làng mình rằng làng chợ Dầu vẫn kiên cường đánh Pháp. Ông hồ hởi khoe với mọi người tin này dù nhà ông bị Tây đốt cháy.

Ông Hai là người làng Chợ Dầu. Trong kháng chiến chống Pháp, ông phải đưa gia đình đi tản cư. Ở đây, lúc nào ông cũng nhớ làng và luôn dõi theo tin tức cách mạng.. Khi nghe tin đồn làng Chợ Dầu theo giặc, ông vô cùng đau khổ, cảm thấy xấu hổ, nhục nhã. Ông không đi đâu, không gặp ai, chỉ sợ nghe đồn về làng ông theo giặc. Nỗi lòng buồn khổ đó càng tăng lên khi có tin người ta không cho những người làng ông ở nhờ vì là làng Việt gian. Ông không biết bày tỏ với ai, không dám đi ra ngoài. Thế là ông đành nói chuyện với thằng con út cho vơi nỗi buồn, cho nhẹ bớt những đau khổ tinh thần. Khi nhận tin cải chính, vẻ mặt ông tươi vui, rạng rỡ hẳn lên. Ông chia quà cho các con, và tất bật báo tin cho mọi người rằng nhà ông bị Tây đốt, làng ông không phải là làng Việt gian. Ông thêm yêu và tự hào về cái làng của mình.

Ông Hai là người dân làng chợ Dầu, trong những ngày tháng giặc Pháp tràn vào làng, ông cùng gia đình tản cư đến nơi khác. Làng của ông bị người ta đồn là làng Việt gian, bán nước, nhưng trong lòng ông vẫn giữ vững niềm tin về làng của mình. Khi đã sống ở nơi tản cư, ông Hai dù không biết đọc, nhưng hằng ngày vẫn đến phòng thông tin để nghe thông tin về kháng chiến, và đặc biệt là hỏi thăm thông tin về làng chợ Dầu của ông. Khi nghe người ở nơi tản cư đồn làng ông bán nước, ông Hai đã đau khổ, bức bối vô cùng, còn có cả suy nghĩ bỏ làng, nơi tản cư cũng không cho dân làng chợ Dầu ở nữa. Nhưng may thay, tới lúc gia đình ông chuẩn bị đi nơi khác thì tin làng ông theo Tây đã được cải chính, ông Hai sung sướng, tự hào vô cùng.

Truyện ngắn Làng của Kim Lân kể về thời gian đầu của cuộc kháng chiến chống giặc Pháp đầy ác liệt, cam go. Truyện để về ông Hai là một con người buộc phải xa làng vì chiến tranh để đến nơi di tản mới. Trong lòng ông vẫn luôn nhớ da diết ngôi làng của mình. Trở về làng ông hay tin ngôi làng đã theo giặc Tây, sự xấu hổ, tủi nhục đến nỗi ông không dám đi đâu ra khỏi nhà nhiều ngày liền. Mọi việc càng tệ hơn khi chủ nhà không cho gia đình ông ở vì ông là ngôi của làng Việt gian. Bỗng ông hãy tin làng Chợ Dầu không hề theo Tây vẫn chiến đấu theo cụ Hồ theo cách mạng, trong lòng ông bỗng vui vẻ trở lại, ông khoe với mọi người khắp nơi rằng Tây đốt sạch làng Chợ Dầu đốt cả nhà của ông trong niềm vui, vui bởi làng vẫn yêu nước, yêu cách mạng. Đó là niềm vui của con người yêu làng, yêu quê hương chân chính.

Ông Hai là một người con của làng Chợ Dầu vì hoàn cảnh mà buộc phải sống xa làng, dù vậy ông vẫn luôn nhớ về quê hương nơi mình sinh ra lớn lên. Một hôm khi trở về làng ông nghe tin làng theo Tây, tin dữ đến một cách quá bất ngờ khiến ông thất vọng, hụt hẫng và không tin vào sự thật đó. Ông trở về nhà buồn bã, thất vọng, không dám đi đâu nhiều ngày liền. Sau đó có người trong làng chạy đến báo tin làng không theo Tây mà mọi người vẫn chiến đấu theo cách mạng ông mới vui vẻ trở lại, thì ra đó là tin đồn thất thiệt. Ông Hai khoe với mọi người làng đã bị Tây đốt, ngay cả ngôi nhà của mình cũng vậy, dù mất đi tài sản nhưng ông vẫn cảm thấy vui vì cả làng ông vẫn yêu nước, yêu cách mạng.

Truyện ngắn Làng của Kim Lân kể về thời gian đầu của cuộc kháng chiến chống giặc Pháp đầy ác liệt, cam go. Truyện để về ông Hai là một con người buộc phải xa làng vì chiến tranh để đến nơi di tản mới. Trong lòng ông vẫn luôn nhớ da diết ngôi làng của mình. Trở về làng ông hay tin ngôi làng đã theo giặc Tây, sự xấu hổ, tủi nhục đến nỗi ông không dám đi đâu ra khỏi nhà nhiều ngày liền. Mọi việc càng tệ hơn khi chủ nhà không cho gia đình ông ở vì ông là ngôi của làng Việt gian. Bỗng ông hãy tin làng Chợ Dầu không hề theo Tây vẫn chiến đấu theo cụ Hồ theo cách mạng, trong lòng ông bỗng vui vẻ trở lại, ông khoe với mọi người khắp nơi rằng Tây đốt sạch làng Chợ Dầu đốt cả nhà của ông trong niềm vui, vui bởi làng vẫn yêu nước, yêu cách mạng. Đó là niềm vui của con người yêu làng, yêu quê hương chân chính.

Truyện ngắn Làng kể về làng chợ Dầu một ngôi làng nghèo trong thời gian thực dân Pháp xâm lược. Ông Hai là nhân vật chính trong truyện, sinh ra và lớn lên từ làng nhưng di tản đi nơi khác. Ông hay khoe về làng của mình, kể với mọi người với tất cả mọi thứ với niềm tự hào to lớn. Tin đồn làng của ông bán nước theo giặc đã khiến ông thất vọng và tủi nhục. Từ xấu hổ với những người xung quanh ông đi đến quyết định làng theo giặc thì cũng là kẻ thù, ông khẳng định tinh thần yêu nước vượt lên những tình cảm cá nhân. Khi tin làng cải chính ông rất vui mừng, khoe với mọi người về ngôi nhà và cả việc làng bị Tây đốt sạch.

Làng chợ Dầu cũng như bao ngôi làng khác trên đất nước, khi thực dân Pháp đánh chiếm những người con nơi này phải di tản đến nơi khác. Ông Hai cũng là người làng Chợ Dầu phải di tản đến nơi khác, ông rất yêu làng và tự hào về điều đó. Ông kể với mọi người về con người nơi đây và tinh thần đánh Tây của họ. Trong những người chạy giặc, ông nghe tin làng chợ Dầu phản động, làm Việt gian ông rất xấu hổ và tủi nhục. Cảm giác thất vọng và đau đớn. Ông căm thù những kẻ đã vấy bẩn lên truyền thống cách mạng của ngôi làng mình. Khi tin làng chợ Dầu theo giặc đã được cải chính ông rất vui mừng và kể với tất cả mọi người với niềm tự hào nhân lên gấp bội.

Ông Hai theo lệnh của chính phủ cùng người dân trong làng Chợ Dầu di tản đến nơi khác. Thời gian này giai đoạn kháng chiến của quân ta và thực dân Pháp đang diễn ra ác liệt. Ông Hai là con người yêu làng, yêu quê. Dù xa quê nhưng lúc nào cũng nghe ngóng thông tin và luôn tự hào về ngôi làng của mình. Ở một nơi xa nhưng ông bất ngờ nhận tin sét đánh, làng Chợ Dầu theo giặc, làm phản cách mạng. Ông xấu hổ, thất vọng và cả sự nhục nhã. Ông quanh quẩn ở nhà mà chẳng dám đi đâu, ngay cả chủ nhà trọ cũng muốn đuổi ông vì sống tại làng Việt gian bán nước. Ông luôn có sự đấu tranh lớn giữa tình yêu làng và cách mạng. Ông quyết định làng theo giặc phải thù làng chứ nhất định không phản cụ Hồ và cách mạng. Trong một lần nghe ngóng, ông nghe tin cải chính, làng Chợ Dầu không theo Tây, lòng ông vui trở lại, ngôi làng vẫn trung thành với cách mạng. Ông kể về ngôi làng bị Tây đốt sạch, không còn gì cả như một cách chứng minh làng vẫn theo cách mạng.

Làng là câu chuyện về nhân vật ông Hai và ngôi làng của mình trong thời gian đầu của cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp. Ông Hai sinh ra và lớn lên lại làng Chợ Dầu vì cách mạng ông phải di tản đến nơi khác. Tuy ở xa nhưng ông vẫn theo dõi tình hình làng và rất đỗi tự hào vì ngôi làng theo cách mạng kháng chiến. Một hôm ông nghe tin từ người đàn bà tản cư nói về làng chợ Dầu theo Tây, ông tái mặt, không thở nổi và chỉ biết cúi gằm mặt mà đi về. Ông xấu hổ chỉ biết nằm ở nhà, không dám đi đâu. Khi mụ chủ nhà có ý định đuổi ông đi, ông Hai mới thực sự xác định tư tưởng giữa cá nhân và việc nước, nhất định phải thù làng vì phản cách mạng. Sau này khi chủ tịch xã lên thông báo làng không theo Tây. Lòng ông vui phơi phới và đi khoe với mọi người về làng bị Tây đốt phá sạch.

 Ông Hai rất yêu làng chợ Dầu. Ở vùng tản cư, suốt ngày ông kể về làng, khoe về làng. Khi nhận được tin làng chợ Dầu theo Tây, ông rất đau khổ nằm lì trong nhà ba bốn ngày liền. Ông Hai nghe được tin cải chính: Làng chợ Dầu không phải là làng Việt gian, không theo Tây. Ông sung sướng đi khoe với mọi người. Mặc dù nhà bị đốt, nhưng ông Hai lại rất vui mừng vì làng ông vẫn là làng kháng chiến. Tác phẩm thể hiện chân thực, sâu sắc và cảm động tình yêu làng quê và lòng yêu nước, tinh thần kháng chiến của người nông dân phải rời làng đi tản cư.

Ông Hai là một người nông dân sống ở làng Chợ Dầu, do chiến tranh nên ông phải đi tản cư. Ở nơi tản cư, ông luôn tự hào về cái làng của mình và mang nó khoe với mọi người. Khi tin làng Chợ Dầu theo giặc, ông sững sờ, cổ ông nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân, xấu hổ tới mức cứ cúi gằm mặt xuống mà đi. Suốt mấy ngày ở nhà, ông chẳng dám đi đâu, mang nỗi ám ảnh nặng nề, đau đớn, tủi hổ, bế tắc, tuyệt vọng. Tâm trạng ông bế tắc khi mụ chủ nhà nói sẽ đuổi hết người làng Chợ Dầu khỏi nơi sơ tán. Rồi cái tin cải chính khiến ông sung sướng đi khoe về làng mình với tâm trạng như lúc ban đầu, ông hạnh phúc khi khoe Tây nó đốt nhà mình.

Câu chuyện kể về ông Hai Thu, người làng Chợ Dầu. Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, theo lời kêu gọi của cụ Hồ Chí Minh, toàn dân tham gia kháng chiến, kể cả hình thức tản cư. Do hoàn cảnh neo đơn, ông Hai đã cùng vợ con lên tản cư ở Bắc Ninh dù rất muốn ở lại làng chiến đấu. Ở nơi tản cư, tối nào ông cũng sang nhà bác Thứ bên cạnh để khoe về làng mình rằng làng ông có nhà cửa san sát, đường thôn ngõ xóm sạch sẽ. Ông khoe cái phòng thông tin, cái chòi phát thanh và phong trào kháng chiến của làng, khi kể về làng ông say mê, háo hức lạ thường.

Ở đây, ngày nào ông cũng ra phòng thông tin để nghe tin tức kháng chiến, ông mùng trước những chiến thắng của quân dân ta. Nhưng rồi một hôm, ở quán nước nọ, ông nghe được câu chuyện của một bà dưới xuôi lên tản cư nói rằng làng Dầu của ông theo giặc. Ông vô cùng đau khổ, xấu hổ, cúi gầm mặt đi thẳng về nhà, suốt ngày chẳng dám đi đâu, chẳng dám nói chuyện với ai, chỉ nơm nớp lo mụ chủ nhà đuổi đi.

Qua nhân vật ông Hai, tác phẩm thể hiện tình yêu làng, yêu nước sâu đậm đi từ tự phát đến tự giác của người nông dân Việt Nam những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Truyện còn cho thấy tấm lòng trân trọng, nâng niu của nhà văn đối với những con người hiền lành, nhỏ bé nhưng ẩn chứa trong mình những tình cảm cao quý, lớn lao.

Tác phẩm Làng kể về một người nông dân yêu nước mọi người thường gọi là ông Hai yêu làng.

Ông yêu quê hương mình, yêu làng Dầu của mình vô cùng, dù hoàn cảnh chiến tranh buộc ông và gia đình phải tản cư đi nơi khác nhưng ông luôn nhớ về làng của mình. Đi bất cứ đâu, ông đều kể về làng của mình, ông khoe làng Dầu, kể cho mọi người nghe những câu chuyện về làng Dầu mà cũng chẳng cần ai nghe, ông kể chỉ để cho sướng miệng, cho vơi nỗi nhớ. Trước khi cách mạng ông thường hay khoe đến ông viên tổng đốc của làng, nhưng khi có cách mạng, ông không còn nhắc đến nữa vì nó làm khổ ông và khổ bao nhiêu người khác nữa. Ông chỉ khoe làng chợ Dầu của mình mà thôi. Nhưng đau đớn thay, cái tin bất ngờ, làng chợ Dầu theo Tây như khiến ông ngã quỵ, đau đớn tột độ, ông không dám đi đâu suốt mấy ngày liền, cảm thấy xấu hổ, sợ sệt và cảm thấy ghét làng. Trước đây, ông chỉ muốn được trở về với làng, nhưng nay ông thù làng theo Tây, yêu nhiều là thế giờ ông cảm thấy bế tắc. Ông không dám trò chuyện cùng ai, giờ chỉ ngồi giãi bày tâm sự cùng thằng con trai của mình. Và khi nghe thấy, tin làng bị giặc đốt, làng bị cháy, và tin đồn trước kia là thất thiệt nay được cải chính thì ông lại đi khoe làng. Nỗi đau bấy lâu giờ như biến mất hoàn toàn. Ông chạy đi khắp nơi, vừa đi vừa khoe làng, vừa múa tay thể hiện niềm vui sướng quá lớn đã đến với ông. Ông khoe làng mình, nhà mình bị đốt,… mà không thấy xót xa chỉ thấy tình yêu làng, yêu nước đang mãnh liệt trong ông khiến ai cũng cảm nhận được.

Truyện ngắn “Làng” được Kim Lân viết vào năm 1948, ở giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Đây là thời kỳ chính phủ đang kêu gọi nhân dân “hãy tản cư”, những người dân đang nằm ở vùng tam chiến đi lên vùng chiến khu để cùng kháng chiến lâu dài.

Truyện đề cao tình cảm cao đẹp về làng quê Việt Nam, lòng yêu nước, và qua nhân vật ông Hai truyện đã thể hiện một cách chân thực, sâu sắc, cảm động về tinh thần kháng chiến của người nông dân phải dời làng đi tản cư.

Truyện “Làng” xoay quanh câu chuyện về ông Hai – một lão nông rất cần cù chất phát, ông rất yêu làng của ông. Vì cuộc kháng chiến chống Pháp, ông Hai phải rời làng tản cư đến sinh sống vùng khác, xa làng ông rất nhớ và yêu làng, luôn theo dõi các tin tức về làng mình. Ông Hai đi đâu cũng khoe về làng Chợ Dầu giàu đẹp luôn sẵn sàng kháng chiến của mình.

Ở nơi tản cư, tin chiến thắng của quân ta đang rầm rộ khiến ai cũng vui vẻ nhưng bổng ông Hai nghe được một tin dữ là dân làng Chợ Dầu trở thành Việt gian theo Tây. Ông vô cùng xấu hổ, cảm thấy cụt hứng, và nhục nhã. Ông suốt ngày quanh quẩn ở nhà, chẳng dám đi đâu, lúc nào cũng buồn chán, mụ chủ nhà khiến ông bế tắc, lo sợ hơn khi mụn muốn đuổi gia đình ông đi không cho ông ở nhờ nhà nữa vì ông là người ở làng Việt gian. Hằng ngày, ông chỉ biết trút bầu tâm sự của mình với đứa con trai nhỏ, đó thật ra chính là ông tự nói với lòng mình: “phải theo kháng chiến, theo cụ Hồ chứ không theo bọn giặc hại nước, còn làng theo giặc thì phải thù làng”.

Truyện ngắn Làng xoay quanh câu chuyện về lòng yêu làng, lòng yêu nước của ông Hai – một lão nông rất cần cù, chất phác.

Khi ở nơi tản cư, ông hay nghĩ về làng, ông thấy “nhớ cái làng quá”. Ông nhớ những ngày cùng làm việc với anh em, cùng đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá. Ông phấn chấn, háo hức khi nghe được những tin hay về kháng chiến.

Khi nghe tin làng chợ Dầu theo Tây, ông sững sờ, “cổ ông lão nghẹn ắng lại”, “ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được”. Trên đường về nhà, ông thấy xấu hổ, nhục nhã nên “cúi gằm mặt xuống mà đi”. Về đến nhà, ông chưa tin nhưng rồi cay đắng nhận ra “ai người ta hơi đâu bịa tạc” rồi “nước mắt ông lão giàn ra”. Ông thấy khổ tâm, nghĩ đến sự khinh bỉ của mọi người dành cho con ông. Ông căm giận dân làng và lo sợ không biết tương lai sinh sống thế nào. Ông cáu gắt với vợ, trằn trọc không ngủ được.

Suốt mấy ngày sau, ông Hai tủi hổ, không dám ra khỏi nhà. Ông u ám, tuyệt vọng, bế tắc và quyết định “làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Ông tìm đến nói chuyện với con trai ông để khẳng định tình yêu làng, lòng chung thủy và niềm tin của ông với cách mạng, cụ Hồ.

Khi nghe tin làng Dầu được cải chính, ông Hai vô cùng sung sướng, ông vui mừng đi chia quà cho lũ trẻ và hả hê khoe với mọi người nhà ông bị Tây đốt.

Làng Dầu là quê hương bản quán của ông Hai. Là một nông dân nghèo khổ, dưới thời Pháp thuộc, ông Hai đã từng bị bọn hương lí trong làng truất ngồi trừ ngoại, phải xiêu dạt lang thang kiếm sống, lần mò vào đến tận đất Sài Gòn, Chợ Lớn, mười mấy năm trước mới lần hồi trở về quê quán.

Ông Hai hay làm, không mấy lúc chịu ngơi tay, không đi cày, đi cuốc, gánh phân tát nước thì ông đan rổ rá hay chữa lại cái chuồng gà, cạp lại tấm liếp.

Ông Hai lại có tính hay khoe cái làng Dầu của ông. Nào là nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh. Nào là đường trong làng toàn lát đá xanh… Nào là làng ông có cái sinh phần của viên tổng đốc, cái dinh cơ ấy “lắm lắm là của; vườn hoa, cây cảnh nom như động ấy”.

Nhưng từ ngày khởi nghĩa, ông Hai không bao giờ đả động đến cái làng ấy nữa, ông thù nó. Xây cái lăng ấy, cả làng phải phục dịch, còn ông thì bị một chồng gạch đổ làm bại một bên hông, đến nay cái chân vẫn còn đi khấp khểnh. Bây giờ khoe làng, ông Hai lại khoe khác. Khoe những ngày khởi nghĩa dồn dập, những buổi tập quân sự có các cụ phụ lão râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập một hai. Khoe làng Dầu có nhiều hố, ụ, những giao thông hào. Những công trình ở xóm Khu, ở ngõ Mái… không để đâu hết. Ông khoe cái làng Dầu có phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa, rộng rãi nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre.

Kháng chiến bùng nổ, bà con làng Dầu đi tản cư. Nhưng ông Hai vẫn ở lại làng cùng anh em đào đường, đắp ụ… Trong lúc hữu sự, ông không nỡ bỏ làng ra đi. Nhưng rồi gia cảnh gieo neo, ba đứa con dại, một mình bà Hai xoay xỏa nơi tản cư, vốn liếng lại không có, ông Hai bất đắc đĩ phải nghe theo lời khẩn khoản của vợ để ra đi. Ông buồn khổ lắm, chỉ biết tự an ủi: “Thôi thì chẳng ở lại làng cùng anh em được, thì tản cư âu cũng là kháng chiến”.

Đến nơi tản cư, ông Hai buồn khổ, bực bội vô cùng. Ông trở nên ít nói, ít cười, hay cáu gắt; ông sợ mụ chủ nhà, một người đàn bà lành chanh lành chói, đã lấy đến ba đời chồng, rất tham lam, tinh quái. Ông Hai nhớ làng, ông chỉ còn biết khoe làng với bác Thứ; ông chỉ còn có niềm vui đi đến phòng thông tin nghe đọc báo. Ông giả vờ đứng xem tranh ảnh chờ người khác đọc rồi nghe lỏm. Tin chiến sự đánh Tây, giết Tây làm cho “ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá!”

Nhưng rồi cái tin dữ “cả cái làng Dầu Việt gian theo Tây” từ miệng những người đàn bà tản cư nói ra làm cho ông Hai “nghẹn đắng lại, da mặt tê rân rân, Việt gian từ thằng chủ tịch…. cả làng vác cờ thần ra hoan hô giặc,… thằng chánh Bệu khuân cả tủ chè, đỉnh đồng, đưa vợ con lên vị trí với giặc ở ngoài tỉnh… Ông Hai cay đắng nguyền rủa cái giống Việt gian bán nước. Có lúc ông lại băn khoăn, ngờ ngợ: chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn đến thế… họ toàn là những người có tinh thần cả mà. Nhưng thằng chánh Bệu thì đích là người làng không sai rồi.

Cái tin dữ được cải chính. Ông Hai đi từ chiều mãi đến sẩm tối mới về, ông tươi vui, rạng rỡ hẳn lên, mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ, hấp háy. Ông mua bánh rán đường cho các con. Gặp ai ông cũng nói về cái tin làng Dầu Việt gian theo Tây “toàn là sai sự mục đích cả!”. Tối hôm ấy, ông lại sang bên gian nhà bác Thứ, ngồi trên chiếc chõng tre, vén quần lên tận bẹn mà nói chuyện về cái làng Dầu, chuyện Tây khủng bố, chuyện dân quân, tự vệ làng ông bố trí, cầm cự ra sao, chuyên nhà ông bị Tây đốt…. rành rọt, tỉ mỉ như chính ông vừa dự trận đánh giặc ấy xong thật.

Advertisement

Trong kháng chiến, Ông Hai – người làng chợ Dầu, buộc phải rời làng. Sống ở nơi tản cư, lòng ông luôn day dứt nhớ về quê hương. Ngày nào ông cũng ra phòng thông tin vờ xem tranh ảnh chờ người khác đọc tin rồi nghe lỏm chẳng sót một câu nào về tin tức của làng. Bao nhiêu là tin hay về những chiến thắng của làng … ruột gan ông lão cứ múa cả lên, trong đầu bao nhiêu ý nghĩ vui thích.

Tại quán nước đó, ông Hai nghe tin làng Dầu làm việt gian theo giặc, ông rất khổ tâm và xấu hổ. Về nhà ông nằm vật ra giường nhìn lũ con, nước mắt cứ trào ra. Lòng ông đau xót và nhục nhã khôn cùng. Ông không dám đi đâu, chỉ ru rú ở nhà. Nghe bất cứ ai nói chuyện gì, ông cũng nơm nớp lo sợ, sợ rằng người ta nói chuyện ấy… Bà chủ nhà đã đuổi khéo vợ chồng con cái nhà ông. Ông Hai lâm vào hoàn cảnh bế tắc: không thể bỏ về làng vì về làng là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ, cũng không thể đi đâu khác vì không đâu người ta chứa người làng chợ Dầu. Ông cảm thấy nhục nhã xấu hổ, chỉ biết tâm sự với đứa con về nỗi oan ức của mình. Chỉ khi tin này được cải chính, ông mới vui vẻ và phấn chấn, ông cứ múa cả hai tay lên mà đi khoe với mọi người: Nhà ông bị giặc đốt, làng ông bị giặc phá. Và ông lại tiếp tục sang nhà bác Thứ để khoe về cái làng của mình.

Truyện ngắn Làng của Kim Lân viết năm 1948, trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Truyện kể về ông Hai rất yêu làng, yêu nước. Ông Hai phải đi tản cư nên ông rất nhớ làng và yêu làng, ông thường tự hào và khoe về làng Chợ Dầu giàu đẹp của mình, nhất là tinh thần kháng chiến và chính ông là một công dân tích cực.

Ở nơi tản cư, đang vui với tin chiến thắng của ta, bất chợt ông Hai nghe tin dữ về làng Chợ Dầu Việt gian theo Tây. Ông cụt hứng, đau khổ, xấu hổ. Ông buồn chán và lo sợ suốt mấy ngày chẳng dám đi đâu, càng bế tắc hơn khi mụ chủ nhà đánh tiếng đuổi gia đình ông đi không cho ở nhờ vì là người của làng Việt gian. Ông chỉ biết trút bầu tâm sự cùng đứa con trai bé nhỏ như nói với chính lòng mình: theo kháng chiến, theo Cụ Hồ chứ không theo giặc, còn làng theo giặc thì phải thù làng.

Nhưng đột ngột, nghe được tin cải chính làng Dầu không theo Tây, lòng ông phơi phới trở lại. Ông khoe với mọi người nhà ông bị Tây đốt sạch, làng Dầu bị đốt sạch, đốt nhẵn. Ông lại khoe và tự hào về làng Dầu kháng chiến như chính ông vừa tham gia trận đánh vậy.

Làng Chợ Dầu là quê hương bản quán của ông Hai. Là một nông dân nghèo khổ, dưới thời Pháp thuộc, ông Hai đã từng bị bọn hương lí trong làng truất ngôi trừ ngoại, phải xiêu dạt lang thang kiếm sống, lần mò vào đến tận đất Sài Gòn, Chợ Lớn, mười mấy năm trước mới lần hồi trở về quê quán.

Ông Hai hay làm, không mấy lúc chịu ngơi tay, không đi cày đi cuốc, gánh phân tát nước thì ông đan rổ rá hay chữa lại cái chuồng gà, cạp lại tấm liếp.

Ông Hai lại có tính hay khoe cái làng Dầu của ông. Nào là nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh.

Nào là đường trong làng toàn lát đá xanh… Nào là làng

Ông có cái sinh phần của viên tổng đốc, cái dinh cơ ấy “lăm lắm là của, vườn hoa, cây cảnh nom như động ấy”.

Nhưng từ ngày khởi nghĩa, ông Hai không bao giờ đả động đến cái làng ấy nữa, ông thù nó. Xây cái lăng ấy, cả làng phải phục dịch, còn ông thì bị một chồng gạch đổ vào bại một bên hông, đến nay cái chân vẫn còn đi khấp khểnh. Bây giờ khoe làng, ông Hai lại khoe khác. Khoe những ngày khởi nghĩa dồn dập, những buổi tập quân sự có các cụ phụ lão râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi lập một hai. Khoe làng Chợ Dầu có nhiều hố, ụ, những giao thông hào. Những công trình ở xóm Ba Khu, ở Ngõ Mái… không để đâu hết. Ông khoe cái làng Chợ Dầu có phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa, rộng rãi nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre.

Kháng chiến bùng nổ, bà con làng Chợ Dầu đi tản cư. Nhưng ông Hai vẫn ở lại làng cùng anh em đào đường, đắp ụ… Trong lúc hữu sự, ông không nỡ bỏ làng ra đi. Nhưng rồi gia cảnh gieo neo, ba đứa con dại, một mình hà Hai xoay xỏa nơi tản cư, vốn liếng lại không có, ông Hai bất đắc dĩ phải nghe theo lời khẩn khoản của vợ để ra đi. Ông buồn khổ lắm, chỉ biết tự an ủi: “Thôi thì chẳng ở lại làng cùng anh em được, thì tản cư âu cũng là kháng chiến”.

Cái dữ được cải chính. Ông Hai đi từ chiều mãi đến sẩm tôi mới về. Ông tươi vui, rạng rỡ hẳn lên, mồm hỏm bỏm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ hấp háy. Ông mua bánh rán đường cho các con. Gặp ai ông cũng nói về cái tin làng Chợ Dầu Việt gian theo Tây toàn là sai mục đích cả Tối hôm ấy, ông lại sang bên gian bác Thứ, ngồi trên chiếc chõng tre, vén quần lên tận bẹn mà nói chuyện về cái làng Chợ Dầu, chuyện Tây khủng bố, chuyện dân quân, tự vệ làng ông bố trí, cầm cự ra sao, chuyện nhà ông bị Tây đốt,… rành rọt, tỉ mỉ như chính ông vừa dự trận đánh giặc ấy xong thật.

Văn Mẫu Lớp 8: Tóm Tắt Truyện Cô Bé Bán Diêm (21 Mẫu) Tóm Tắt Cô Bé Bán Diêm Của An

Tóm tắt Cô bé bán diêm tuyển chọn 21 mẫu hay, đặc sắc nhất, giúp các em học sinh lớp 8 dễ dàng hơn trong việc ghi nhớ diễn biến cốt truyện, hỗ trợ trực tiếp cho việc đọc hiểu và hoàn thành bài văn phân tích, cảm nhận.

Bên cạnh đó, giúp các em nắm vững toàn bộ nội dung chính của câu chuyện. Hình ảnh cô bé bán diêm nghèo khổ, đáng thương đã khiến biết bao người không cầm nổi nước mắt. Vậy mời các em cùng tải miễn phí 21 mẫu tóm tắt Cô bé bán diêm để tích lũy vốn từ, ngày càng học tốt môn Văn 8.

Tóm tắt truyện Cô bé bán diêm siêu ngắn (10 mẫu)

Tóm tắt truyện Cô bé bán diêm ngắn gọn (8 mẫu)

Tóm tắt truyện Cô bé bán diêm đầy đủ (2 mẫu)

Tóm tắt truyện Cô bé bán diêm bằng tiếng Anh

Trong đêm giá rét tuyết phủ đầy trời, có một em bé bán diêm đầu trần, chân đất đi giữa màn đêm, mong bán được diêm. Nhưng không ai đoái hoài đến cô bé tội nghiệp. Em liền tìm một góc khuất, có hai bức tường để ngồi nghỉ. Vì quá giá lạnh, em đã đốt các que diêm và ảo ảnh dần hiện ra trước mắt em: Lò sưởi, bàn ăn, cây thông Noel và cả bà em. Thấy bà em đã đốt cả bao diêm và đi với bà lên với thượng đế.

Truyện kể về một cô bé mồ côi mẹ, sống với một ông bố khắc nghiệt và phải đi bán diêm để kiếm sống. Vào ngày cuối năm, đã nửa đêm em vẫn không bán được que diêm nào và không dám về nhà. Vì quá lạnh nên em đã đốt những que diêm của mình lên để sưởi ấm, mỗi một que đốt lên là một ước mơ của em hiện ra và khi que cuối cùng cháy hết là lúc em lìa đời. Ngày đầu năm, mọi người tìm thấy một cô bé đã lạnh cóng với nụ cười nở trên môi.

Trong đêm Noel giá rét tuyết phủ đầy trời, có một em bé bán diêm đầu trần, chân đất đi giữa màn đêm, mong bán được diêm. Nhưng không ai đoái hoài đến cô bé tội nghiệp. Em liền tìm một góc khuất, có hai bức tường để ngồi nghỉ. Vì quá giá lạnh, em đã đốt các que diêm và ảo ảnh dần hiện ra trước mắt em: Lò sưởi, bàn ăn, cây thông Noel và cả bà em. Thấy bà em đã đốt cả bao diêm và đi với bà lên với thượng đế.

Truyện xoay quanh hình ảnh Cô bé bán diêm với những bất hạnh, thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần. Từ nhỏ, cô đã không được sống trọn vẹn trong mái ấm, tình thương yêu của gia đình. Mẹ mất sớm, chẳng lâu sau đó người bà cũng qua đời, gia sản tiêu tan, người cha suốt ngày rượu chè đánh đập hành hạ cô bé, bắt cô đi bán diêm để kiếm sống qua ngày. Ngày lễ giáng sinh ai ai cũng được ấm êm trong ánh đèn riêng cô bé thì một mình lủi thủi, đơn độc trong đêm đông lạnh giá và chết đi trước sự lạnh nhạt, thờ ơ của người đời.

Truyện kể về một cô bé bán diêm trong đêm giao thừa. Cô bé có một hoàn cảnh khó khăn mẹ và bà đều đã mất em phải sống với một người bố độc ác trong một căn nhà tồi tàn. Vào đêm giao thừa em đi bán diêm với một bộ quần áo mỏng manh rách rưới và cái bụng không có gì ăn. Nhưng em không dám về nhà vì sợ rằng về nhà bố sẽ đánh khi chưa bán được bao diêm nào cả. Em rét quá không thể tiếp tục đi được nữa nên đã ngồi vào một xó nhỏ giữa hai bức tường. Em quẹt diêm để sưởi ấm. Và khi những que diêm được quẹt lên bao mộng tưởng trong đầu em xuất hiện. Đến khi em quẹt que diêm thứ tư thì người bà hiền từ hiện lên. Em cầu khẩn bà hãy cho em được đi cùng bà. Cuối cùng thì hai bà cháu đã cùng cầm tay nhau bay lên thiên đường nơi mẹ đang ở đó chờ.

Trong đêm giao thừa trời rét mướt, lạnh giá có một cô bé bán diêm mồ côi mẹ đầu trần, bụng đói đang cố bán những bao diêm vì cả ngày chưa bán được bao diêm nào. Em không dám về nhà sợ bố đánh, ngồi nép vào góc tường em rút những que diêm trong bao ra để sưởi ấm. Quẹt que diêm thứ nhất, lò sưởi hiện ra; quẹt que diêm thứ hai, em thấy bàn ăn thịnh soạn; quẹt que diêm thứ ba em thấy cây thông Noel; quẹt que diêm thứ tư, em gặp bà em. Em đã quẹt hết diêm để được nhìn thấy bà. Cuối cùng em chết trong giá rét nhưng giấc mơ về bà thì vẫn luôn đẹp.

Cô bé bán diêm có hoàn cảnh rất nghèo khó. Mẹ mất, bà đã qua đời, sống chui rúc ở một xó tối tăm, em luôn phải lắng nghe những tiếng chửi rủa của bố. Vào đêm giao thừa, trời rét mướt, tuyết phủ trắng xóa, em một mình đi bán diêm giữa đường phố vắng, em ngồi nép trong một góc tường, em có quẹt que diêm để sưởi ấm. Cô bé đã ngồi và quẹt các que diêm lên và trước mắt cô lần lượt hiện lên cái lò sưởi, bàn ăn với một con ngỗng quay, cây thông Nô-en rồi em nhìn thấy bà em, hai bà cháu bay vút lên cao về chầu thượng đế. Mỗi lần que diêm tắt, thực tế lại hiện ra trước mắt, lần lượt em nghĩ đến cha sẽ mắng vì không bán được diêm, phố xá vắng teo lạnh buốt tuyết rơi, gió bấc vi vu và những người khách qua đường vội vàng thờ ơ trước sự đáng thương của cô bé. Sáng hôm sau, cô bé đã chết trong đêm giao thừa.

Cô bé bán diêm có một cuộc sống nghèo khổ, đáng thương. Em phải đi bán diêm đưa tiền về cho cha vào đêm Giáng sinh giá rét. Vì để sưởi ấm, em đánh liều quẹt một que diêm và tưởng tượng ra chiếc lò sưởi ấm áp. Quẹt que diêm thứ hai, em thấy một bàn ăn linh đình. Quẹt que diêm thứ ba, đó là một cây thông Nô-en. Tới que diêm thứ tư, em thấy bà hiện ra mỉm cười. Em đã quẹ hết tất cả những que diêm khác để giữ bà ở lại. Cuối cùng bà đưa em đi lên Thiên đàng. Cô bé đáng thương ấy đã chết trong đêm giá lạnh cuối năm.

Trong đêm giao thừa gió tuyết đầy phố có một cô bé bán diêm nhà nghèo, mồ côi mẹ, đầu trần, chân đất, bụng đói đang dò dẫm trong bóng tối. Suốt cả ngày em không bán được bao diêm nào. Em không dám về nhà vì sợ bố mắng. Vừa lạnh vừa đói, cô bé ngồi nép vào một góc tường rồi quẹt một que diêm để sưởi ấm. Em quẹt que diêm thứ nhất, lò sưởi hiện ra. Em quẹt que diêm thứ hai, một bàn ăn thịnh soạn hiện lên. Rồi em quẹt que diêm thứ ba, cây thông Nô-en xuất hiện. Quẹt que diêm thứ tư, em gặp bà nội. Sáng hôm sau, cô bé bán diêm đã chết trong giá rét.

Trong đêm giao thừa, trời rét mướt, có một cô bé đầu trần, chân đi đất, bụng đói đang rầu rĩ đi bán diêm trong bóng tối. Cô bé bán diêm ấy đã mồ côi mẹ và cũng đã mất đi người thương yêu em nhất là bà nội. Em không dám về nhà vì sợ bố sẽ đánh em. Vừa lạnh vừa đói, cô bé ngồi nép vào một góc tường rồi khẽ quẹt một que diêm để sưởi ấm. Que diêm thứ nhất cho em có cảm giác ấm áp như ngồi bên lò sưởi. Em vội quẹt que diêm thứ hai, em được thấy một bàn ăn thịnh soạn hiện lên. Rồi em quẹt que diêm thứ ba và được thấy cây thông Nô-en. Quẹt que diêm thứ tư: Bà nội hiền từ của em hiện lên đẹp đẽ, gần gũi và phúc hậu biết mấy. Những ảo ảnh đó nhanh chóng tan đi sau sự vụt tắt của que diêm. Em vội vàng quẹt hết cả bao diêm để mong níu bà nội lại. Cô bé bán diêm đã chết trong giá rét khi mơ cùng bà bay lên cao mãi.

Truyện kể về cô bé bán diêm nhà nghèo, mồ côi mẹ, sống qua ngày nhờ công việc bán diêm. Trong đêm giao thừa rét buốt, em đầu trần chân đất lang thang trên phố chưa về. Vì em chưa bán được bao diêm nào, về sợ bố mắng. Vừa lạnh vừa đói, cô bé ngồi nép vào một góc tường rồi khẽ quẹt một que diêm để sưởi ấm. Khi em quẹt que diêm thứ nhất, hiện ra trước mắt em một cái lò sưởi ấm áp. Que diêm thứ hai là một bàn ăn thịnh soạn. Rồi em quẹt que diêm thứ ba, cây thông Nô-en xuất hiện. Quẹt que diêm thứ tư, em gặp người bà nội mà em hết mực yêu quý. Trong em ngập tràn niềm hạnh phúc. Nhưng ảo ảnh đó nhanh chóng tan đi sau sự vụt tắt của que diêm. Em vội vàng quẹt hết cả bao diêm để mong níu bà nội lại. Rồi em thiếp đi. Sáng hôm sau, người ta thấy xác của em ở trên đường phố giá rét.

Cô bé bán diêm sống gia đình rất nghèo khổ, khó khăn mồ côi mẹ, bà mất sớm, tài sản tiêu tán nên cô phải bán diêm cho người bố rất tàn nhẫn hay đánh cô. Vào một ngày cuối năm, cô không bán được que diêm nào. Cô không dám về nhà vì sợ cha đánh. Đêm giao thừa trời giá rét, cô ngồi nép vào góc tường giữa hai ngôi nhà. Đêm càng lạnh giá, cô quẹt que diêm để sưởi ấm. Mỗi lần quẹt que diêm cháy sáng là một mộng tưởng đến với cô. Lần thứ nhất, cô thấy lò sưởi; lần thứ hai cô thấy bàn ăn và con ngỗng quay; lần thứ ba cô thấy cây thông Nô-en cùng những ngọn nến; lần thứ tư cô thấy bà hiện về, lần thứ năm cô thấy mình cùng bà bay lên trời. Buổi sáng đầu năm, người ta thấy một em bé ngồi giữa những bao diêm trong đó có một bao diêm đốt hết nhẵn. Người ta bảo cô bé đã chết nhưng đôi má vẫn ửng hồng và đôi môi cô đang mỉm cười.

Truyện kể về số phận đáng thương của cô bé bán diêm đã chết trong đêm giao thừa. Trước đây, cô bé từng có một gia đình thật hạnh phúc. Thế nhưng, hạnh phúc ấy chẳng kéo dài bao lâu. Mẹ mất sớm, bà cũng bỏ em mà đi. Gia đình sa sút, em phải sống một mình với người cha nghiện ngập và tàn bạo. Nơi em ở là một căn gác xép tồi tàn, ẩm thấp và dơ bẩn. Hằng ngày em đi bán diêm để kiếm sống. Số tiền có được đều bị người cha lấy mất để uống rượu. Ngày nào không có tiền mang về, em bị cha đánh đập thậm tệ khiến em sợ lắm, nhiều lúc không dám về nhà. trông đêm giao thừa năm ấy, khi tất cả mọi người đều trở về quây quần bên gia đình đón đợi giao thừa thì em vẫn còn lag thang trên hè phố, mong ai đó mua giúp em bởi cả ngày em chưa bán được bao diêm nào. Đơn độc, em tìm một góc khuất, nép mình tránh rét. Quá lạnh, em lấy hết can đảm quẹt những que diêm để sưởi ấm. Ánh sáng chói lóa của que diêm đưa em vào những mộng tưởng tuyệt đẹp của những ngày hạnh phúc bên người bà hiền hậu, làm vơi đi cái rét, cái đói, nỗi cô đơn cùng cực. Sáng hôm sau, người ta thấy em đã chết, hai má vẫn còn ửng hồng, khuôn mặt rạng rỡ, đôi môi mỉm cười bên cạnh những hộp diêm đã đốt cháy hết.

Cô bé bán diêm vốn sống trong một gia đình hạnh phúc và ấm áp. Nhưng khi bà mất, gia sản tiêu tán, em phải đến sống trong khu ổ chuột và đi bán diêm hằng ngày để kiếm sống. Đêm giao thừa, khi mọi người ai cũng vui vẻ thì em vẫn phải đi bán. Lạnh quá, em ngồi trong một góc tường nhỏ. Để sưởi ấm, em đốt que diêm đầu tiên. Em thấy một lò sưởi ấm áp. Nhưng khi đưa tay ra sưởi thì lò sưởi chợt biến mất. Em đốt que diêm thứ hai, một bàn ăn thịnh soạn hiện ra. Nhưng khi con ngỗng quay với phuốc-sét đang tiến lại về phía em thì que diêm tắt, tất cả lại biến mất. Que diêm thứ 3, em thấy một cây thông Nô-en to lớn và lộng lẫy. Nhưng rồi một cơn gió thổi qua, cây que diêm cũng tắt. Lần thứ 4, em thấy bà em. Bà em thật đẹp. Vì không muốn mất bà, em đã quẹt hết tất cả các que diêm còn lại. Bà và em cùng bay lên trời. Sáng hôm sau, khi mọi người thấy một cô bé đáng yêu đã chết bên cạnh những que diêm, họ tự nhủ “Chắc là nó muốn sưởi cho ấm”. Nhưng đâu ai biết được những điều kì diệu mà em đã thấy vào cái đêm kì diệu ấy.

Đêm giao thừa, trời rét mướt, tuyết rơi, đường phố vắng ngắt và sực nức mùi ngỗng quay. Một em bé đầu trần, chân đất đi bán diêm. Không ai mua cho em lấy một bao hay bố thí cho em một đồng nào. Vừa đói, vừa rét nhưng em không dám về nhà vì sợ bố đánh. Em đã mồ côi mẹ và mất đi người thân yêu em nhất là bà nội. Em ngồi nép vào tường giữa hai ngôi nhà. Đêm giao thừa càng lạnh giá, em liền đánh liều quẹt một que diêm. Bỗng chiếc lò sưởi hiện ra. Diêm tắt, lò sưởi biến mất. Quẹt que diêm thứ hai, em thấy một bàn ăn thịnh soạn và một con ngỗng quay đang tiến về phía em. Diêm tắt, bàn ăn và con ngỗng biến mất. Em quẹt que diêm thứ ba, cây thông Nô-en hiện ra. Diêm tắt, cây thông Nô-en biến mất. Quẹt que diêm thứ tư: bà nội em hiện lên. Sợ diêm tắt, em vội quẹt hết diêm trong bao. Lần thứ năm, cô thấy bà nắm tay mình đi về chầu Thượng đế. Đó cũng là lúc cô thấy niềm hạnh phúc. Buổi sáng đầu năm, người ta thấy một em bé ngồi giữa những bao diêm, trong đó có một bao đã đốt hết nhẵn. Người ta bảo chắc cô bé chết vì rét nhưng đôi má vẫn ửng hồng và đôi môi đang mỉm cười. Không ai biết cái điều kì diệu mà em đã thấy trong đêm giao thừa.

Truyện kể về một cô bé nghèo khổ mồ côi mẹ, sống với một người cha hà khắc hay uống rượu và hay đánh đập con. Cô bé phải đi bán diêm đem tiền về cho cha nếu không sẽ bị đánh. Đêm cuối năm, ngoài trời lạnh cóng, cô bé đi chân đất vì một chiếc giày đã bị xe ngựa cán qua và chiếc còn lại bị một thằng bé xấu tính ném mất nhưng lại không dám về nhà vì chưa bán được que diêm nào. Cô bé ngồi nép vào một góc tường giữa hai căn nhà để mong giữ chút hơi ấm rồi đánh liều quẹt diêm để sưởi ấm. Que thứ nhất quẹt lên, lò sưởi hiện ra. Que thứ hai quẹt lên, bàn ăn và con ngỗng quay trước mắt. Que thứ ba quẹt lên, cây thông noel hiện ra. Và que diêm thứ tư mang hình ảnh của người bà hiền từ hiện về. Nhưng mọi thứ tan biến khi que diêm tắt và cô bé đã chết cóng. Ngày đầu năm đường phố hiện lên hình ảnh một thiên thần với nụ cười trên môi nằm trên tuyết trắng. Cô bé đã lên thiên đàng cùng với bà của mình.

Truyện xoay quanh hình ảnh cô bé bán diêm với những bất hạnh, thiếu thốn cả về mặt vật chất lẫn tinh thần. Từ nhỏ đã mồ côi mẹ, chẳng lâu sau người bà cũng qua đời gia sản tiêu tan, sống với một ống bố nghiện rượu suốt ngày chỉ biết đánh đập cô bé. Vào đêm giáng sinh, đã nửa đêm mà em vẫn không bán được que diêm nào, sợ bị người cha đánh đập em đã không dám về nhà. Vì quá lạnh nên em đã đem những que diêm ra để sưởi ẩm, mỗi một que diêm được đốt lên là một điều ước với bao mộng tưởng trong đầu em xuất hiện. Đến khi em quẹt que diêm thứ tư thì người bà hiền từ của em hiện lên. Em đã cầu khẩn bà cho em được đi cùng bà. Cuối cùng thì hai bà cháu đã cầm tay nhau và bay lên trời.

Trong đêm giao thừa rét mướt, một cô bé đầu trần, chân đi đất, bụng đói nhưng phải đi bán diêm. Cô bé ấy đã mồ côi mẹ và ngay cả bà nội – người yêu thương em nhất cũng đã qua đời. Em không dám về nhà vì sợ bố sẽ đánh em. Vừa lạnh vừa đói, cô bé ngồi nép vào một góc tường rồi khẽ quẹt một que diêm để sưởi ấm. Que diêm thứ nhất cho em có cảm giác ấm áp như ngồi bên lò sưởi. Em vội quẹt que diêm thứ hai, một bàn ăn thịnh soạn hiện lên. Đến quẹt que diêm thứ ba thì một cây thông Noel. Quẹt que diêm thứ tư được thắp lên, lần này là bà nội với khuôn mặt hiền từ hiện ra. Những ảo ảnh đó nhanh chóng tan đi sau sự vụt tắt của que diêm. Em vội vàng quẹt hết cả bao diêm để mong níu bà nội lại. Cuối cùng, cô bé bán diêm đã chết rét trong đêm giao thừa lạnh giá.

Cô bé bán diêm là chuyện kể về số phận của một em bé nghèo khổ, phải đi bán diêm để sống. Vào một đêm giao thừa tuyết rơi, bầu trời tối tăm, em bé phải đi chân đất trên tuyết lạnh, chân em đỏ ửng tồi tím bầm lại. Em cố tìm nơi nhiều người qua lại để bán diêm, nhưng mọi người chẳng ai đoái hoài đến em, họ vội vã về nhà để tránh cái lạnh ghê người. Vừa đói, vừa rét, nhưng không thể trở về khi không bán được bao diêm nào vì em sợ bố đánh. Mệt mỏi quá, em đành ngồi tựa vào góc tường cạnh ngôi nhà sáng rực ánh đèn có mùi ngỗng quay thơm nức!

Đói, rét, em bé nảy ra ước mơ, mộng tưởng qua mỗi lần quẹt diêm. Trong ánh sáng của que diêm, những giấc mơ của em thật đẹp, nhưng cũng thật mong manh vì một que diêm phỏng cháy được bao lâu? Cuối cùng khi tất lửa thì mọi thứ đẹp đẽ (chẳng qua là ảo ảnh) đều vụt tan biến đi ngay.

Và cuối cùng em bé đã chết dưới lớp tuyết dày khi mơ thấy bà nội cầm tay em bay vụt lên cao, cao mãi, chẳng còn đói rét đau buồn đe dọa nữa.

Tác giả như muốn đối chiếu cảnh đói rét khôn cùng của em bé bán diêm với cảnh sống sung túc, hoan hỉ của mọi nhà vào đêm giao thừa. Dường như tất cả đều quay lưng lại, thờ ơ với cuộc đời của em. Em đã thực sự bị bỏ rơi giữa cuộc đời no đủ, giàu sang. Đó là ý nghĩa nhân đạo của tác phẩm, là tấm lòng của An-đec-xen với những cuộc đời khốn cùng khổ đau.

Một đêm giao thừa. Rét dữ dội, tuyết rơi. Một cô bé đầu trần chân đi đất dò dẫm trong đêm tối. Đôi chân trần nhỏ bé, đỏ ửng lên, tím bầm lại. Chiếc tạp dề cũ kĩ đựng đầy diêm và tay cô bé còn cầm thêm một bao. Suốt một ngày dài chẳng bán được một bao nào! Chẳng ai bố thí cho em chút đỉnh. Bụng đói cật rét mà em vẫn phải lang thang trên đường. Tuyết bám đầy tóc và xếp thành từng búp trên lưng em.

Đêm giao thừa, nhà nhà sáng rực ánh đèn, sực nức mùi ngỗng quay. Năm xưa. khi bà nội hiền hậu còn sống, em cũng được đón giao thừa ở nhà. Sau đó, bà mất, gia sản tiêu tán, gia đình phải lìa xa ngôi nhà xinh xắn có dây trường xuân bao quanh…, đến chui rúc trong một xó tối tăm, Giờ đây, em luôn luôn nghe những lời mắng nhiếc chửi rủa…

Advertisement

Lang thang mãi, đêm khuya càng rét dữ. Em không thể về, nếu không bán được ít bao diêm thì sẽ bị bố đánh. Em ngồi nép vào một góc tường, giữa hai ngôi nhà xa lạ. Đôi chân rét buốt, đôi bàn tay đã cứng đờ ra. Em đánh liều quẹt một que diêm mà sưởi cho đỡ rét. Ngọn lửa xanh lam rồi sáng rực như than hồng. Nhìn ngọn lửa diêm em tưởng chừng đang ngồi trước một lò sưởi. Que diêm tàn, lửa tắt, em bần thần cả người, chợt nghĩ ra đêm nay về nhà thế nào cũng bị bố mắng.

Em quẹt que diêm thứ hai, diêm cháy sáng rực lên. Em chìm vào một cơn mộng đẹp. Một bàn ăn đã dọn, khăn trải bàn trắng tinh, bát đĩa bằng sứ quý giá và có cả một con ngỗng quay. Con ngỗng quay nhảy ra khỏi dĩa cùng dao ăn, phu ốc-sét tiến về phía em… Diêm lại tắt, mộng tan, đêm tối dày đặc và lạnh lẽo.

Em quẹt que diêm thứ ba, bỗng em thấy hiện ra cây thông Nô-en trang trí lộng lẫy, hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi. Em với tay về phía cây… nhưng diêm tắt. Nến bay lên thành những ngôi sao trên trời…

Em quẹt que diêm thứ tư, ánh sáng xanh tỏa ra xung quanh. Em nghĩ tới một ngôi sao đổi ngôi, một linh hồn bay lên trời với Thượng đế, em nghĩ tới bà nội em đã mất. Em cất tiếng gọi: “Bà ơi!”. Em reo lên. Em nhớ lại những ngày bà còn sống, bà cháu từng được sống sung sướng. Em van bà xin Thượng đế chí nhân cho em bay lên trời để được về với bà. Diêm tắt phụt, ảo ảnh sáng rực trên khuôn mặt em cũng biến mất. Em quẹt tất cả mọi que diêm còn lại. Diêm nối nhau chiếu sáng. Em nhìn thấy gương mặt bà to lớn, đẹp lão. Bà cầm tay cháu rồi hai bà cháu cùng bay lên cao, cao mãi về chầu Thượng đế.

Sáng hôm sau, mồng một Tết, tuyết vẫn phủ mặt đất, mặt trời chói chang trời xanh. Mọi người vui vẻ ra khỏi nhà. Họ đã nhìn thấy một em gái có đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười nằm chết ở một xó đường vì giá rét đêm giao thừa. Em bé ngồi giữa những bao diêm, trong đó có một bao đã đốt hết nhẵn.

It was so terribly cold. Snow was falling, and it was almost dark. Evening came on, the last evening of the year. In the cold and gloom a poor little girl, bareheaded and barefoot, was walking through the streets. Of course when she had left her house she’d had slippers on, but what good had they been? They were very big slippers, way too big for her, for they belonged to her mother. The little girl had lost them running across the road, where two carriages had rattled by terribly fast. One slipper she’d not been able to find again, and a boy had run off with the other, saying he could use it very well as a cradle some day when he had children of his own. And so the little girl walked on her naked feet, which were quite red and blue with the cold. In an old apron she carried several packages of matches, and she held a box of them in her hand. No one had bought any from her all day long, and no one had given her a cent.

Shivering with cold and hunger, she crept along, a picture of misery, poor little girl! The snowflakes fell on her long fair hair, which hung in pretty curls over her neck. In all the windows lights were shining, and there was a wonderful smell of roast goose, for it was New Year’s eve. Yes, she thought of that!

In a corner formed by two houses, one of which projected farther out into the street than the other, she sat down and drew up her little feet under her. She was getting colder and colder, but did not dare to go home, for she had sold no matches, nor earned a single cent, and her father would surely beat her. Besides, it was cold at home, for they had nothing over them but a roof through which the wind whistled even though the biggest cracks had been stuffed with straw and rags.

Her hands were almost dead with cold. Oh, how much one little match might warm her! If she could only take one from the box and rub it against the wall and warm her hands. She drew one out. R-r-ratch! How it sputtered and burned! It made a warm, bright flame, like a little candle, as she held her hands over it; but it gave a strange light! It really seemed to the little girl as if she were sitting before a great iron stove with shining brass knobs and a brass cover. How wonderfully the fire burned! How comfortable it was! The youngster stretched out her feet to warm them too; then the little flame went out, the stove vanished, and she had only the remains of the burnt match in her hand.

She struck another match against the wall. It burned brightly, and when the light fell upon the wall it became transparent like a thin veil, and she could see through it into a room. On the table a snow-white cloth was spread, and on it stood a shining dinner service. The roast goose steamed gloriously, stuffed with apples and prunes. And what was still better, the goose jumped down from the dish and waddled along the floor with a knife and fork in its breast, right over to the little girl. Then the match went out, and she could see only the thick, cold wall. She lighted another match. Then she was sitting under the most beautiful Christmas tree. It was much larger and much more beautiful than the one she had seen last Christmas through the glass door at the rich merchant’s home. Thousands of candles burned on the green branches, and colored pictures like those in the printshops looked down at her. The little girl reached both her hands toward them. Then the match went out. But the Christmas lights mounted higher. She saw them now as bright stars in the sky. One of them fell down, forming a long line of fire.

“Now someone is dying,” thought the little girl, for her old grandmother, the only person who had loved her, and who was now dead, had told her that when a star fell down a soul went up to God.

She rubbed another match against the wall. It became bright again, and in the glow the old grandmother stood clear and shining, kind and lovely.

“Grandmother!” cried the child. “Oh, take me with you! I know you will disappear when the match is burned out. You will vanish like the warm stove, the wonderful roast goose and the beautiful big Christmas tree!”

And she quickly struck the whole bundle of matches, for she wished to keep her grandmother with her. And the matches burned with such a glow that it became brighter than daylight. Grandmother had never been so grand and beautiful. She took the little girl in her arms, and both of them flew in brightness and joy above the earth, very, very high, and up there was neither cold, nor hunger, nor fear-they were with God.

But in the corner, leaning against the wall, sat the little girl with red cheeks and smiling mouth, frozen to death on the last evening of the old year. The New Year’s sun rose upon a little pathetic figure. The child sat there, stiff and cold, holding the matches, of which one bundle was almost burned.

“She wanted to warm herself,” the people said. No one imagined what beautiful things she had seen, and how happily she had gone with her old grandmother into the bright New Year.

Tóm Tắt Kiến Thức Môn Hóa Học Thpt Lớp 10 11 12

Tóm tắt kiến thức môn hóa học THPT lớp 10 11 12

Tóm tắt kiến thức môn hóa học THPT lớp 10 11 12

TỔNG KẾT KIẾN THỨC HÓA HỌC THPT

MỤC LỤC

Nội dung

Trang

Chương 1: Nguyên tử…………………………………………

Chương 2: Bảng hệ thống tuần hoàn…………………………

Chương 3: Liên kết hóa học……………………………………

Chương 4: Phản ứng hóa học……………………………………

Chương 5: Tốc độ phản ứng………………………………….

Chương 6: Cân bằng hóa học…………………………………

Chương 7: Dung dịch……………………………………….…

Chương 8: Phản ứng ion trong dung dịch……………..……

Chương 9: Halogen và hợp chất……………………………..

Chương 10: Oxi và hợp chất…………………………………

Chương 11: Lưu huỳnh và hợp chất…………………………

Chương 12: Nitơ và hợp chất…………………………….……

Chương 13: Photpho và hợp chất……………………………

Chương 14: Cacbon và hợp chất……………………….……

Chương 15: Tổng hợp kiến thức phi kim……………………

Chương 16: Đại cương kim loại………………………………

Chương 17: Kim loại kiềm và kiềm thổ…………………..…

Chương 18: Nhôm và hợp chất……………………………….

Chương 19: Crom và hợp chất………………………………..

Chương 20: Sắt và hợp chất………………………….……….

Chương 21: Tổng hợp kiến thức hóa vô cơ……………………

Chương 22: Nhận biết………………………………………….

Chương 23: Đại cương hóa hữu cơ………………………..…

Chương 24: Hiđrocacbon……………………………….…….

Chương 25: Độ bất bão hòa……………………………………

Chương 26: Hợp chất nhóm chức……………………..……..

Chương 27: Danh pháp hợp chất nhóm chức………………..

Chương 28: Một số phản ứng riêng của các hcnc……………

Chương 29: Tính chất điển hình của hợp chất nhóm chức…..

Chương 30: Tính axit – bazơ của các hợp chất hữu cơ………

Chương 31: Amino axit………………………………………..

Chương 32: Tính chất của cacbohiđrat…………………..

Chương 33: Polime…………………………………..…

Chương 34: Sơ đồ chuyển hóa giữa các hợp chất hữu cơ…

4

7

10

12

18

19

21

24

27

30

31

34

36

38

40

42

45

47

50

51

54

55

57

59

65

66

68

72

76

77

78

80

81

83

NGUYÊN TỬ

1. Cấu tạo nguyên tử

‒ Nguyên tử có hai thành phần chính: hạt nhân và lớp vỏ electron.

‒ Do phân tử trung hòa về điện nên số proton luôn bằng số electron, giá trị này được gọi là số đơn vị điện tích hạt nhân hoặc số hiệu nguyên tử – kí hiệu là Z.

2. Kí hiệu nguyên tử

‒ Số khối của hạt nhân, kí hiệu là A, bằng tổng số proton (Z) và nơtron (N).

A = Z + N

‒ Nguyên tử được kí hiệu là:với X là kí hiệu nguyên tố.

3. Đồng vị

‒ Những nguyên tử cùng số proton nhưng khác số nơtron được gọi là các đồng vị.

‒ Cho nguyên tố X có n đồng vị với khối lượng nguyên tử là A1, A2, …, An. Tỉ lệ phần trăm số nguyên tử (hay hàm lượng) các đồng vị lần lượt là x1, x2, …, xn (với x1 + x2 + … + xn = 100 %) thì khối lượng nguyên tử trung bình của X là

4. Sự phân bố electron

‒ Các electron trong nguyên tử được sắp xếp theo từng lớp từ trong ra ngoài.

‒ Thông thường, các phân lớp càng xa hạt nhân thì mức năng lượng càng lớn, càng dễ tách electron ra khỏi nguyên tử. Theo quy tắc này thì thứ tự tăng dần mức năng lượng của các phân lớp sẽ là: 1s < 2s < 2p < 3s < 3p < 3d < 4s < 4p < 4d < 4f. Tuy nhiên, có một trường hợp đặc biệt là mức năng lượng của phân lớp 3d lại lớn hơn 4s, do đó thứ tự sắp xếp mức năng lượng của các phân lớp phải là

5. Cấu hình electron nguyên tử

‒ Cấu hình electron biểu diễn sự phân bố các electron trên các phân lớp khác nhau. Cách viết cấu hình electron của một nguyên tử bất kì gồm các bước sau

Bước 1: Xác định số electron của nguyên tử (chính là Z).

Bước 2: Xác định sự phân bố các phân lớp electron, cụ thể là

1s 2s 2p 3s 3p 3d 4s 4p …

Bước 3: Lần lượt điền từng electron vào các phân lớp theo

• Nguyên lí vững bền (từ mức năng lượng thấp tới cao, lưu ý điền electron vào phân lớp 4s trước 3d.)

• Nguyên lí Pauli (mỗi obitan chỉ có tối đa 2 electron).

• Quy tắc Hund (số electron độc thân phải lớn nhất có thể).

‒ Có hai trường hợp đặc biệt là Cr (Z = 24) và Cu (Z = 29):

Nguyên tố

Cấu hình electron dự đoán

Cấu hình electron thực tế

Cr (Z = 24)

1s22s22p63s23p63d44s2

1s22s22p63s23p63d54s1

Cu (Z = 29)

1s22s22p63s23p63d94s2

1s22s22p63s23p63d104s1

Nguyên nhân là do cấu hình dạng d5 và d10 rất bền vững nên Cr

và Cu ưu tiên các dạng này hơn.

6. Cấu hình electron của ion

‒ Cation: Khi nguyên tử mất electron (điện tích âm) thì sẽ tạo thành các ion mang điện tích dương, gọi là các cation. Cấu hình electron của các cation được tạo ra bằng cách bớt electron lần lượt từ phân lớp ngoài vào phân lớp trong.

VD1:

‒ Anion: Khi nguyên tử nhận electron (điện tích âm) thì sẽ tạo thành các ion mang điện tích âm, gọi là các anion. Cấu hình electron của anion được tạo ra bằng cách thêm electron lần lượt từ phân lớp trong tới phân lớp ngoài.

———  ———

BẢNG HỆ THỐNG TUẦN HOÀN

1. Cấu tạo bảng tuần hoàn

‒ Trong bảng tuần hoàn, các nguyên tố được sắp xếp theo thứ tự tăng dần số đơn vị điện tích hạt nhân Z theo chiều từ trái sang phải và từ trên xuống dưới. Giá trị của Z cũng chính là số thứ tự của mỗi nguyên tố trong bảng.

‒ Các nguyên tố mà nguyên tử có cùng số lớp electron được xếp thành một hàng, gọi là chu kì.

‒ Các nguyên tố mà nguyên tử có cùng số electron hóa trị được xếp thành một cột, gọi là nhóm nguyên tố.

2. Xác định số thứ tự chu kì của một nguyên tố

‒ Dựa vào cấu hình electron: Số thứ tự của lớp ngoài cùng bằng bao nhiêu thì nguyên tố thuộc chu kì bấy nhiêu.

VD1: Fe có cấu hình electron là 1s22s22p63s23p63d64s2  Fe thuộc chu kì 4.

3. Nguyên tố nhóm chính và nhóm phụ

‒ Những nguyên tố mà electron cuối cùng được điền vào obitan s hoặc p thì gọi là nguyên tố nhóm chính (nhóm A). Những nguyên tố mà electron cuối cùng được điền vào obitan d hoặc f thì gọi là nguyên tố nhóm phụ (nhóm B).

4. Xác định số thứ tự nhóm của một nguyên tố

‒ Thông thường, nguyên tố nhóm A có cấu hình electron lớp vỏ ngoài dạng: nsanpb và số thứ tự của nhóm nguyên tố chính là tổng (a + b).

‒ Cấu hình electron lớp ngoài cùng (và sát ngoài cùng) của nguyên tố nhóm B thường có dạng: (n – 1)dansb. Số thứ tự nhóm được xác định theo nguyên tắc

• Nếu a + b = 3 – 7: nhóm IIIB – VIIB.

• Nếu a + b = 8 – 10: nhóm VIIIB­.

• Nếu a + b = 11, 12: nhóm IB, IIB.

5. Vị trí của một nguyên tố trong bảng tuần hoàn

‒ Khi biết vị trí của một nguyên tố trong bảng tuần hoàn, có thể suy ra cấu tạo nguyên tử của nguyên tố đó, và ngược lại.

6. Khí hiếm

‒ Mỗi chu kì kết thúc khi phân lớp p đã bão hòa (riêng với chu kì 1 là khi phân lớp 1s bão hòa). Các nguyên tố kết thúc mỗi chu kì có cấu hình electron lớp ngoài cùng dạng ns2np6 (riêng với chu kì 1 là 1s2) và được gọi là các khí hiếm. Các khí hiếm điển hình nhất là

Chu kì

Khí hiếm

Số hiệu

Cấu hình electron

1

Heli (He)

Z = 2

1s2

2

Neon (Ne)

Z = 10

1s22s22p6

3

Argon (Ar)

Z = 18

1s22s22p63s23p6

‒ Cấu hình electron của một nguyên tố ở chu kì n có thể viết gọn theo công thức

VD2: Cấu hình của crom (Z = 24) là:

7. Cách vẽ bảng hệ thống tuần hoàn

‒ Các bước cơ bản để vẽ một bảng tuần hoàn đơn giản (gồm 20 nguyên tố).

Bước tiến hành

Minh họa

Bước 1: Vẽ một bảng đơn giản với 4 hàng (chu kì) và 8 cột (nhóm).

Bước 2: Xác định các nguyên tố ở chu kì 1, chỉ gồm hai nguyên tố Z = 1, 2 ở đầu và cuối bảng

Bước 3: Xác định các nguyên tố ở chu kì 2, gồm tám nguyên tố (Z = 3 – 10) xếp lần lượt từ đầu đến cuối bảng. Các nguyên tố ở chu kì 3 cũng tương tự (Z = 11 – 18). Tiếp theo, bắt đầu ở chu kì 4 là hai nguyên tố Z = 19 và 20.

‒ Khi đã dần quen với cách vẽ trên, bạn nên ghi nhớ tên gọi / kí hiệu của các nguyên tố có Z = 1 – 20 và vị trí của chúng trong bảng tuần hoàn.

8. Sự biến đổi bán kính nguyên tử của các nguyên tố

‒ Bán kính nguyên tử (kí hiệu: R) có thể được xem là khoảng cách từ hạt nhân tới các electron lớp ngoài cùng. R phụ thuộc vào hai yếu tố

• Số lớp electron càng lớn thì R càng lớn.

• Nếu số lớp electron giống nhau (cùng chu kì) thì R càng lớn khi điện tích hạt nhân Z càng bé.

‒ Sự biến đổi bán kính nguyên tử các nguyên tố được tóm tắt như sau: Trong cùng nhóm, theo chiều từ trên xuống dưới, số lớp vỏ electron tăng dần nên R tăng dần. Trong cùng chu kì, theo chiều từ trái sang phải, Z tăng dần nên R giảm dần.

9. Sự biến đổi các đại lượng khác

‒ Sau mỗi chu kì, tính chất của các nguyên tố lại biến đổi tuần hoàn. Ngoài sự biến đổi về bán kính nguyên tử, còn có các yếu tố sau

• Năng lượng ion hóa (I), độ âm điện (E), tính phi kim (PK): Các đại lượng đặc trưng cho khả năng hút (hoặc giữ) electron của hạt nhân – biến đổi theo chiều ngược với bán kính nguyên tử (R).

• Tính kim loại (KL): Đại lượng đặc trưng cho khả năng nhường electron của nguyên tử – biến đổi cùng chiều với R.

10. Hóa trị của các nguyên tố

‒ Hóa trị là số liên kết hóa học mà nguyên tử có thể tạo ra trong phân tử. Một nguyên tố hóa học có thể có nhiều hóa trị, nhưng hóa trị cao nhất thì bằng số electron lớp vỏ ngoài cùng (hay “electron hóa trị” trong nguyên tử)

‒ Hóa trị cao nhất của một nguyên tố có thể xuất hiện trong oxit (hợp chất với oxi). Nếu một nguyên tố thuộc nhóm chính x thì hóa trị cao nhất của nguyên tử nguyên tố đó trong oxit là x.

‒ Ngoài ra, một số nguyên tố có thể tạo ra hợp chất khí với hiđro. Trong các hợp chất này, nguyên tử nguyên tố đó có hóa trị bằng 8 – x.

————————

LIÊN KẾT HÓA HỌC

1. Electron hóa trị

‒ Trong nguyên tử của các nguyên tố thuộc nhóm chính (nhóm A), các electron lớp vỏ ngoài cùng được gọi là các “electron” hóa trị. Các electron hóa trị sẽ quyết định tính kim loại hoặc phi kim của các nguyên tố

• Kim loại thường có 1 – 3 electron hóa trị.

• Phi kim thường có 4 – 7 electron hóa trị.

• Nguyên tố có 8 electron hóa trị là khí hiếm.

Nhìn chung thì nguyên tố thuộc nhóm chính thứ x sẽ có x electron hóa trị.

2. Kim loại và phi kim điển hình

‒ Tất cả các nguyên tố nhóm B (như Fe, Zn, Cu, Cr) đều là kim loại. Trong nhóm A, các kim loại điển hình nhất là

• nhóm IA (hay “kim loại kiềm”): liti (Li), natri (Na), kali (K).

• nhóm IIA (hay “kim loại kiềm thổ”): magie (Mg), canxi (Ca), bari (Ba).

• nhóm IIIA: nhôm (Al).

Ở điều kiện thường, đa số kim loại đều là chất rắn, trừ thủy ngân (Hg) là chất lỏng.

‒ Các phi kim điển hình nhất là

• nhóm IA : hiđro (H).

• nhóm IVA: cacbon (C).

• nhóm VA: nitơ (N), photphot (P).

• nhóm VIA: oxi (O), lưu huỳnh (S).

• nhóm VIIA (hay “halogen”): flo (F), clo (Cl), brom (Br), iot (I).

Ở điều kiện thường, đa số phi kim đều là chất khí, ngoại trừ: brom (chất lỏng) và cacbon, lưu huỳnh, photpho, iot (chất rắn).

3. Quy tắc bát tử

‒ Quy tắc chung trong các phản ứng hóa học là nguyên tử thường có xu hướng nhường hoặc nhận electron để trở thành các ion có cấu hình electron của khí hiếm (với 8 electron lớp ngoài cùng). Quy tắc này gọi là quy tắc “bát tử” (8 electron).

VD1: Clo (Z = 17) có 7 electron lớp ngoài cùng nên dễ nhận thêm 1 electron để tạo thành anion Cl– có cấu hình electron của khí hiếm Ar.

4. Ion đa nguyên tử

CATION

ANION

NH4+ (amoni)

Ion của N: NO3– (nitrat) NO2– (nitrit)

Ion của C: CO32– (cacbonat) HCO3– (hiđrocacbonat)

Ion của S: SO42– (sunfat)

Ion của P: PO43– (photphat)

5. Liên kết hóa học

‒ Liên kết hóa học được chia thành hai loại chính.

Liên kết ion

Liên kết cộng hóa trị (CHT)

Thường được tạo thành giữa kim loại với phi kim (hoặc với ion đa nguyên tử).

VD: KF, NH4Cl, Na2SO4­.

Thường được tạo thành giữa phi kim và phi kim.

Liên kết CHT không phân cực

Liên kết CHT phân cực

Được tạo thành giữa hai phi kim giống nhau hoặc có độ âm điện gần bằng nhau (thường là cacbon và hiđro).

VD: O2, Cl2, CH4.

Được tạo thành giữa hai phi kim có độ âm điện khác nhau nhiều.

VD: HCl, H2O, NH3­.

6. Công thức hợp chất ion

‒ Khi kết hợp hai ion X và Y với nhau tạo thành hợp chất thì sẽ có tỉ lệ

PHẢN ỨNG HÓA HỌC

1. Quy tắc xác định số oxi hóa

‒ Số oxi hóa (viết tắt: SOH) là điện tích của nguyên tử trong đơn chất, hợp chất. Có 7 quy tắc cơ bản để xác định số oxi hóa.

Quy tắc

Nội dung

Ví dụ

1

SOH của mọi nguyên tố trong đơn chất đều bằng 0.

2

Trong hợp chất, kim loại nhóm IA (Li, Na, K, Rb, Cs) chỉ có SOH +1.

3

Trong hợp chất, kim loại nhóm IIA (Be, Mg, Ca, Sr, Ba) chỉ có SOH +2.

4

Nguyên tử của các nguyên tố sau chỉ có một SOH trong hợp chất:

5

Trong đa số hợp chất, hiđro thường có SOH +1.

6

Trong đa số hợp chất, oxi thường có SOH –2.

7

Trong các hợp chất hai nguyên tố, các halogen (Cl2, Br2, I2) luôn có SOH –1 (ngoại trừ hợp chất với oxi).

‒ Trong phân tử (trung hòa điện), tổng SOH của tất cả các nguyên tử bằng 0.

‒ Trong ion, tổng SOH của tất cả các nguyên tử bằng điện tích ion.

VD1: Xác định SOH của nitơ trong ion NO3–. Theo quy tắc 6, SOH của oxi là –2. Đặt SOH của nitơ là x

2. Phản ứng oxi hóa – khử

‒ Trong PƯ oxi hóa – khử có sự thay đổi SOH của một số nguyên tử. Nguyên nhân là do có sự trao đổi electron giữa các chất tham gia phản ứng: Các chất nhường (cho) electron thì SOH tăng lên, các chất nhận electron thì SOH giảm xuống.

‒ Các thuật ngữ trong PƯ oxi hóa – khử được tóm tắt ở bảng sau:

‒ Lưu ý rằng khi xác định các chất oxi hóa và chất khử thì chỉ xác định những chất PƯ (không xét đến các sản phẩm).

‒ Khi chất khử và chất oxi hóa giống nhau thì PƯ gọi là “tự oxi hóa – khử”.

VD2:

‒ Khi chất khử và chất oxi hóa thuộc về hai nguyên tố khác nhau trong cùng một phân tử thì PƯ gọi là “oxi hóa – khử nội phân tử”.

VD3:

3. Phương pháp cân bằng phản ứng oxi hóa – khử

• Bước 1: Xác định các nguyên tử bị thay đổi SOH trong PƯ.

• Bước 2: Viết sự khử và sự oxi hóa, lưu ý phải cân bằng số nguyên tử của mỗi nguyên tố trong các quá trình.

• Bước 3: Xác định hệ số cân bằng và cân bằng các quá trình.

• Bước 4: Điền hệ số và cân bằng phương trình.

‒ Ở bước 3, khi cân bằng các quá trình thì cần lưu ý trường hợp sau

(1) Nguyên tử có mặt trong nhiều phân tử.

(2) Nguyên tử tham gia đồng thời hai quá trình (khử và oxi hóa)

Khi đó, không thể điền hệ số và cân bằng trực tiếp với nguyên tử này.

VD4: Cân bằng PƯ: KMnO4 + HCl → KCl + MnCl2 + Cl2 + H2O.

Trong PƯ trên, Cl–1 vừa là chất khử, vừa tham gia tạo môi trường PƯ (xuất hiện trong nhiều phân tử), do đó không thể cân bằng trực tiếp clo bằng cách điền hệ số mà phải cân bằng qua các nguyên tố khác.

 Cân bằng kali:

 Cân bằng clo:

 Cân bằng hiđro:

Lúc này, PƯ đã cân bằng.

4. Phản ứng có nhiều chất khử hoặc chất oxi hóa

‒ Các PƯ oxi hóa – khử thường chỉ có một nguyên tố tăng SOH (chất khử), một nguyên tố giảm SOH (chất oxi hóa). Tuy nhiên, trong một số trường hợp có thể có nhiều (2 hoặc 3) nguyên tố là chất khử (hoặc chất oxi hóa) và các nguyên tố này lại thường cùng thuộc một phân tử. Trường hợp này gọi là PƯ có nhiều chất khử hoặc chất oxi hóa.

VD5: Trong PƯ: có hai chất khử là Cu+1 và S–2.

‒ Để đơn giản, có thể xem rằng: Trong các phân tử mà tất cả các nguyên tử đều là chất khử (hoặc chất oxi hóa) thì SOH của tất cả các nguyên tử đều bằng 0.

VD6: Viết sự khử của PƯ: FeS + H2SO4 (đặc) Fe2­(SO4)3 + SO2 + H2O.

VD7: Cân bằng PƯ: FeS + H2SO4 (đặc) Fe2(SO4)3 + SO2 + H2O.

Trong PƯ trên, S+6 vừa là chất khử, vừa tham gia tạo môi trường PƯ (xuất hiện trong nhiều phân tử), do đó không thể cân bằng trực tiếp lưu huỳnh bằng cách điền hệ số mà phải cân bằng qua các nguyên tố khác. Bạn hãy tự cân bằng tiếp:

 Cân bằng lưu huỳnh:

 Cân bằng hiđro:

Lúc này PƯ đã cân bằng!

5. Dự đoán tính chất oxi hóa – khử của đơn chất

‒ Nguyên tắc 1: Đơn chất kim loại chỉ có thể nhường electron  chỉ có tính khử.

‒ Nguyên tắc 2: Đơn chất phi kim vừa có thể nhường hoặc nhận electron, do đó phi kim vừa có tính khử, vừa có tính oxi hóa (trừ flo). Xét một phi kim X ở nhóm chính thứ n (tương ứng với n electron hóa trị), khi đó X có hai xu hướng PƯ chính:

Nhận thêm (8 – n) electron để tạo ra ion có cấu hình của khí hiếm thuộc chu kì trước.

X0 + (8 – n)e → X–(8 – n)

Nhường n electron để tạo ra ion có cấu hình của khí hiếm cùng chu kì.

X0 – n∙e → X+n

Giá trị –(8 – n) và +n lần lượt là SOH thấp nhất và cao nhất của X trong hợp chất.

VD8: Nitơ thuộc nhóm VA  Có 5 electron hóa trị  SOH cao nhất và thấp nhất của nitơ lần lượt là –3 và +5.

6. Dự đoán tính chất oxi hóa – khử của kim loại trong hợp chất

‒ Trong hợp chất, các kim loại điển hình (nhóm IA, IIA, Al, Zn, Ag) chỉ có một SOH duy nhất và đó là SOH cao nhất. Do đó, chúng chỉ có thể chuyển từ SOH này về 0 (đơn chất) chứ không thể tăng thêm  Chỉ có tính oxi hóa.

‒ Một số kim loại nhóm B có thể có nhiều SOH trong hợp chất (VD9: Fe có SOH +2 và +3). Nếu như trong hợp chất, các kim loại này chưa đạt tới SOH cao nhất thì chúng sẽ vừa có tính oxi hóa, vừa có tính khử.

7. Dự đoán tính chất oxi hóa – khử của phi kim trong hợp chất

‒ Xét phi kim X thuộc nhóm chính thứ n. Trong hợp chất, nếu X có SOH nằm giữa hai giá trị –(8 – n) và +n (chính là SOH thấp nhất và cao nhất) thì X vừa có tính khử, vừa có tính oxi hóa.

Lưu ý: F2 và O2 là các phi kim rất mạnh (có độ âm điện lớn nhất) nên anion F– và O2– có tính khử rất yếu, chỉ thể hiện khi có dòng điện. Do đó, trong các PƯ hóa học, các ion F– và O2– hầu như không thể hiện tính khử.

8. Dự đoán tính chất oxi hóa – khử của hợp chất

‒ Nguyên tắc: Tính oxi hóa – khử của hợp chất là sự kết hợp của tính oxi hóa và tính khử của tất cả các nguyên tử có trong hợp chất.

P HỤ LỤC 1: CHẤT OXI HÓA VÀ CHẤT KHỬ ĐIỂN HÌNH

TỐC ĐỘ PHẢN ỨNG

1. Khái niệm và công thức tính tốc độ phản ứng

‒ Tốc độ PƯ là sự thay đổi (độ biến thiên) nồng độ của chất PƯ hoặc sản phẩm trong một đơn vị thời gian.

‒ Xét một PƯ có sự tham gia của chất A từ thời điểm t1 đến t2.

Tốc độ của PƯ của A là:

‒ Xét PTPƯ tổng quát: aA + bB → cC + dD

(a, b, c, d: hệ số tỉ lượng hoặc hệ số cân bằng)

Độ biến thiên nồng độ (ΔC) của các chất trong PƯ có thể khác nhau.

 Tốc độ PƯ của từng chất có thể khác nhau. Để tính tốc độ toàn PƯ thì phải chia tốc độ của từng chất cho hệ số tỉ lượng.

2. Các yếu tố ảnh hưởng tốc độ phản ứng

Tác động vào phản ứng

Tốc độ phản ứng của

Chất khí

Chất lỏng

Chất rắn

Tăng nồng độ

X

Tăng áp suất

X

X

Tăng nhiệt độ

Tăng diện tích tiếp xúc

Thêm xúc tác

Trong đó: ↑ là tốc độ tăng lên; X là không ảnh hưởng đến tốc độ.

CÂN BẰNG HÓA HỌC

1. Phản ứng thuận nghịch

‒ PƯ thuận nghịch là PƯ diễn ra theo hai chiều ngược nhau, trong cùng một điều kiện. Mũi tên “” được sử dụng để mô tả hai chiều PƯ diễn ra đồng thời.

VD1: N2 (k) + 3H2 (k) 2NH3 (k) là một PƯ thuận nghịch.

2. Cân bằng hóa học

‒ Xét PƯ thuận nghịch: aA + bB cC + dD.

Thực chất, có hai PƯ diễn ra đồng thời:

• PƯ thuận: A + B → C + D, có tốc độ là vt.

• PƯ nghịch: C + D → A + B, có tốc độ là vn.

Tại một thời điểm xác định, vt = vn – khi đó PƯ sẽ đạt tới trạng thái cân bằng và nồng độ các chất không thay đổi nữa.

‒ Khi PƯ đạt cân bằng, giá trị gọi là hằng số cân bằng của PƯ. Trong đó [i] là nồng độ của chất i khi cân bằng. Ở một nhiệt độ xác định, KC luôn không thay đổi.

‒ Biểu thức tính hằng số cân bằng KC (hoặc viết gọn là K) chỉ xét với chất khí hoặc chất tan trong dung dịch. Trong PƯ có chất rắn thì không viết nồng độ chất rắn vào biểu thức tính KC.

VD2: Hằng số cân bằng của CaO (r) + CO2 (k) CaCO3 (r) là

3. Mối liên hệ giữa các biểu thức tính KC

‒ Nguyên tắc 1: Các PƯ ngược chiều thì có KC là nghịch đảo của nhau.

‒ Nguyên tắc 2: Xét hai PƯ thuận nghịch cùng bản chất nhưng khác nhau về hệ số tỉ lượng. Giả sử PƯ thứ nhất có hệ số tỉ lượng gấp n lần PƯ thứ hai thì .

VD3: Xét hai PƯ: (1) 2SO2 (k) + O2 (k)2SO3 (k)

(2) SO2 (k) + O2 (k)SO3 (k)

Dễ nhận thấy Kết quả này phù hợp với nguyên tắc 2 vì các hệ số tỉ lượng của K1 gấp đôi K2.

4. Các yếu tố ảnh hưởng đến cân bằng hóa học

‒ Cân bằng có thể bị chuyển dịch (đổi chiều) khi thay đổi một trong các yếu tố: (1) nồng độ; (2) áp suất; (3) nhiệt độ. Sự chuyển dịch cân bằng tuân theo nguyên lí Lơ Satơlie (Le Chatelier):

Một PƯ thuận nghịch đang ở trạng thái cân bằng khi chịu tác động từ bên ngoài (biến đổi nồng độ, áp suất, nhiệt độ) thì cân bằng sẽ chuyển dịch theo chiều chống lại tác động đó.

5. Hiệu ứng nhiệt của phản ứng

‒ Mỗi PƯ đều có xảy ra sự biến đổi năng lượng, thường là dưới dạng nhiệt năng (kí hiệu là ΔH). Nếu

• ΔH < 0 thì PƯ được gọi là tỏa nhiệt (làm nhiệt độ tăng lên).

6. Sự chuyển dịch cân bằng

Ảnh hưởng của

Nồng độ

Áp suất

Nhiệt độ

Khi tăng nồng độ của một chất thì cân bằng sẽ chuyển dịch theo chiều làm giảm nồng độ của chất đó.

Khi tăng áp suất của hệ PƯ thì cân bằng sẽ chuyển dịch theo chiều làm giảm số phân tử khí (giảm áp suất).

Khi tăng nhiệt độ, cân bằng sẽ chuyển dịch theo chiều làm giảm nhiệt độ (chiều thu nhiệt).

Lưu ý: Chất xúc tác chỉ làm PƯ nhanh đạt tới trạng thái cân bằng chứ không làm chuyển dịch cân bằng.

DUNG DỊCH

1. Khái niệm dung dịch

‒ Khi hòa tan một chất A vào nước sẽ thu được một dung dịch A. Khi đó A được gọi là chất tan còn nước là dung môi.

‒ Nồng độ phần trăm (C%) của chất tan trong dung dịch được tính theo công thức:

‒ Nồng độ mol (CM) của chất tan trong dung dịch được tính theo công thức:

‒ Giữa nồng độ phần trăm và nồng độ mol có mối liên hệ như sau

2. Chất điện li

‒ Quá trình phân li các chất trong nước thành ion gọi là sự điện li. Các chất khi tan trong nước bị phân li thành ion gọi là chất điện li. Chất điện li có thể là axit, bazơ hoặc muối.

‒ Khi hòa tan một chất vào nước thì có thể xảy ra hai trường hợp:

• Các phân tử bị hòa tan đều phân li ra ion  Chất điện li mạnh.

• Các phân tử bị hòa tan phân li một phần ra ion  Chất điện li yếu.

3. Lí thuyết axit – bazơ cổ điển

‒ Axit là hợp chất có một hay nhiều nguyên tử hiđro liên kết với gốc axit. Công thức chung là HmA (A là gốc axit). VD1: HCl, H2SO4, H2CO3, …

‒ Bazơ là hợp chất gồm một nguyên tử kim loại (hoặc nhóm NH4) liên kết với một hay nhiều nhóm OH. Công thức chung là B(OH)n (B là kim loại hoặc nhóm NH4). VD2: NaOH, NH4OH (hay dung dịch NH3), …

‒ Muối là hợp chất gồm một hay nhiều nguyên tử kim loại (hoặc nhóm NH4) liên kết với một hay nhiều gốc axit. Công thức chung là BmAn. VD3: Na2SO4, KCl, …

4. Lí thuyết axit – bazơ của Bron-stêt

Lí thuyết cổ điển chưa giải thích được tại sao những chất như Na2CO3 (không có nhóm OH) mà lại là bazơ. Do đó, lí thuyết axit – bazơ đã được mở rộng hơn bởi quan điểm của Bron-stêt:

‒ Axit là những chất tan trong nước có khả năng nhường proton (H+).

VD4: NH4Cl là axit vì trong dung dịch, NH4+ có khả năng nhường H+ cho H2O.

NH4+ + H2O NH3 + H3O+.

VD5: Na2CO3 là bazơ vì trong dung dịch, CO32– có khả năng nhận proton từ H2O.

CO32– + H2O HCO3– + OH–.

5. pH – pOH

‒ Đại lượng pH được sử dụng để đánh giá nồng độ ion H+ trong dung dịch.

(lg là logarit cơ số 10)

Giá trị pH cho biết môi trường có tính axit, bazơ hay trung tính.

• pH < 7: Môi trường axit.

• pH = 7: Môi trường trung tính.

‒ Ngoài giá trị pH, còn có thể sử dụng giá trị. Lưu ý rằng trong mọi dung dịch thì pOH + pH = 14.

6. Phân loại muối

‒ Những muối mà gốc axit còn hiđro và có khả năng nhường proton thì gọi là muối axit (VD6: NaHSO4, NaHS) còn những muối mà gốc axit không còn hiđro (hoặc chứa hiđro nhưng không có khả năng nhường proton) thì gọi là muối trung hòa (VD7: Na2CO3, K2SO4).

‒ Các muối axit thì luôn có tính axit. Các muối trung hòa thì có thể có tính bazơ nếu đó là muối của axit yếu. VD8: Na2CO3 có tính bazơ còn NaHSO4 thì không.

‒ Xét một axit yếu điển hình dạng H2X. Sự chuyển hóa giữa H2X và các muối tương ứng được biểu diễn theo sơ đồ sau đây:

Có thể dự đoán tính axit – bazơ của H2X, HX–, X2– như sau:

Tính chất

H2X

HX–

X2–

PƯ với bazơ (tính axit)

Có PƯ

Có PƯ

X

PƯ với axit (tính bazơ)

X

Có PƯ

Có PƯ

Dễ nhận thấy HX– vừa PƯ được với cả axit và bazơ nên đây là chất lưỡng tính.

PHỤ LỤC 2: AXIT VÀ BAZƠ VÔ CƠ

PHẢN ỨNG ION TRONG DUNG DỊCH

1. Khái niệm kết tủa và tính tan của hợp chất ion

‒ Kết tủa là chất rắn, gần như không tan trong nước và điện li rất yếu. Trong PƯ hóa học, kết tủa thường được kí hiệu là “↓”. Kết tủa có thể là axit (hiếm gặp), hoặc bazơ, nhưng phổ biến nhất là muối.

‒ Kết tủa là hợp chất ion, gồm một cation và một anion kết hợp với nhau.

Hợp chất tan (không kết tủa)

1

Tất cả các cation kim loại nhóm IA và nhóm amoni (NH4+) đều tạo ra hợp chất ion tan.

2

Tất cả các muối của ion nitrat (NO3–) và axetat (CH­3­COO–) đều tan.

3

Đa số muối của ion halogenua (Cl–, Br–, I–) đều tan, trừ muối của cation Ag+ và Pb2+.

4

Đa số các muối sunfat (SO42–) đều tan, trừ muối của ion Ca2+, Ba2+, Pb2+.

Kết tủa

5

Đa số hiđroxit kim loại đều không tan, trừ hiđroxit của kim loại nhóm IA và Ca, Ba.

6

Đa số muối của ion cacbonat (CO32–), sunfit (SO3­­2–) và photphat (PO43–) đều không tan, trừ muối của các kim loại nhóm IA và NH4.

7

Đa số muối sunfua (S2–) đều không tan, trừ muối của kim loại nhóm IA, IIA, NH4 và Al.

2. Chất khí

‒ Chất khí có nhiều loại, nhưng thường gặp nhất là các axit hoặc bazơ yếu, gồm:

• Axit yếu: CO2, SO2, H2S.

• Bazơ yếu: NH3.

‒ Các khí thường tạo ra từ sự kết hợp các ion sau

H+ + anion của axit yếu

OH– + Cation của bazơ yếu

Axit yếu

Anion tương ứng

H2CO3

H2SO3

H2S

HCO3–, CO32–

HSO3–, SO32–

HS–, S2–

Thường gặp nhất là cation NH4+.

3. Phân loại chất điện li

Chất điện li mạnh

Chất điện li yếu

• Axit mạnh.

• Bazơ mạnh.

• Hầu hết các muối tan.

• Axit yếu.

• Bazơ yếu.

• H2O và kết tủa.

‒ Theo phân loại như trên thì các chất khí (là các axit hoặc bazơ yếu) đều thuộc loại chất điện li yếu.

4. Phản ứng ion trong dung dịch

‒ PƯ trong dung dịch giữa các chất điện li thực ra là PƯ giữa các ion với nhau. Các PƯ ion trong dung dịch có thể chia thành hai loại:

• PƯ oxi hóa – khử.

• PƯ không oxi hóa – khử (còn gọi là “PƯ trao đổi ion”).

5. Phản ứng trao đổi ion

‒ PƯ trao đổi ion giữa các chất điện li trong dung dịch chỉ xảy ra khi các ion kết hợp với nhau tạo thành ít nhất một chất điện li yếu (thường là kết tủa, chất khí hoặc nước). PƯ trao đổi ion có thể chia thành hai loại nhỏ:

6. Cách viết phương trình ion thu gọn

Nguyên tắc: PƯ trong dung dịch giữa các chất điện li là PƯ giữa các ion với nhau. Tuy nhiên, chỉ có một số ion PƯ còn một số khác thì không. Do vậy, có thể viết PTPƯ dưới dạng thu gọn, trong đó các ion không PƯ bị lược bỏ.

‒ Bước 1: Cân bằng PT phân tử (dạng đầy đủ).

‒ Bước 2: Viết các chất trong PƯ dưới dạng ion, ngoại trừ: chất kết tủa, chất khí hoặc các chất điện li yếu khác.

‒ Bước 3: Lược bỏ các ion xuất hiện ở cả hai vế của phương trình (đó là các ion không tham gia PƯ).

7. Bài toán phản ứng giữa axit mạnh và bazơ mạnh

Nguyên tắc: Với các bài toán tính pH của dung dịch sau PƯ giữa (hỗn hợp) axit mạnh PƯ với (hỗn hợp) bazơ mạnh thì chỉ cần tiến hành các bước sau:

‒ Bước 1: Tính số mol H+, OH– ban đầu.

‒ Bước 2: Viết PTPƯ: H+ + OH– → H2O và tính số mol chất còn dư sau PƯ.

‒ Bước 3: Tính nồng độ H+ hoặc OH– còn dư sau PƯ.

Lưu ý các công thức sau:

8. Sự trung hòa điện tích trong dung dịch

‒ Trong mọi dung dịch, điện tích luôn trung hòa (bằng 0), do đó:

Tổng số mol mỗi ion nhân với điện tích của ion tương ứng bằng 0

Trong đó: ni là số mol ion; qi là điện tích ion tương ứng.

HALOGEN VÀ HỢP CHẤT

1. Giới thiệu nhóm halogen

‒ Nhóm nguyên tố VIIA thường được gọi là nhóm halogen, gồm: F, Cl, Br, I, At – trong đó At là nguyên tố phóng xạ, kém bền nên chúng ta không nghiên cứu.

‒ Các nguyên tố halogen có đặc điểm:

• Đơn chất tồn tại ở dạng X2.

• Đều là phi kim, độ âm điện lớn.

• Có cấu hình electron lớp ngoài cùng dạng: ns2np5 (7 electron).

 Halogen có hai xu hướng phản ứng chính là:

Halogen vừa có tính oxi hóa, vừa có tính khử, tuy nhiên tính oxi hóa trội hơn.

‒ SOH trong hợp chất của halogen thường là –1. Ngoài ra, các halogen (trừ F) còn có SOH +1, +3, +5, +7 trong hợp chất (thường là với oxi).

2. Khái quát về tính chất hóa học

3. Điều chế halogen

‒ Trong thiên nhiên, halogen tồn tại chủ yếu ở dạng ion halogenua X– (thường là trong muối khoáng). Do đó, đơn chất halogen thường được điều chế bằng cách oxi hóa các ion này: 2X– – 2e X2.

– Halogen X2 có tính oxi hóa càng mạnh thì ion halogenua X– có tính khử càng yếu và càng khó điều chế. Tùy thuộc vào tính oxi hóa của halogen mà lựa chọn tác nhân oxi hóa phù hợp.

– Clo là halogen quan trọng nhất. Trong công nghiệp, clo được điều chế bằng cách điện phân dung dịch muối NaCl. Giữa hai điện cực có màng ngăn xốp để tránh PƯ giữa NaOH và Cl2.

4. Hiđro halogenua

‒ Hiđro halogenua là các hợp chất của halogen và hiđro, công thức chung là HX, có khả năng tan trong nước tạo thành dung dịch “axit halogenhiđric”. Tính axit của chúng tăng theo chiều tăng bán kính nguyên tử halogen:

‒ Dung dịch HX có đầy đủ tính chất của một axit điển hình (xem PHỤ LỤC 2).

5. Điều chế HX

‒ Có hai phương pháp điều chế HX

‒ Br‒ và I‒ có tính khử mạnh, trong khi đó H2SO4 đặc, nóng lại là chất oxi hóa mạnh nên không thể điều chế HBr và HI bằng phương pháp sunfat vì khi sinh ra chúng sẽ bị H2SO4 oxi hóa thành Br2 và I2­.

2HBr + H2SO4 (đặc, nóng) Br2 + SO2 + 2H2O.

8HI + H2SO4 (đặc, nóng) 4I2 + H2S + 4H2O.

6. Nhận biết ion halogenua

‒ Đa số muối halogenua đều tan trong nước, trừ một số muối của ion Ag+, Pb2+.

‒ Các muối halogenua (kết tủa) thường gặp là: AgCl, PbCl2 (đều có màu trắng).

‒ Phương pháp để nhận biết ion halogenua trong dung dịch là “PƯ với ion Ag+”: chỉ có F‒ không kết tủa, còn lại các halogenua khác đều tạo ra kết tủa.

———  ———

OXI VÀ HỢP CHẤT

1. Oxi và ozon

‒ Oxi có hai dạng thù hình là: O2 (oxi phân tử) và O3 (ozon). Cả hai chất này đều là chất khí ở điều kiện thường và có tính oxi hóa rất mạnh, tuy nhiên tính oxi hóa của O3 mạnh hơn O2.

Lưu ý: Trong đa số PƯ giữa O2­ hoặc O3 với kim loại thì kim loại đều bị chuyển lên SOH cao nhất, ngoại trừ PƯ: 3Fe + 2O2 Fe3O4

Fe3O4 (oxit sắt từ) là một hỗn hợp của Fe2O3 và FeO (tỉ lệ mol 1:1).

2. Điều chế oxi

———  ———

LƯU HUỲNH VÀ HỢP CHẤT

1. Tính chất của lưu huỳnh và hợp chất: Xem trang bên.

So sánh

SO2

CO2

Giống nhau

‒ Đều PƯ với các bazơ / oxit bazơ tạo thành muối. PƯ thường gặp nhất là với Ca(OH)2 tạo thành kết tủa trắng

Ca(OH)2 + XO2 → CaXO3↓+ H2O (X = S, C)

‒ Cả S và C đều có SOH +4.

Khác nhau

SOH của S là trung gian giữa SOH cao nhất và thấp nhất  SO2 vừa có tính oxi hóa, vừa có tính khử.

SOH của C là cao nhất  CO2 chỉ có tính oxi hóa.

SO2 PƯ được với các chất oxi hóa mạnh: oxi, halogen, KMnO4 còn CO2 thì không. PƯ thường dùng để nhận biết hai khí là PƯ với nước brom (màu nâu đỏ), SO2 có thể làm nhạt màu dung dịch.

SO2 + Br2 + 2H2O → 2HBr + H2SO4.

2. So sánh tính chất của SO2 và CO2 

3. Nhận biết ion sunfat

‒ Ion sunfat (SO42‒) được nhận biết bằng PƯ với ion Ba2+ (hoặc Pb2+) tạo thành kết tủa màu trắng. Các thuốc thử thường dùng là: Ba(OH)2, Ba(NO3)2, BaCl2.

‒ Ion hiđrosunfat (HSO4‒) không tạo kết tủa với ion Ba2+ nhưng có thể nhận biết bằng Ba(OH)2 do ion này có tính axit yếu, có thể PƯ với dung dịch kiềm tạo thành ion sunfat.

HSO4‒ + OH‒ → SO­42‒ + H2O

Ba2+ + SO­42‒ → BaSO4↓

4. Bài toán kim loại phản ứng với H2SO4 đặc

‒ Trong PƯ giữa kim loại (giả sử là X) với H2SO4 đặc, tạo ra sản phẩm khử S+(6 – y) luôn xảy ra hai quá trình:

• Sự oxi hóa: X0 – x∙e → X+x

• Sự khử: S+6 + y∙e → S+(6 – y)

• Gọi số mol electron mà X nhường và S+6 nhận lần lượt là nnhường và nnhận.

• Theo các quá trình trên thì:

• Theo định luật bảo toàn electron thì:

Giải PT trên để xác định giá trị cần tìm.

5. Công thức tính nhanh số mol axit và khối lượng muối

BÀI TOÁN: Hòa tan hoàn toàn hỗn hợp kim loại vào một lượng vừa đủ với dung dịch H2SO4 đặc, nóng thu được SO2 (là sản phẩm khử duy nhất). Cho biết khối lượng kim loại và số mol SO2, tính số mol axit đã phản ứng và khối lượng muối tạo thành.

‒ Tính nhanh số mol axit: Xét bán PƯ khử: SO42– + 4H+ + 2e → SO2 + H2O.

Dễ nhận thấy:

(*) Do mỗi phân tử H2SO4 phân li thành 2H+.

‒ Tính nhanh khối lượng muối:

O2 Education gửi các thầy cô link download file word

Tom tat kien thuc Hoa hoc THPT

Văn Mẫu Lớp 8: Tóm Tắt Truyện Lão Hạc Của Nam Cao (Sơ Đồ Tư Duy + 20 Mẫu) Tóm Tắt Truyện Ngắn Lão Hạc Lớp 8

Khi tóm tắt Lão Hạc thật chi tiết, đầy đủ, các em sẽ dễ dàng phân tích truyện ngắn Lão Hạc được hiệu quả hơn. Qua đó, phản ánh hiện thực nước ta trong khoảng thời gian trước cách mạng tháng Tám. Mời các em cùng theo dõi 20 mẫu Tóm tắt Lão Hạc để ngày càng học tốt môn Văn 8.

Sơ đồ tư duy truyện Lão Hạc

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 1

Truyện ngắn xoay quanh cuộc trò chuyện giữa ông giáo và Lão Hạc. Lão Hạc là một người nông dân nghèo, vợ lão chết sớm, con lão cũng đi bằn bặt. Già rồi mà ngày cũng như đêm, lão chỉ lủi thủi một mình với con chó mà người con trai để lại trước khi đi làm ăn xa. Sau trận bão, hoa màu bị phá sạch, Lão Hạc lại ốm đau liên miên. Không có gì để ăn, nhiều hôm thì lão ăn củ chuối, hôm thì ăn sung luộc, rau má, củ ráy, hay bữa trai, bữa ốc. Lão Hạc suy nghĩ và quyết định bán cậu Vàng để lấy tiền gửi ông giáo lo ma chay sau này chứ nhất quyết không bán đi mảnh vườn – tài sản duy nhất để lại cho người con trai. Lão Hạc xin Binh Tư bả chó với lý do bẫy con chó cạnh nhà nhưng thực chất là kết liễu cuộc đời mình bằng cách ăn bả chó. Lão chết trong đau đớn, cô đơn, quằn quại.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 2

Lão Hạc không còn lại gì, tiền bạc của cải đều mất trắng vì hoa màu tan nát sau trận bão. Bản thân lão cũng đã sức cùng lực kiệt sau trận ốm. Lão quyết định bán Cậu Vàng – người bạn duy nhất của mình. Sau đó, lão cũng chọn cách tự vẫn bằng bả chó để kết thúc cuộc đời mình. Lão Hạc không muốn bản thân tiêu vào tiền mà lão đã để dành cho con trai, lão ân hận vì ngày xưa không có tiền lo đám cưới cho con nên con trai lão đã phải bỏ đi. Lão hối hận vì mình đã lừa một con chó. Biết bao nhiêu nỗi đau, bao gánh nặng đè lên đầu ông lão khiến ông phải chọn cái chết để giải thoát khỏi đau thương. Truyện ngắn cho thấy số phận bi thảm của những người nông dân trong xã hội cũ khi cái đói, cái nghèo đã bao trùm lấy họ, khiến cho họ phải chọn cái chết.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 3

Truyện là lời kể của ông Giáo về mảnh đời bất hạnh của người hàng xóm gần nhà tên là lão Hạc. Lão Hạc đã già cả rồi, hằng ngày đi làm thuê để kiếm sống. Nhà lão chẳng có ai, vợ lão mất từ lâu còn con trai bỏ đi miền Nam để làm đồn điền cao su. Sau một trận bão táp, hoa màu của lão mất trắng. Đã thế, lão còn bị ốm nặng nên lão quyết định bán Cậu Vàng – con chó của lão- đi. Sau khi bán chó, ông Lão qua lời kể của ông Giáo vô cùng đau đớn, ân hận vì đã giết nó, đã lừa nó. Bán chó đi, ông lão chẳng dám ăn gì, chỉ ăn khoai lang, rau má. Lão sang nhà ông Giáo gửi toàn bộ số tiền để dành cùng mảnh vườn cho con trai vì ông lão tin tưởng người hàng xóm của mình sẽ thực hiện điều đó. Được vài hôm sau khi đã gửi lại tài sản cho người đáng tin cậy, lão Hạc tự vẫn bằng bả chó. Cái chết của lão không ai hiểu được, ngoài những người hàng xóm thấu hiểu hoàn cảnh đau thương của ông.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 4

Lão Hạc là một người nông dân nghèo, vợ mất sớm, chỉ có một mảnh vườn và người con trai. Vì không có tiền cưới vợ, con trai lão Hạc sinh phẫn chí đi lên đồn điền cao su với lời thề khi nào kiếm được bạc trăm mới trở về. Từ đó, lão Hạc sống thui thủi một mình với con chó Vàng làm bạn, bòn vườn sống qua ngày. Sau trận ốm dai dẳng, lão không còn sức đi làm thuê được nữa. Rồi lại bão mất mùa, lão rơi vào hoàn cảnh khó khăn, cơ cực bội phần. Vì muốn giữ lại mảnh vườn cho con trai về có cái sinh sống, Lão Hạc dằn vặt lương tâm mình khi quyết định bán đi con chó Vàng. Lão nhờ ông giáo trông hộ mảnh vườn cho con trai và gửi tiền làm ma để không phiền hàng xóm. Lão Hạc xin ít bã chó của Binh Tư. Biết được chuyện này, ông giáo rất buồn vì nghĩ rằng con người như lão Hạc chỉ vì cái nghèo đói mà cũng bị tha hoá. Rồi lão chết đột ngột, dữ dội và đau đớn. Không ai biết vì sao lão chết trừ Ông Giáo và Binh Tư.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 5

Lão Hạc là một người nông dân nghèo, sống cô độc, chỉ có con chó Vàng làm bạn. Con trai lão vì nghèo không lấy được vợ, đã phẫn chí bỏ làng đi làm ăn xa. Lão Hạc ở nhà chờ con về, làm ăn thuê để kiếm sống. Sau một trận ốm dai dẳng, lão không còn sức đi làm thuê nữa. Không còn đường sinh sống, lão Hạc lặng lẽ đi đến một quyết định quan trọng. Lão bán con chó Vàng mà lão rất mực yêu thương, mang hết số tiền dành dụm được và cả mảnh vườn gửi cho ông Giáo trông coi hộ. Lão chịu đói, chỉ ăn khoai và sau đó “lão chế tạo được món gì, ăn món nấy”. Ông Giáo ngấm ngầm giúp đỡ nhưng lão tìm cách từ chối. Một hôm lão xin Binh Tư ít bả chó, nói để đánh bả chó làm thịt và rủ Binh Tư uống rượu. Ông Giáo rất buồn khi nghe Binh Tư kể chuyện ấy. Lão Hạc bỗng nhiên chết – một cái chết thật dữ dội. Cả làng không ai hiểu vì sao lão chết, chỉ có Binh Tư và ông Giáo hiểu lão ăn bả chó để tử tự.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 6

Lão Hạc có một hoàn cảnh gia đình bất hạnh: Vợ lão mất sớm, còn một người con trai thì anh ta vì phẫn chí mà bỏ đi cao su. Lão Hạc còn lại một mình với một mảnh vườn và một con chó vàng. Con chó ấy là của anh con trai để lại, lão cưng chiều nó như con, luôn miệng gọi “cậu Vàng”. Nhưng cuộc sống khốn khó, lão bán chó để dành mảnh vườn cho con dù vô cùng đau khổ, dằn vặt. Lão mang tiền dành dụm được gửi ông giáo và nhờ ông trông coi mảnh vườn. Không muốn phiền đến mọi người, lão từ chối hết thảy sự giúp đỡ của ông giáo. Một hôm, lão xin Binh Tư một ít bả chó nói là muốn bẩy một con chó lạc. Ông giáo rất thất vọng khi nghe chuyện ấy. Nhưng rồi lão Hạc bỗng nhiên chết – cái chết thật dữ dội, đau đớn. Ông giáo hiểu ra tất cả, vô cùng đau đớn nghĩ về cái chết của lão Hạc và chiêm nghiệm về cuộc đời.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 7

Lão Hạc là một nông dân nghèo, sống cô độc. Con trai vì không có tiền lấy vợ nên bỏ đi làm ở đồn điền cao su, chỉ để lại cho lão một con chó làm bạn. Sau một lần ốm nặng, lão yếu đi ghê lắm, không đủ sức để đi làm thuê nữa. Cùng đường lão phải quyết định bán con chó vàng mà lão hết lòng yêu thương. Rồi lão mang tiền dành dụm được và cả mảnh vườn của mình đem sang gửi cho ông Giáo. Ít lâu sau lão sang nhà Binh Tư xin bả chó. Khi nghe Binh Tư kể về chuyện lão Hạc sang xin bả chó, ông Giáo đã rất thất vọng. Nhưng ngay sau đó, khi nhìn thấy lão Hạc chết một cách đau đớn và dữ dội thì ông giáo đã hiểu ra mọi chuyện. Còn về cái chết của lão Hạc chỉ có Binh Tư và ông Giáo hiểu rõ.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 8

Lão Hạc là 1 người nông dân nghèo, sống cô độc, chỉ có 1 con chó mà lão gọi là cậu Vàng để làm bạn. Con trai lão do không có tiền lấy vợ nên bỏ đi làm ở đồn điền cao su. Lão phải đi làm thuê làm mướn để kiếm sống. Sau 1 trận ốm dai dẳng lão không còn đủ sức để đi làm thuê. Cùng đường, Lão phải bán con chó mà lão rất mực yêu thương. Rồi Lão mang số tiền dành dụm được và mảnh vườn sang gửi ông Giáo. Sau đó mấy hôm liên lão chỉ ăn khoai, sung luộc, rau má. Một hôm lão sao nhà Binh tư xin ít bả chó nói là đánh bả con chó nhà nào đó để giết thịt nhưng thực ra lão dùng bả chó để kết liễu đời mình. Cái chết của lão rất dữ dội, chẳng ai hiểu vì sao lão chết trừ ông Giáo và Binh Tư.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 9

Lão Hạc là 1 người nông dân nghèo. Vợ lão mất sớm để lại 1 đứa con trai và mảnh vườn nhỏ cùng con chó Vàng. Con trai lão lớn lên không có tiền cưới vợ bèn đi đồn điền cao su. Chỉ còn cậu Vàng với lão nên lão dành hết tình thương nhớ con vào cậu. Nhưng thật đáng thương vì lão phải bán cậu vàng đi rồi đem số tiền dành dụm cho con mình sang gửi Ông Giáo – 1 người bạn hàng xóm thân của lão. Rồi sau đó lão sang nhà Binh Tư xin 1 ít bả chó. Khi nghe Binh Tư kể lại chuyện đó thì ông Giáo rất buồn và nghĩ ngợi tại sao 1 người như lão Hạc lại như vậy. Nhưng sau đó lão Hạc lại chết, chết một cách rất đau đớn. Chỉ có Binh Tư và ông Giáo mới hiểu rõ cái chết của lão.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 10

Lão Hạc là một người nông dân nghèo khổ, sống bằng nghề làm vườn. Vợ ông lão mất sớm, ông lão vì không lo được tiền cho con trai cưới vợ nên người con trai của ông đã bỏ đi đồn điền cao su. Lão Hạc chỉ có một người bạn thân nhất đó chính là Cậu Vàng – tên con chó lão nuôi được lão quý như người bạn. Trước hoàn cảnh khốn cùng là mảnh vườn của lão bao nhiêu hoa màu đều bị mất trắng, lão sau một trận ốm cũng không thể đi làm thuê được nên lão Hạc đánh bán Cậu Vàng đi. Lão ân hận và đau đớn vô cùng khi kể lại chuyện đó cho ông Giáo – người hàng xóm của lão. Lão thấy bản thân mình thật nhẫn tâm khi đã lừa một con chó, bởi bây giờ lão không có tiền để nuôi bản thân, huống hồ là nuôi một con chó to khỏe. Lão không muốn mình tiêu đến tiền đã để dành cho con trai nên mấy ngày hôm sau, lão đã sang nhà Binh tư xin ít bả chó để tự kết liễu cuộc đời mình.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 11

Truyện ngắn Lão Hạc của nhà văn Nam Cao kể về ông lão nghèo khổ sống cùng con chó mà ông yêu quý tên là Cậu Vàng. Ông góa vợ từ lâu, còn con trai vì túng quẫn do không đủ tiền cưới vợ nên đã bỏ đi làm đồn điền cao su ở miền Nam. Sau một trận ốm, ông lão chẳng còn sức đi làm thuê nên ông đành đưa ra một quyết định đau đớn đó là bán con vật mà ông yêu quý nhất, cũng là người bạn hằng ngày ở bên ông. Nhìn con chó bị người ta đánh bả chết, ông lão đau xót lắm. Ông mong cho nó chết đi sẽ được hóa kiếp làm người cho sung sướng, nhưng lại thấy kiếp làm người của mình cũng khổ quá. Vài ngày sau, ông đi xin ít bả chó nhà hàng xóm và bảo rằng xin để cho nhà nào đánh bả làm thịt. Ngờ đâu, bả chó ông xin là để cho ông, ông tự kết thúc đời mình ở đó để không trở thành gánh nặng cho người khác. Trước khi chết, ông đã dành dụm tiền lo tang ma cho chính mình và đem số tiền còn lại cùng mảnh vườn sang gửi nhờ ông Giáo để sau này ông Giáo sẽ gửi cho con trai lão.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 12

Lão Hạc có một người con trai, một mảnh vườn và một con chó vàng. Con trai lão đi phu đồn điền cao su, lão chỉ còn lại cậu Vàng. Vì muốn giữ lại mảnh vườn cho con, lão đành phải bán con chó, mặc dù hết sức buồn bã và đau xót. Lão mang tất cả tiền dành dụm được gửi ông giáo và nhờ trông coi mảnh vườn. Cuộc sống mỗi ngày một khó khăn, lão kiếm được gì ăn nấy và từ chối cả những gì ông giáo giúp. Một hôm lão xin Binh Tư ít bả chó, nói là để giết con chó hay đến vườn, làm thịt và rủ Binh Tư cùng uống rượu. Ông giáo rất buồn khi nghe Binh Tư kể chuyện ấy. Nhưng rồi lão bỗng nhiên chết- cái chết thật dữ dội. Cả làng không hiểu vì sao lão chết, chỉ có Binh Tư và ông giáo hiểu.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 13

Lão Hạc là một lão nông cùng khổ, thật thà và giàu lòng tự trọng. Vợ lão mất sớm, con trai lão vì không đủ tiền cưới vợ, quẫn chí đã bỏ đi làm phu đồn điền chưa biết ngày nào sẽ về. Lão chỉ còn cậu Vàng- con chó con trai lão để lại trước khi đi bầu bạn những ngày tuổi già. Cuộc sống ngày càng khốn khó khiến lão vô cùng vất vả nhưng lão quyết giữ lấy mảnh vườn cho con trai lão. Sau trận ốm thập tử nhất sinh, lão trở nên kiệt quệ, túng quẫn và quyết định bán cậu Vàng đi rồi đem gửi tiền và mảnh vườn cho ông giáo giữ hộ. Lão âm thầm xin Binh Tư một ít bã chó (thuốc độc) rồi tự kết thúc đời mình bằng một cái chết thật dữ dội và khủng khiếp.Không ai hiểu nguyên nhân cái chết của lão Hạc trừ ông Giáo và Binh Tư.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 14

Truyện ngắn Lão Hạc do nhà văn Nam Cao viết, phản ánh hiện thực nước ta trong khoảng thời gian trước cách mạng tháng Tám. Câu chuyện kể về cuộc đời đầy khó khăn và bế tắc của một người nông dân hiền lành chân chất, tốt bụng, tự trọng và thương con mà mọi người thường gọi là Lão Hạc. Vợ Lão mất sớm, con trai Lão vì gia cảnh không đủ cho thách cưới của nhà gái mà không lấy được vợ đã bỏ đi làm đồn điền cao su nhiều năm không về. Lão sống cùng cậu Vàng, con chó mà con trai Lão mua về. Lão xem cậu Vàng như người bầu bạn và yêu thương thế nhưng sau một trận ốm nặng Lão đành đi đến quyết định bán chó. Sau khi bán chó xong Lão gửi số tiền bán được cộng với tiền dành dụm trước đó cùng với mảnh vườn cho ông Giáo một người hàng xóm của Lão. Những ngày sau đó Lão chỉ ăn khoai, hết khoai thì chế được cái gì sẽ ăn cái đó. Cuộc sống khó khăn nhưng Lão vẫn không nhận sự giúp đỡ của ông Giáo. Một ngày Lão xin Binh Tư ít bả chó nói để bẫy con chó lạc sau vườn , Binh Tư kể với ông Giáo chuyện đó. Sau khi biết tin ông Giáo rất thất vọng và về nhà được một lúc lâu thì ông Giáo lại hay Lão chết, cái chết đột ngột và đau đớn, chẳng ai hiểu chuyện gì xảy ra có lẽ chỉ ông Giáo và Binh Tư mới hiểu được.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 15

Lão Hạc vốn là người nông dân nghèo trong xã hội cũ, hiền lành và chân thật. Lão chỉ sống một mình vì con trai lão đã đi làm ăn xa không biết khi nào trở về. Ông chỉ có con chó Vàng làm bạn thân thiết cùng nhau sống qua ngày. Ai thuê gì lão làm cái đó nhưng sau một trận ốm, lão mất sức không còn làm thuê được nữa. Khi đến đường cùng lão Hạc quyết định trong đau đớn đó là bán con chó Vàng người bạn thân thiết mà lão vô cùng yêu quý như người thân. Lão lấy tiền. đất đai đưa hết cho ông Giáo trông hộ. Lão ăn đói mặc rét vô cùng khổ cực và đụng gì ăn nấy. Ông Giáo muốn ra tay giúp đỡ nhưng lão từ chối. Lão xin Binh Tư bả chó với cái cớ để đánh chó và uống rượu. Rồi một ngày Lão Hạc bỗng nhiên chết cái chết trong đau đớn và cùng cực. Không ai rõ nguyên nhân vì sao lão chết, riêng Binh Tư và ông Giáo là những người hiểu rõ lão chết trong đau đớn cả thể xác lẫn tinh thần.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 16

Lão Hạc là một lão nông dân cùng khổ. Tuy vô cùng khó khăn vất vả nhưng lúc nào lão cũng hiền lành, thật thà và giàu lòng tự trọng. lão chưa bao giờ than vãn về hoàn cảnh của mình hay làm phiền một ai. Vợ lão mất sớm, con trai lão vì không có đủ tiền cưới vợ, quẫn trí, nó bỏ đi làm phu đồn điền. Điều đó khiến lão buồn lắm. Lão chỉ có mình nó, giờ nó bỏ đi, sống chết chưa biết thế nào. Ngày ngày, lão thui thủi một mình. Nhiều lúc, lão tâm sự với cậu vàng, con chó của con trai lão mua nuôi định khi cưới vợ sẽ giết thịt. Cuộc sống ngày càng khó khăn, ốm đau bệnh tật đẩy lão Hạc vào bước đường cùng. Dù khó khăn hay đau ốm thế nào thì lão vẫn kiên quyết giữ mảnh vườn cho con trai. Sau trận ốm nặng, lão trở nên kiệt quệ, túng quẫn, khốn khó nên lão đành bán đi cậu Vàng và đem số tiền và mảnh vườn gửi cho ông giáo. Lão âm thầm xin Binh Tư một ít bả chó rồi tự kết liễu mình bằng số bả chó ấy. Cái chết của lão thật khủng khiếp và đầy đau đớn. Không ai biết được nguyên nhân cái chết đau đớn của lão ngoại trừ ông giáo và Binh Tư.

Advertisement

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 17

Lão Hạc là một nông dân nghèo. Gia tài của lão chỉ có mảnh vườn. Vợ lão mất từ lâu. Con trai lão không đủ tiền cưới vợ đã phẫn chí bỏ đi đồn điền cao su để lại cho lão con chó Vàng làm bạn.

Ở quê nhà, cuộc sống ngày càng khó khăn. Lão Hạc bị một trận ốm khủng khiếp, sau đó không kiếm ra việc làm, lão phải bán con Vàng dù rất đau đớn. Tiền bán chó và số tiền dành dụm được lâu nay, lão gửi ông giáo nhờ lo việc ma chay khi lão nằm xuống. Lão còn nhờ ông giáo trông nom và giữ hộ mảnh vườn cho con trai sau này. Lão quyết không đụng đến một đồng nào trong số tiền dành dụm đó nên sống lay lắt bằng rau cỏ cho qua ngày. Một hôm, lão xin Binh Tư ít bả chó nói là để đánh bả con chó lạ hay sang vườn nhà mình. Mọi người, nhất là ông giáo đều rất buồn khi nghe chuyện này. Chỉ đến khi lão Hạc chết một cách đột ngột và dữ dội, ông giáo mới hiểu ra. Cả làng không ai hay vì sao lão chết chỉ trừ có ông giáo và Binh Tư.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 18

Lão Hạc là một người nông dân nghèo, sống cùng một con chó gọi là cậu Vàng. Lão có một người con trai nhưng vì nghèo không có tiền lấy vợ nên đã bỏ đi làm đồn điền cao su. Một mình lão phải tự lo liệu mưu sinh. Sau trận ốm thập tử nhất sinh, nhà lão không còn gì nữa, lão đành phải bán cậu Vàng – con chó mà lão hết mực thương yêu như con trai mình. Lão mang hết số tiền bán chó và dành dụm được từ việc bán mảnh vườn gửi nhờ ông Giáo. Mấy hôm sau lão kiếm được gì ăn nấy. Một hôm lão xin Binh Tư ít bả chó nói dối là đánh bả con chó hay sang vườn để giết thịt ăn nhưng thực ra là để tự tử. Cái chết của lão Hạc dữ dội, vật vã, chẳng ai hiểu vì sao lão chết ngoại trừ ông Giáo và Binh Tư.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 19

Lão Hạc là một người nông dân nghèo khổ. Lão có một người vợ nhưng mất sớm, lão gà trống nuôi con, nhưng vì nghèo không đủ tiền cưới vợ con trai lão đã quẫn trí bỏ nhà lên đồn điền cao su, trước khi đi con trai lão đã gửi gắm cho lão một con chó, lão yêu quý nó đặt tên cho nó là cậu Vàng. Một mình lão phải tự lo liệu mưu sinh. Sau trận ốm thập tử nhất sinh, nhà lão không còn gì nữa, lão đành phải bán cậu Vàng – con chó mà lão hết mực thương yêu như con trai mình. Lão mang hết số tiền bán chó và dành dụm được từ việc bán mảnh vườn gửi nhờ ông Giáo. Sau đó lão kiếm được gì thì ăn nấy. Rồi lão âm thầm xin Binh Tư một ít bả chó để tự kết liễu cuộc đời mình bằng số bả chó ấy. Cái chết của lão thật đau đớn và khủng khiếp. Không một ai biết được nguyên nhân cái chết đau đớn của lão ngoại trừ ông giáo và Binh Tư.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc chi tiết

Truyện kể về Lão Hạc, một người nông dân chất phác, hiền lành. Lão vốn gó vợ và có một đứa con trai nhưng vì quá nghèo nên không thể lo cho người con trai một cuộc sống hạnh phúc. Người con trai lão do quẫn trí đã đăng kí đi làm ở đồn điền cao su ở miền nam. Lão luôn trăn trở, suy nghĩ về tương lai của đứa con. Lão sống bằng nghề làm vườn, mảnh vườn mà vợ lão đã mất bao công sức để mua về và để lại cho con trai lão. Nhưng do một trận bão mà cả một sào hoa màu đã mất trắng. Lại bởi do một trận ốm nên bao nhiêu tiền bạc lão dành dụm đã mang ra dùng gần hết và vì lão cũng đã “tàn sức” rồi, người ta làm tranh hết việc của lão.Lão có một con chó tên là Vàng – một con chó mà lão vừa coi như con vừa coi như một người bạn trung thành. Nhưng vì cần tiền để lo cho con trai nên lão đã quyết định bán con chó đi. Lão đã rất dằn vặt bản thân mình khi mang một “tội lỗi” là đã nỡ tâm “lừa một con chó”.Lão tự dành tiền cho đám ma của chính mình để không làm phiền đến hàng xóm láng giềng. Lão không nhận bất kỳ sự giúp đỡ của bất kỳ ai. Lão đã chọn một cái chết bằng bả chó, một cái chết dữ dội và đau đớn. Lão làm thế là để trừng phạt bản thân mình đã làm cái việc dằn vặt, tội lỗi ấy và có thể lão đã được giải thoát sau bao tháng ngày cùng cực, đau khổ.Truyện được thể hiện qua lời kể của nhân vật tôi – một ông giáo và dường như đâu đó trong nhân vật này ta thấy hiện lời giọng kể của tác giả.

Cập nhật thông tin chi tiết về Tóm Tắt Một Số Tác Phẩm Văn Học Lớp 9 Tóm Tắt Tác Phẩm Văn Học Lớp 9 trên website Fsey.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!