Xu Hướng 3/2024 # Văn Mẫu Lớp 9: Tóm Tắt Truyện Lục Vân Tiên (5 Mẫu) Truyện Lục Vân Tiên Của Nguyễn Đình Chiểu # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Văn Mẫu Lớp 9: Tóm Tắt Truyện Lục Vân Tiên (5 Mẫu) Truyện Lục Vân Tiên Của Nguyễn Đình Chiểu được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Fsey.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Lục Vân Tiên quê ở huyện Đông Thành, khôi ngô tuấn tú, tài kiêm văn võ. Nghe tin triều đình mở khoa thi, Vân Tiên từ giã thầy xuống núi đua tài. Trên đường về nhà thăm cha mẹ, gặp bọn cướp Phong Lai đang hoành hành, bức hại dân lành chàng vô cùng tức giận. Tiên nghĩ rằng, kẻ cướp ỷ thế mạnh hiếp đáp kẻ lành, quả là bọn bất nhân, chàng liền ra tay cứu giúp. Không có vũ khí, chàng đã bẻ cây làm gậy, dũng mãnh xông vào giữa bọn cướp. Kẻ cướp hung bạo, thấy chàng càng thêm dữ tợn, quyết trừng trị cho bằng được. Nào ngờ, chúng bị chàng đánh cho một trận, kẻ tử nạn, người trọng thương, bỏ chạy tán loạn. Đánh tan bọn cướp, chàng còn ân cần hỏi han người gặp nạn, mới biết rằng đó là Kiều Nguyệt Nga, một cô gái đang trên đường cùng tỳ nữ trở về nhà thì gặp nạn. Nguyệt Nga cảm tạ ân công, muốn đền đáp xứng đáng nhưng Vân Tiên đều từ chối tất cả. Chàng cho rằng, đó là việc nghĩa, hành động phải làm của người quân tử, không cần phải báo đáp. Cảm ân đức ấy, lại thêm mến phục khí tiết trọng nghĩa khinh tài của Lục Vân Vân Tiên, Nguyệt Nga tự nguyện gắn bó suốt đời với Vân Tiên và tự tay vẽ một bức hình chàng giữ luôn bên mình. Còn Vân Tiên tiếp tục cuộc hành trình.

Ở quận Đông Thành, có một chàng trai khôi ngô tuấn tú, văn võ toàn tài, tên là Lục Vân Tiên. Triều đình mở khoa thi, Vân Tiên từ giã thầy xuống núi để dự thi. Trên đường trở về nhà thăm mẹ, chàng một mình đánh tan bọn cướp do Phong Lai, cứu được Kiều Nguyệt Nga. Mến mộ tài đức, Kiều Nguyệt Nga nguyện gắn bó suốt đời với Vân Tiên. Từ biệt Nguyệt Nga, chàng tiếp tục hành trình, gặp gỡ và kết bạn với Hớn Minh – một sĩ tử khác. Trên đường đi thi, Vân Tiên nghe tin mẹ mất thì bỏ thi trở về chịu tang. Dọc đường về chàng bị đau mắt nặng, rồi mù cả hai mắt lại bị kẻ xấu lừa đẩy xuống sông. Vân Tiên được gia đình Ngư ông cưu mang. Sau đó chàng lại bị cha con Võ Công hãm hại đem chàng vào rừng. Nhưng chàng may mắn gặp lại Hớn Minh. Kiều Nguyệt Nga vì nghe tin Lục Vân Tiên đã chết nên lập lời thề thủ tiết suốt đời. Bị kẻ giam hãm hại, nàng phải chạy trốn vào rừng, nương nhờ một bà lão dệt vải. Sau khi được tiên ông cho thuốc chữa sáng mắt, Lục Vân Tiên đi thi và đỗ Trạng Nguyên. Chàng được vua cử đi đánh giặc Ô Qua. Đánh tan quân giặc nhưng lại bị lạc vào rừng, tình cờ đến nhà bà lão bán vảo hỏi thăm đường thì gặp lại Kiều Nguyệt Nga. Sau khi về triều tâu hết sự tình, kẻ gian bị trừng trị, Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga được đoàn tụ.

Lục Vân Tiên là một chàng trai tài võ vẹn toàn. Một lần đi ngang qua xóm nhỏ, tiên gặp băng đảng trộm của giết người, chàng đánh cướp cứu được Kiều Nguyệt Nga – cô con gái nết na thùy mị của một quan tri huyện nhỏ. Nguyệt Nga đem lòng yêu chàng trai thông minh quả cảm này, tiếc thay nàng bị gả cho tên quan gian ác, không đành lòng và muốn giữ trọn tình yêu với Vân Tiên, nàng ôm tranh chàng gieo mình xuống sông tự vẫn.

Còn về Vân Tiên, sau một thời gian dùi mài kinh sử đem lều chõng đi thi, gặp bạn đường trong đó phải kể đến Trịnh Hâm tên này học chẳng ra sao còn mưu đồ gian ác. Mẹ Vân Tiên mất, chàng khóc thương đến mù mắt. Trịnh Hâm thừa cơ ra tay mưu hại chết Vân Tiên. May thay chàng được lão ngư cứu sống. Tai bay vạ gió, người vợ chàng đã hứa hôn phản bội chàng, cha hắn còn đem Vân Tiên vào thả vào rừng hòng mưu chàng bị thú dữ ăn thịt. Nhưng trời giúp người lành, cả Vân Tiên và nguyệt nga đều được bảo toàn tính mạng. Cuối cùng họ gặp được nhau và sống hạnh phúc mãi mãi.

Lục Vân Tiên là một chàng trai văn võ song toàn. Trên đường về quê thăm cha mẹ thì gặp bọn cướp Phong Lai đang hoành hành. Chàng một mình đánh tan bọn cướp, cứu được Kiều Nguyệt Nga. Cảm tạ ân đức ấy, Nguyệt Nga tự nguyện gắn bó suốt đời với Vân Tiên.

Trên đường đi thi, Vân Tiên nghe tin mẹ mất thì bỏ thi trở về chịu tang. Dọc đường về bị đau mắt nặng, rồi mù cả hai mắt lại bị kẻ xấu lừa đẩy xuống sông. Vân Tiên được gia đình Ngư ông cưu mang. Sau đó chàng lại bị cha con Võ Công hãm hại đem chàng vào rừng. Nhưng chàng may mắn gặp lại người bạn là Hớn Minh.

Nghe tin Lục Vân Tiên chết, Kiều Nguyệt Nga thề sẽ thủ tiết suốt đời. Nàng bị quan thái sư đương triều thù oán vì không chịu gả cho con trai của hắn. Quan thái sư tâu với vua bắt nàng đi cống giặc Ô Qua. Thuyền đi tới biên giới thì Kiều Nguyệt Nga nhảy xuống sông tự tử. Phật Bà Quan Âm đưa nàng vào vườn hoa nhà họ Bùi. Bùi Công nhận nàng làm con nuôi nhưng trớ trêu thay Bùi Kiệm lại đòi lấy nàng làm vợ. Nàng tìm cách trốn khỏi nhà họ Bùi.

Vân Tiên được tiên giúp đỡ cho thuốc, mắt sáng lại. Chàng thi đỗ Trạng nguyên vào khoa thi năm ấy, được cử đi đánh giặc. Lục Vân Tiên đánh thắng giặc, tình cờ gặp lại Kiều Nguyệt Nga. Hai người được sum vầy hạnh phúc.

Lục Vân Tiên quê ở quận Đông Thành, bề ngoài khôi ngô tuấn tú lại có tài văn võ. Khi nghe tin triều đình mở khoa thi, Vân Tiên liền từ giã thầy xuống núi để tranh tài. Trên đường trở về nhà thăm mẹ, chàng một mình đánh tan bọn cướp do Phong Lai cầm đầu, cứu được Kiều Nguyệt Nga. Mến mộ tài năng cũng như cảm tạ ân đức, Kiều Nguyệt Nga nguyện gắn bó suốt đời với Vân Tiên. Từ biệt Nguyệt Nga, chàng tiếp tục hành trình, gặp gỡ và kết bạn với Hớn Minh – một sĩ tử khác.

Kiều Nguyệt Nga vì nghe tin đồn Lục Vân Tiên đã chết nên lập lời thề thủ tiết suốt đời. Thái sư đương triều muốn hỏi nàng cho con trai không được, vô cùng tức giận liền tâu vua bắt Kiều Nguyệt Nga đi cống cho quân giặc Ô Qua. Thuyền đi tới biên giới, nàng liền ôm hình Vân Tiên rồi nhảy xuống sông tử tự. Phật Bà Quan Âm đưa nàng vào vườn hoa nhà họ Bùi. Bùi Công nhận nàng làm con nuôi nhưng trớ trêu thay Bùi Kiệm lại đòi lấy nàng làm vợ. Nàng liền tìm cách trốn khỏi nhà họ Bùi.

Lục Vân Tiên được tiên cho thuốc, mắt sáng trở lại rồi trở về nhà thăm cha, đến viếng mộ mẹ và thăm cha Kiều Nguyệt Nga. Khoa thi năm ấy, chàng dự thi và đỗ Trạng nguyên, được cử đi dẹp giặc Ô Qua. Đánh tan quân giặc, nhưng Lục Vân Tiên lạc vào rừng và gặp lại Kiều Nguyệt Nga. Chàng về triều tâu lại sự tình với vua. Kẻ gian bị trừng trị, người nhân nghĩa được đền đáp. Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga được đoàn tụ.

Đoạn Trích Lục Vân Tiên Cứu Kiều Nguyệt Nga Trích Truyện Lục Vân Tiên

Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga

Tài liệu sẽ giới thiệu về tác giả Nguyễn Đình Chiểu, cũng như nội dung đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga. Mời tham khảo nội dung chi tiết ngay bên dưới.

– Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), tục gọi là Đồ Chiểu, sinh tại quê mẹ ở làng Tân Thới, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh), quê cha ở xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

– Ông thi đỗ tú tài năm 21 tuổi (1843), nhưng 6 năm sau (1849) ông bị mù.

– Sau đó, ông về Gia Định dạy học và bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân.

– Trong giai đoạn thực dân Pháp xâm lược Nam Kỳ, ông tích cực tham gia phong trào kháng chiến cùng các vị lãnh tụ như bàn bạc việc đánh giặc hay sáng tác văn học để khích lệ tinh thần nhân dân. – Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ lớn của dân tộc. Khi Nam Kỳ bị giặc chiếm, ông về sống ở Ba Tri (Bến Tre).

– Các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu chủ yếu truyền bá đạo lý làm người và cổ vũ tinh thần yêu nước.

– Một số tác phẩm nổi tiếng: Truyện Lục Vân Tiên, Dương Từ – Hà Mậu, Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Thơ điếu Trương Định…

– “Truyện Lục Vân Tiên” được sáng tác vào khoảng đầu những năm năm mươi của thế kỉ XIX.

– Truyện được lưu truyền rộng rãi dưới hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian như “kể thơ”, “nói thơ Vân Tiên”, “hát Vân Tiên” ở Nam Kì và Nam Trung Kì.

– Truyện thơ Nôm.

– Có nhiều văn bản khác nhau, có khi thêm bớt cả trăm câu thơ nhưng văn bản thường dùng hiện nay có 2082 câu thơ.

Đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” nằm ở phần đầu của truyện.

a. Truyện Lục Vân Tiên

Ở quận Đông Thành, có một chàng trai khôi ngô tuấn tú, văn võ toàn tài, tên là Lục Vân Tiên. Triều đình mở khoa thi, Vân Tiên từ giã thầy xuống núi để dự thi. Trên đường trở về nhà thăm mẹ, chàng một mình đánh tan bọn cướp do Phong Lai, cứu được Kiều Nguyệt Nga. Mến mộ tài đức, Kiều Nguyệt Nga nguyện gắn bó suốt đời với Vân Tiên. Từ biệt Nguyệt Nga, chàng tiếp tục hành trình, gặp gỡ và kết bạn với Hớn Minh – một sĩ tử khác. Trên đường đi thi, Vân Tiên nghe tin mẹ mất thì bỏ thi trở về chịu tang. Dọc đường về chàng bị đau mắt nặng, rồi mù cả hai mắt lại bị kẻ xấu lừa đẩy xuống sông. Vân Tiên được gia đình Ngư ông cưu mang. Sau đó chàng lại bị cha con Võ Công hãm hại đem chàng vào rừng. Nhưng chàng may mắn gặp lại Hớn Minh. Kiều Nguyệt Nga vì nghe tin Lục Vân Tiên đã chết nên lập lời thề thủ tiết suốt đời. Bị kẻ giam hãm hại, nàng phải chạy trốn vào rừng, nương nhờ một bà lão dệt vải. Sau khi được tiên ông cho thuốc chữa sáng mắt, Lục Vân Tiên đi thi và đỗ Trạng Nguyên. Chàng được vua cử đi đánh giặc Ô Qua. Đánh tan quân giặc nhưng lại bị lạc vào rừng, tình cờ đến nhà bà lão bán vảo hỏi thăm đường thì gặp lại Kiều Nguyệt Nga. Sau khi về triều tâu hết sự tình, kẻ gian bị trừng trị, Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga được đoàn tụ.

b. Tóm tắt đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga

Ở quận Đông Thành, có một chàng trai khôi ngô tuấn tú, văn võ toàn tài, tên là Lục Vân Tiên. Triều đình mở khoa thi, Vân Tiên từ giã thầy xuống núi để dự thi. Trên đường trở về nhà thăm mẹ, chàng một mình đánh tan bọn cướp do Phong Lai, cứu được Kiều Nguyệt Nga. Mến mộ tài đức, Kiều Nguyệt Nga nguyện gắn bó suốt đời với Vân Tiên.

Gồm 2 phần:

Phần 1: Từ đầu đến “Bị Tiên một gậy thác rày thân vong”. Lục Vân Tiên đánh bọn cướp.

Phần 2. Còn lại. Lục Vân Tiên cứu được Kiều Nguyệt Nga và cuộc trò chuyện của cả hai.

– Nội dung: Đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” đã thể hiện khát vọng hành đạo giúp đời của tác giả và khắc họa những phẩm chất tốt đẹp của hai nhân vật: Lục Vân Tiên tài ba dũng cảm, trọng nghĩa khí; Kiều Nguyệt Nga hiền hậu nết na, ân tình.

– Nghệ thuật: Vận dụng thể thơ dân gian, ngôn ngữ đối thoại độc đáo…

(1) Mở bài

Giới thiệu về tác giả Nguyễn Đình Chiểu, tác phẩm Lục Vân Tiên và đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga.

(2) Thân bài

a. Lục Vân Tiên đánh bại bọn cướp

– Tình huống: Kiều Nguyệt Nga trên đường bị bọn cướp chặn xe, Lục Vân Tiên tình cờ đi qua thấy vậy liền đến cứu giúp.

– Hành động của Lục Vân Tiên:

“Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô”: sự nhanh trí, gan dạ của Lục Vân Tiên.

Kêu rằng: “Bớ đảng hung đồ/Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân” – bản lĩnh của một người quân tử, trước khi ra tay chàng đã nêu rõ lý do là vì chính nghĩa, không phải là hành vi đánh lén.

Trận đánh diễn ra cay cấn: “bốn phía phủ vây bịt bùng” vô cùng nguy hiểm đối với Lục Vân Tiên.

Nhưng chàng vẫn “tả xung hữu đột” chẳng khác nào Triệu Tử phá vòng Dương Dang.

– Kết quả: bốn phía vỡ tan, quang gươm giáo tìm đường chạy, thủ lĩnh Phong Lai không kịp trở tay bị Lục Vân Tiên tiêu diệt.

b. Lục Vân Tiên gặp và trò chuyện với Kiều Nguyệt Nga

– Khi nghe tiếng khóc ở trong xe, Lục Vân Tiên hỏi: “Ai than khóc ở trong xe này?”

Advertisement

– Người bên trong trả lời rõ sự tình: “Tôi thiệt người ngay/Sa cơ nên mới lầm tay hung đồ”.

– Lục Vân Tiên ngăn không cho hai cô gái ra ngoài: “Khoan khoan ngồi đó chớ ra/Nàng là phận gái ta là phận trai”: giữ đúng chuẩn mực đạo đức, nam nữ thụ thụ bất thân.

– Lục Vân Tiên hỏi thăm tên tuổi, xuất thân và lý do vì sao gặp nạn trên đường.

– Sau khi nghe lời lẽ của Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga biết người cứu mình là một nam tử hán, liền kể rõ sự tình: Nàng cùng với tì tất tên là Kim Liên, quê ở quận Tây Xuyên, cha là tri phủ miền Hà Khê nhận được bức thư của cha đến đó để định việc hôn nhân.

– Kiều Nguyệt Nga còn bộc lộ mong muốn Lục Vân Tiên đi cùng mình đến gặp cha để đền tạ công ơn.

– Lục Vân Tiên nghe vậy liền cười và từ chối: “Làm ơn há dễ trông người trả ơn…/Làm người thế ấy cũng phi anh hùng”.

(3). Kết bài

Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga.

Văn Mẫu Lớp 10: Tóm Tắt Truyện Chuyện Chức Phán Sự Đền Tản Viên (16 Mẫu) Tóm Tắt Tản Viên Từ Phán Sự Lục

Chuyện chức phán sự đền Tản Viên đề cao tinh thần khảng khái, cương trực, dám đấu tranh chống lại cái ác trừ hại cho dân của Ngô Tử Văn, một người trí thức nước Việt. Đồng thời thể hiện niềm tin vào công lý, chính nghĩa. Tác phẩm Tản Viên từ Phán sự lục sẽ được học trong chương trình Ngữ văn 10 sách Kết nối tri thức với cuộc sống.

Truyện kể về nhân vật Ngô Tử Văn vốn là một kẻ sĩ khảng khái, chính trực. Trong làng có một ngôi đền thiêng. Từ khi có một tên tướng giặc nhà Minh tử trận ở gần đền, hồn của hắn tác quái. Tức giận, chàng châm lửa đốt để trừ hại cho dân. Sau khi đốt đền, Tử Văn lên cơn sốt mê man, chàng thấy tên hung thần đòi trả đền và đe dọa bắt chàng xuống âm phủ. Thổ thần bày tỏ thái độ cảm phục trước hành động dũng cảm của Tử Văn, mách chàng về tung tích, tội ác tên hung thần và cách đối phó. Đến đêm, khi bệnh nặng thêm, Tử Văn thấy hai tên quỷ đến bắt chàng xuống âm phủ. Trước Diêm Vương, Tử Văn đã tố cáo tội ác của tên hung thần để hắn bị trừng trị. Thổ thần được phục chức, lính đưa Tử Văn về trần gian. Sau đó, Thổ thần tiến cử Tử Văn giữ chức phán sự đền Tản Viên để tạ ơn.

Ngô Tử Văn người đất Lạng Giang, vốn khẳng khoái, nóng nảy, thấy sự gian tà thì không chịu được. Cuối đời Hồ, có tên giặc tử trận vào đền Tản Viên rồi tác yêu tác quái trong dân gian. Tử Văn tức giận bèn châm lửa đốt đền. Về nhà, chàng lên cơn sốt rồi mơ thấy tên giặc kia đến dọa nhưng mặc kệ, cứ ngồi thản nhiên. Chiều tối lại có ông già đến, tự xưng là Thổ Công. Ông già kể cho Tử Văn rõ mọi sự tình rồi bày cho chàng cách ứng xử khi bị bắt xuống âm phủ. Tử Văn bị quỷ sứ bắt đi. Trước mặt Diêm Vương tâu rõ đầu đuôi sự việc, lời lẽ rất cứng cỏi, không chịu nhún nhường chút nào. Diêm Vương sinh nghi bèn cho người đến đền Tản Viên để lấy chứng thực. Quân lính về tâu, nhất nhất đúng lời Tử Văn. Diêm Vương tức giận liền sai tên lính đầy tên giặc giả danh kia xuống ngục Cửu U. Tử Văn sống lại, cùng dân làng mua gỗ dựng lại tòa đền. Viên Thổ Công cảm kích bèn mời Tử Văn về làm Phán sự cho Đức Thánh Tản ở đền Tản Viên. Tử Văn nghe nói, vui vẻ nhận lời, bèn thu xếp việc nhà rồi không bệnh mà mất ngay sau đó. Đền thờ Thánh Tản Viên.

Ngô Tử Văn tên Soạn, người huyện Yên Dũng đất Lạng Giang, tính tình vốn cương trực, khảng khái, nóng nảy, thấy sự tà gian thì không thể chịu được. Trong làng có một ngôi đền thiêng vốn thuộc quyền cai quản của Thổ công đất này nhưng bị tên tưởng bại trận của Bắc triều chiếm lấy. Hồn ma của hắn tác oai tác quái trong nhân dân. Tử Văn tức giận, bèn đi đốt đèn. Bị hồn ma đến tượng giặc giả mạo Thổ công tới đe dọa nhưng Tử Văn không mảy may sợ hãi. Vì sự gian tà của hồn ma tên tướng giặc, Tử Văn bị quỷ sứ bắt xuống Minh ti và tra hỏi. Nhưng với bản lĩnh cứng cỏi, luôn đứng về công lý và nhân dân lương thiện, cùng với sự giúp đỡ của Thổ công, Tử Văn đã khiến cho hồn ma tên tướng giặc bị trừng trị thích đáng. Tử Văn được Diêm vương cho sống lại. Thổ công vì cảm kích bản lĩnh, trí tuệ, phẩm chất của Ngô Tử Văn mà mời Tử Văn đến nhận chức phán sự đền Tản Viên. Tử Văn vui vẻ nhận lời, sau đó không bệnh mà mất . Có người thấy Tử Văn ngồi trên xe ngựa lẫn trong làn sương mù chỉ chắp tay thi lễ, không nói lời nào rồi thoắt cái cưỡi gió mà biến mất.

Ngô Tử Văn tên Soạn, người huyện Yên Dũng đất Lạng Giang, tính tình vốn cương trực, khảng khái, nóng nảy, thấy sự tà gian thì không thể làm ngơ. Trong làng có một ngôi đền thiêng vốn là do Thổ công cai quản nhưng lại bị một tên hồn ma tướng giặc cướp mất. Hắn làm điều gian ác tai ngược trong cuộc sống của nhân dân. Không cam chịu cảnh đó, Tử Văn quyết định đốt đền. Tên hồn ma tướng giặc giả làm thổ công tới đe dọa Tử Văn nhưng Tử Văn không sợ. Vì sự gian ác của hồn ma tên tướng giặc, Tử Văn bị bắt xuống Minh ti và bị tra khảo. Dưới Minh ti, Tử Văn vẫn cứng cỏi, kiên quyết đứng về phía công lý và lẽ phải cùng người dân lương thiện. Được Thổ công giúp đỡ, Tử Văn thắng cuộc trong cuộc xử kiện ở Minh ti. Diêm Vương cho Tử Văn được sống lại. Thổ công vì cảm kích bản lĩnh và khí chất khảng khái của Tử Văn nên mời Tử Văn tới nhận chức phán sự đền Tản Viên. Tử Văn vui vẻ nhận lời, sau đó không bệnh mà chết. Có người thấy Tử Văn ngồi trên xe ngựa lẫn trong làn sương mù chỉ chắp tay thi lễ, không nói lời nào rồi thoắt cái cưỡi gió mà biến mất.

Ngô Tử Văn, một kẻ sĩ nổi tiếng khẳng khái, chính trực vốn không chịu được sự tác yêu quái của hồn một tên tướng bại trận nên đã đốt đền của hắn, trừ hại cho dân. Tên hung thần đe dọa Tử Văn và kiện chàng ở âm phủ. Tử Văn được thổ thần mách bảo về tung tích và tội ác của tên tướng giặc, đồng thời bày cho chàng cách đối phó với hắn. Tử Văn bị bắt giải xuống âm phủ. Đứng trước Diêm Vương, chàng đã không hề run sợ mà dũng cảm vạch trần mọi tội ác của tên hung thần. Có bằng chứng của thổ thần, mọi lời nói của Tử Văn được minh xác là sự thật. Cuối cùng công lý được thực thi: tên tướng giặc và bọn phán sự vô trách nhiệm bị trừng trị, thổ thần được phục chức, Tử Văn được sống lại. Tiếp sau đó nhờ thổ thần tiến cử Tử Văn được nhận chức phán sự đền Tản Viên chuyên trông coi việc xử án.

Ngô Tử Văn người đất Lạng Giang, vốn khẳng khái, nóng nảy, thấy sự gian tà thì không chịu được. Cuối đời Hồ, có tên giặc tử trận vào đền Tản Viên rồi tác yêu tác quái trong dân gian. Tử Văn tức giận bèn châm lửa đốt đền. Về nhà, chàng lên cơn sốt rồi mơ thấy tên giặc kia đến dọa nhưng mặc kệ, cứ ngồi thản nhiên. Chiều tối lại có ông già đến, tự xưng là Thổ Công. Ông già kể cho Tử Văn rõ mọi sự tình rồi bày cho chàng cách ứng xử khi bị bắt xuống âm phủ. Tử Văn bị quỷ sứ bắt đi. Trước mặt Diêm Vương tâu rõ đầu đuôi sự việc, lời lẽ rất cứng cỏi, không chịu nhún nhường chút nào. Diêm Vương sinh nghi bèn cho người đến đền Tản Viên để lấy chứng thực. Quân lính về tâu, nhất nhất đúng lời Tử Văn. Diêm Vương tức giận liền sai tên lính đầy tên giặc giả danh kia xuống ngục Cửu U. Tử Văn sống lại, cùng dân làng mua gỗ dựng lại tòa đền. Viên Thổ Công cảm kích bèn mời Tử Văn về làm Phán sự cho Đức Thánh Tản ở đền Tản Viên. Tử Văn nghe nói, vui vẻ nhận lời, bèn thu xếp việc nhà rồi không bệnh mà mất ngay sau đó.

Ngô Tử Văn vốn là một kẻ sĩ khảng khái, chính trực. Trong làng nơi chàng ở có một ngôi đền vốn rất thiêng. Nhưng từ khi có một tên tướng giặc nhà Minh tử trận ở gần đền, hồn của hắn bắt đầu làm yêu làm quái trong dân gian. Tức giận, Tử Văn châm lửa đốt đền để trừ hại cho dân. Sau khi đốt đền, Tử Văn bắt đầu lên cơn sốt. Trong khi sốt mê man, chàng thấy tên hung thần đến đòi làm trả lại ngôi đền và đe dọa sẽ bắt Tử Văn xuống âm phủ để cho Diêm Vương trị tội. Nhưng đến chiều tối, Thổ thần đến bày tỏ thái độ cảm phục trước hành động dũng cảm của Tử Văn. Chàng được Thổ thần mách bảo về tung tích và tội ác của tên hung thần, đồng thời chỉ dẫn cách đối phó. Đến đêm, khi bệnh nặng thêm, Tử Văn thấy hai tên quỷ sứ đến bắt chàng xuống âm phủ. Trước mặt Diêm Vương, Tử Văn đã tố cáo tội ác của tên hung thần với đầy đủ chứng cứ. Cuối cùng, công lý được khôi phục, Diêm Vương trừng trị tên hung thần (đem nhốt vào ngục Cửu U), cho Thổ thần được phục chức, sai lính đưa Tử Văn về trần gian (nghĩa là Tử Văn được sống lại). Một tháng sau, Tử Văn thấy Thổ thần đến cảm ơn. Để đền ơn nghĩa, Thổ thần đã tiến cử Tử Văn giữ chức phán sự đền Tản Viên.

Ngô Tử Văn tên tục là Soạn, người Yên Dũng, Lạng Giang, tính tình khảng khái, nóng nảy, thấy sự gian tà thì không thể chịu được. Cuối đời Hồ, có hồn ma tên tướng giặc tử trận ở đền Tản Viên rồi tác yêu tác quái trong dân gian. Tử Văn nghe tin tức giận bèn tắm rửa sạch sẽ, khấn trời rồi châm lửa đốt đền. Sau khi đốt đền, chàng lên cơn sốt rồi mơ thấy hồn ma tên tướng giặc đến mắng mỏ, đe dọa và kiện dưới âm phủ nhưng Tử Văn vẫn thản nhiên và không hề run sợ. Chiều tối lại có ông già đến, tự xưng là Thổ Công. Thổ Công kể cho Tử Văn rõ mọi sự tình rồi bày cho chàng cách ứng xử khi bị bắt xuống âm phủ. Đêm xuống, Tử Văn bị hai tên quỷ sứ bắt xuống âm phủ. Khi đối chất với Diêm Vương, Tử Văn điềm nhiên, cứng cỏi, một mực kêu oan. Hồn ma tên tướng giặc tỏ vẻ khúm núm, rộng lượng, xảo trá xin tha tội cho Tử Văn. Cuối cùng hồn ma tên tướng giặc bị bỏ xuống Cửu U, Tử Văn chiến thắng và được phong là chức phán sự đền Tản Viên. Không bao lâu sau Tử Văn không bệnh mà mất.

Ngô Tử Văn là một kẻ sĩ nổi tiếng khẳng khái, chính trực vốn không chịu được sự tác yêu quái của hồn tên tướng bại trận nên đã đốt đền của hắn, trừ hại cho dân. Tên hung thần kiện chàng ở âm phủ. Tử Văn được thổ thần mách bảo về tung tích và tội ác của tên tướng giặc, đồng thời bày cho chàng cách đối phó với hắn. Xuống âm phủ, trước Diêm Vương, chàng đã dũng cảm vạch trần tội ác của tên hung thần. Công lý được thực thi: tên tướng giặc bị trừng trị, thổ thần được phục chức, Tử Văn được sống lại, sau đó được nhận chức phán sự đền Tản Viên chuyên trông coi việc xử án.

Ngô Tử Văn người đất Lạng Giang, vốn là một kẻ sĩ nổi tiếng khảng khái, chính trực, không chịu được sự tác yêu tác quái, làm hại dân của hồn tên tướng giặc bại trận nên đã đốt đền của hắn. Tên hung thần đe dọa và kiện chàng ở âm phủ. Chàng được thổ thần mách bảo về tội ác và tung tích của hắn, đồng thời chỉ dẫn chàng cách đối phó. Tử Văn bị quỷ sứ bắt xuống âm phủ. Trước mặt Diêm Vương, chàng dũng cảm tố cáo mọi tội ác của tên hung thần. Diêm Vương sinh nghi bèn cho người đến đền Tản Viên để lấy chứng thực. Quân lính về tâu, nhất nhất đúng lời Tử Văn. Cuối cùng công lý được khôi phục, tên tướng giặc và bọn phán sự vô trách nhiệm bị trừng trị, thổ thần được phục chức, Tử Văn được sống lại. Sau đó, Tử Văn được Viên Thổ Công tiến cử giữ chức phán sự đền Tản Viên.

Ngô Tử Văn là con người vùng đất Lạng Giang, nổi tiếng chính trực, không chịu những yêu sách tác quái làm hại dân lành của một tên tướng giặc, Tử Văn quá tức giận nên đã đốt đền hắn. Sau khi về nhà, bỗng nhiên chàng lên cơn sốt, đầu óc mê man, chàng mơ thấy có tên hung thần đòi bắt chàng xuống âm phủ vì tội dám đốt đền. Nhưng đến chiều tối có một người tự xưng Thổ Thần hiện lên, Thổ Thần cảm phục trước sự dũng cảm của Từ Văn nên Chàng được thổ thần mách bảo tội ác và tung tích của tên tướng và không quên chỉ cách cho chàng ứng phó. Đến đêm, Tử Văn bị quỷ sứ xuống âm phủ. Tủ Văn đã trình bày hết những tội ác của tên hùng thần đã làm với dân chúng cùng những bằng chứng chứng minh. Cuối cùng, công lý đã được sáng tỏ và thực thi, tên tướng bị trừng trị còn Tử Văn được sống lại. Trở về cõi thực, Tử Văn được Thổ Thần giao cho một chức trách là giữ chức phán sự đền Tản Viên.

Ngô Tử Văn nổi tiếng ở đất Lạng Giang là kẻ chính trực, khảng khái. Ngôi làng chàng ở có một ngôi đền thiêng lắm nhưng có một tên hung thần ở gần đền hay tác quai tác quái, yêu sách trong dân gian, Tử Văn tức giận nên châm lửa để đốt đền trừ hại cho dân lành.

Sau khi ngôi đền bị đốt, tên hung thần đã dọa kiện chàng ở âm phủ. Sau khi về nhà chàng lên cơn sốt, trong lúc đang mê man thì chàng mơ thấy có người đòi bắt mình xuống âm phủ. Nhưng đến chiều tối có một ông già đến xưng danh là Thổ Thần, ông cảm kích trước tinh thần dũng cảm của Tử Văn nên bày đã mách cho chàng tội ác và tung tích của tên hung thần, ông còn bày cho chàng cách để xử lý đối phó.

Đêm đến, Tửu Văn trở bệnh nặng hơn, Tử Văn thấy có hai tên quỷ sứ đến bắt chàng xuống âm phủ. Trước mặt Diêm Vương, chàng đã tố cáo hết những tội ác của tên hung thần kèm theo dẫn chứng đầy đủ về hắn. Sau khi chứng thực, quân lính về thưa tất cả lời Tửu Văn là sự thật, Diêm Vương đã trừng trị tên tướng giặc và bọn phán sự, thổ thần thì được phục chức còn Tử Văn được sống trở lại. Trở về từ âm phủ, Thổ Văn đã giao cho Tử Văn giữ chức phán sự đền Tản Viên.

Câu chuyện kể về nhân vật Ngô Tử Văn. Đây là một kẻ sĩ rất nổi tiếng. Anh là một người thẳng thắn và chính trực. Vì sự tác quai tác quái của hồn một tên tướng bại trận, Ngô Tử Văn đã quyết định đốt đền của hắn để giúp dân giải hạn. Tức giận, tên ác hồn này liền đe dọa và kiện Tử Văn ở địa phủ. Được thổ thần chỉ dẫn, Tử Văn biết được những tội ác mà tên này gây ra. Đồng thời, cũng biết được cách xử lý tên hung thần này. Khi bị bắt về địa phủ, Tử Văn không hề lo sợ khi đối mặt với Diên Vương. Anh đã kể một cách rõ ràng những tội ác của tên này. Nhờ những bằng chứng xác thực của thổ thần, tất cả mọi dẫn chứng của Tử Anh đều được xác minh. Cuối cùng, công bằng đã xuất hiện. Tên ác hồn và lũ phán sự vô lăng bị trừng phạt. Đồng thời, thổ thần được phục nguyên chức vụ, Tử Văn thì trở lại cõi trần. Từ đó về sau, được thổ thần đề cử, anh đã trở thành phán sự đền Tản Viên.

Câu chuyện kể về nhân vật Ngô Tử Văn. Đây là chàng trai xứ Lạng Giang. Tình tình chàng rất ngay thẳng, nóng nảy và chán ghét sự độc ác, gian tà. Lúc ấy, trong dân, có một tên yêu quái chuyên hại người. Tên này là một tên tướng tử trận được thờ trong đền Tản Viên. Để giúp dân, chàng trai đã đốt đền. Tên yêu quái liền xuất hiện trong giấc mơ để đe dọa Tư Văn và kiện chàng dưới âm phủ. Sau đó, chàng gặp một ông lão xưng là Thổ công. Lão ta kể cho Tử Văn mọi tội ác của tên yêu quái. Đồng thời, chỉ chàng cách đối phó khi bị áp giải xuống địa phủ. Sau đó, Tử Văn bị quỷ sứ bắt xuống địa phủ. Ở đây, chàng trai đã không một chút sợ hãi. Chàng kể rõ sự tình và tội ác mà tên yêu quái đã gây ra. Nghe thấy thế, Diêm Vương liền sai lính đến đền Tản Viên để xác nhận. Sau khi mọi việc được xác nhận, Diêm Vương liền tức giận sai lính đày tên yêu quái xuống Cửu U. Đồng thời, phạt lũ phán sự vô trách nhiệm kia. Về phần Tử Văn, anh được sống lại, giúp dân sửa lại đền đã bị đốt. Sau này, anh được Thổ Công tiến cử làm phán sự ở đền Tản Viên.

Ngô Tử Văn vốn là người khảng khái, cương trực. Tức giận vì tiếng là đền làng linh ứng, nhưng tên giặc tử trận ở gần đền lại biến thành yêu quái trong dân gian, Tử Văn đã đốt đền. Đốt đền xong, về nhà, Tử Văn thấy người khó chịu, rồi lên cơn sốt. Trong cơn sốt, Tử Văn thấy một người cao lớn khôi ngô, đầu đội mũ trụ tự xưng là cư­ sĩ đến đòi làm trả lại ngôi đền như cũ. Tử Văn vẫn thản nhiên. Người kia tức giận dọa sẽ kiện Tử Văn ở toà cõi âm. Chiều tối, lại có một ông già phong độ nhàn nhã đến tỏ lời mừng, hỏi ra mới biết đó là Thổ công bị viên tướng bại trận giả làm cư­ sĩ kia tranh chiếm mất đền. Ông già dặn rằng nếu âm phủ có tra hỏi thì cứ khai ra những lời ông nói, nếu tên kia chối thì cứ đến mà xác minh. Đến đêm, Tử Văn bị hai tên quỷ sứ đến bắt đi. Đến âm phủ, người canh cổng truyền rằng Tử Văn tội sâu ác nặng không được khoan giảm. Tử Văn kêu oan và được dẫn vào gặp Diêm Vương. Tử Văn tâu trình đầu đuôi như lời Thổ công đã nói và tranh cãi mãi với người đội mũ trụ, không phân phải trái. Diêm Vương sinh nghi, người đội mũ trụ định lảng chuyện, sợ bị lộ ra sự thực. Diêm Vương sai người đến đền Tản Viên để lấy chứng thực thì thấy đúng như lời Tử Văn nói. Kẻ kia bị đẩy vào địa ngục tầng thứ chín. Tử Văn về đến nhà thì mới biết mình đã chết được hai ngày. Ngôi mộ của tên tướng giặc bị bật tung lên, hài cốt tan tành. Sau đó một tháng, Thổ công tiến cử Tử Văn giữ chức phán sự ở đền Tản Viên. Tử Văn nhận lời, rồi không bệnh mà mất. Sau đó, có người thấy Tử Văn trên xe ngựa c­ưỡi gió. Người ta truyền rằng đó là “nhà quan phán sự !”

Advertisement

Ngô Tử Văn quê ở Yên Dũng, Lạng Giang. Chàng rất khẳng khái, nóng nảy, coi khinh mọi sự tà gian, được mọi người khen là cương phương. Gần đấy có ngôi đền linh ứng lắm. Một tên bách bộ trong đám quân Ngô thuộc bộ tướng Mộc Thanh sang xâm lược nước ta bị tử trận ở gần đền, rồi trở thành yêu quái hoành hành trong dân gian. Tử Văn tức giận lắm, khấn trời rồi châm lửa đốt đền. Mọi người lắc đầu lè lưỡi, lo sợ cho Tử Văn, nhưng chàng vung tay không cần gì cả.

Đốt xong đền về nhà lên cơn nóng sốt. Tử Văn thấy một người phương Bắc đội mũ trụ đi đến đòi làm trả lại toà đền, trách cứ chàng đã làm cho “hương lửa không có chỗ tựa nương, oai linh không có nơi thể hiện”. Nếu không dựng trả lại đền thì khó lòng tránh khỏi tai vạ. Thấy chàng ngất ngưởng tự nhiên, người kia tức giận bảo Tử Văn là: “Phong đô chẳng xa xôi gì, nếu không chịu nghe lời rồi sẽ biết”.

Chiều tối lại có một ông già, áo vải mũ đen, phong độ nhàn nhã đến vái chào Tử Văn, giới thiệu mình là Thổ thần, rất lấy làm thú vị và tỏ lời mừng. Ông già cho biết rõ tên tướng bại trận của Bắc triều, hồn bơ vơ ở Nam quốc tìm cách chiếm lấy ngôi đền. Hắn đã bưng bít Thượng đế, quấy rầy hạ dân, gây ra bao điều hưng yêu tác quái. Vốn là Ngự sử đại phu đời Lý Nam Đế, chết vì nghĩa cần vương nên được phong đã hơn một nghìn năm tại ngôi đền, vì ông thiếu sự đề phòng mà bị tên hoạt tặc đánh đuổi phải chạy đến nương tựa nơi đền Tản Viên.

Nghe lời Tử Văn hỏi, ông già cho biết thêm: hắn đã kiện thầy ở Minh ti, nếu không liệu sẽ bị chết một cách oan uổng. Nếu có bị tra hỏi thì thấy xin Minh ti tư giấy đến đền Tản Viên thì kẻ kia khó lòng thoát nạn.

Đêm ấy, bệnh càng nặng thêm. Tử Văn thấy hai tên quỷ sứ đến bắt giải đi, đưa đến một dinh toà rất lớn, xung quanh có thành sắt cao vợi. Lại bị giải qua cầu dài hơn nghìn thước bắc qua một con sông lớn, gió tanh sóng xám, hơi lạnh thấu xương. Có đến mấy vạn quỷ Dạ Xoa “mắt xanh tóc đỏ, hình dáng nanh ác” đứng chật hai đầu cầu. Tử Văn bị hai tên quỷ dùng gông dài thừng lớn gông trói mà giải đi. Chàng kêu to lên rằng:

– Ngô Soạn này là một kẻ sĩ ngay thẳng ở trần gian, có tội lỗi gì xin bảo rõ cho, không nên bắt phải chết một cách oan uổng!

Bị dẫn vào điện, Tử Văn đã thấy một người đội mũ trụ đang kêu cầu ở trước sân. Diêm Vương mắng Tử Văn là một kẻ hàn sĩ dám hỗn láo, gây ra tội lớn, còn trốn đi. Còn người cư sĩ kia có công với tiên triều nên hoàng thiên cho được huyết thực tại ngôi đền để đền công khó nhọc….

Tỉnh lại, Tử Văn mới biết mình chết đã được hai ngày rồi. Ai cũng kinh hãi khi nghe chàng kể lại chuyện bị quỷ sứ bắt đi… Dân làng dựng lại ngôi đền. Còn mộ tên tướng Tàu thì tự dưng bật nắp quan tài, hài cốt tan tành ra như cám.

Độ một tháng sau, ông già đến, báo tin là ông đã trở về được miếu đền cũ, còn Tử Văn thì được tiến cử vào chức phán sự đền Tản Viên.

Rổi Tử Văn không bị bệnh tật gì mà mất. Năm giáp Ngọ (1444), một người làng sáng sớm đi ra cửa tây thành Đông Quan vài dặm thấy trong sương mù xe ngựa đi đến ầm ầm, lại nghe tiếng quát:

– Người đi đường tránh ra, xe quan phán sự!

Tử Văn ngồi trên xe chắp tay thi lễ, không nói một lời nào, rồi cưỡi gió mà đi biến mất.

Văn Mẫu Lớp 9: Phân Tích Đoạn Thơ Lục Vân Tiên Cứu Kiều Nguyệt Nga 2 Dàn Ý & 17 Bài Văn Mẫu Lớp 9 Hay Nhất

Đoạn thơ Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga đã tái hiện thành công hành động trừ bạo cho dân của người anh hùng Lục Vân Tiên. Đồng thời, cũng cho thấy khát vọng hành đạo, giúp đời, hướng tới công bằng của nhà thơ. Mời các em cùng theo dõi bài viết để ngày càng học tốt môn Văn 9.

1. Mở bài

Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), là thầy giáo, thầy thuốc, nhà thơ, …được nhân dân mến mộ. “Truyện Lục Vân Tiên” là tác phẩm xuất sắc của ông

Đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” thể hiện tinh thần đề cao đạo lí, chính nghĩa thông qua những hình tượng đẹp, có sức hấp dẫn với đông đảo công chúng

2. Thân bài

2.1. Nhân vật Lục Vân Tiên

* Đánh cướp cứu Kiều Nguyệt Nga

Hoàn cảnh: trên đường đi thi, ghé về thăm nhà.

Tình thế: đơn độc (một mình) tay không.

Thái độ: bất bình

Hành động: bẻ cây làm gậy, xông vô

Lời nói: “kêu rằng ….. hại dân”.

* Nghệ thuật:

Miêu tả nhân vật qua hành động, lời nói.

Dùng thủ pháp đối lập.

* Trò chuyện với Kiều Nguyệt Nga

– Sau khi đánh tan bọn cướp

– Lời nói:

– Thái độ: vô tư, trong sáng, khiêm nhường, coi trọng khí phách, bổn phận của người anh hùng.

2.2. Nhân vật Kiều Nguyệt Nga

Cử chỉ: cúi đầu lạy

Tính cách: chân thực, hiếu thảo, trọng nghĩa.

Cư xử: mời lên ngồi, mời đến nhà để được đền đáp ơn Vân Tiên

3. Kết bài

Bút pháp lí tưởng hóa nhân vật;

Miêu tả thông qua ngôn ngữ hành động, cử chỉ, …

Ngôn ngữ thơ mộc mạc, bình dị, mang đậm màu sắc Nam Bộ.

Trích đoạn ngợi ca đạo lý tốt đẹp ngàn đời của dân tộc thông qua các hình tượng nhân vật chính.

I. Mở bài:

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm và đoạn trích:

Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888) là một nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ 19.

Truyện Lục Vân Tiên là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của Nguyễn Đình Chiểu, nói về nhân vật Lục Vân Tiên – người anh hùng trượng nghĩa, văn võ song toàn và phẩm chất tốt đẹp.

Đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga nằm ở phần đầu của truyện thể hiện khát vọng hành đạo giúp đời của tác giả và khắc họa những phẩm chất tốt đẹp của hai nhân vật Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga.

II. Thân bài:

* Luận điểm 1: Lục Vân Tiên và hành động đánh cướp

– Cảnh Lục Vân Tiên gặp bọn cướp đang hoành hành:

Chàng không chỉ nhân nghĩa trong hành động mà còn thể hiện trong lời nói.

Chàng chỉ trích và phê phán lũ giặc cướp nhưng cũng chính là lời tuyên bố về quan điểm sống đầy cao đẹp của chàng.

Giữa đường gặp chuyện bất bình thì sẵn sàng xả thân ra tay cứu giúp.

– Cảnh Lục Vân Tiên chống lại bọn cướp:

Vân Tiên chỉ có một mình, tay không đánh cướp

Không hề run sợ, vẫn “bẻ cây làm gậy” xông vào đánh cướp

* Luận điểm 2: Lục Vân Tiên gặp Kiều Nguyệt Nga

Vân Tiên “động lòng” thương xót, ân cần hỏi han, an ủi

Khi nghe trong kiệu vọng ra tiếng nói muốn được tạ ơn, Vân Tiên vội gạt đi ngay

Vân Tiên không muốn nhận những cái lạy tạ của hai cô gái

Không nhận chiếc trâm vàng mà chỉ cùng Kiều Nguyệt Nga xướng họa một bài thơ

* Luận điểm 3: Hình ảnh Kiều Nguyệt Nga.

Là con gái quan tri phủ.

Xinh đẹp, nết na, có học thức.

Cách xưng hô vừa thận trọng vừa khiêm nhường

Nói năng dịu dàng, mực thước

Băn khoăn tìm cách trả ơn Vân Tiên

Tự nguyện gắn bó cuộc đời mình với Vân Tiên.

* Đặc sắc nghệ thuật

Khắc họa nhân vật qua hành động, cử chỉ, lời nói.

Ngôn ngữ bình dị, mộc mạc, đậm màu sắc Nam Bộ

Ngôn ngữ kể chuyện tự nhiên, ít trau chuốt, uyển chuyển

Sử dụng nhiều đối thoại, hành động, ít miêu tả ngoại hình, nội tâm.

III. Kết bài:

Cảm nhận của em về đoạn trích: Đoạn trích đã khắc họa một cách rõ nét, chân thực và đầy sống động về người anh hùng trượng nghĩa Lục Vân Tiên, đó là một hình mẫu anh hùng lí tưởng và khát vọng về lẽ công bằng ở đời.

Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ, nhà văn, thầy thuốc, thầy giáo nổi tiếng đất Nam Bộ. Tên tuổi của ông gắn liền với “Truyện lục Vân Tiên”. Tác phẩm đại diện cho tiếng nói, quan niệm về đạo lý không chỉ của riêng nhà thơ mà đó còn là tiếng nói của cả dân tộc. Trích đoạn “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” là trích đoạn tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật và tư tưởng đạo lý của tác giả.

Có thể thấy tấm lòng nhân nghĩa là điểm sáng chói ngời trong nhân vật Vân Tiên. Tạ từ thầy dạy, chàng một mình rong ruổi trên con đường về kinh đô ứng thí. Lòng đầy ước mơ, hoài bão. Không ngờ, giữa đường, lại gặp chuyện chẳng lành. Nhân dân bồng bế, dắt díu nhau trốn chạy hoảng loạn, tiếng kêu van thảm thiết vang trời dậy đất. Ân cần hỏi han, rồi chẳng chút suy tính, chàng liền ra tay tương trợ để cứu dân lành thoát khỏi vòng lao lung.

Quá bất bình trước hành động phi nghĩa của lũ bất nhân, chàng thét vào mặt chúng

Hành động nhân nghĩa của chàng có lẽ là sự tiếp nối đạo lí tốt đẹp của dân tộc “Thương người như thể thương thân”. Tình yêu thương đã làm cao chí khí và lòng dũng cảm của chàng nho sinh họ Lục. Mặc cho lũ cướp mặt mày hung tợn, đằng đằng sát khí: “mặt đỏ phừng phừng”, chàng một mình lao vào vòng vây trừng trị bọn côn đồ. “Vân Tiên tả đột hữu xung”, một mình chàng với vũ khí thô sơ đấu lại cả bọn cướp gươm giáo sáng lòa. Với tài võ nghệ vô song, chàng tiêu diệt được tên cầm đầu toán cướp. Lũ còn lại như rắn mất đầu, quăng vũ khí, bỏ chạy tan tác. Hình ảnh Vân Tiên lúc này được nhà thơ so sánh như dũng tướng Triệu Tử Long phá vòng Đương Dương thời Tam Quốc. Thật là một hình ảnh đẹp tuyệt vời cho tinh thần đại nghĩa quên mình.

Giọng thơ hứng khởi, tràn đầy nhiệt huyết khi chiến thắng thuộc về người anh hùng dũng cảm.

Đánh tan lũ giặc, chàng Vân Tiên đã cứu thoát nàng Nguyệt Nga cùng người hầu khỏi cảnh nguy nan. Cuộc kì ngộ giữa giai nhân và trang hảo hán diễn ra thật cảm động. Nàng kính cẩn mời tráng sĩ về nhà để cha nàng “báo đức thù công”

Trước lời lẽ chân thành và đầy biết ơn của Kiều tiểu thư, thì Vân Tiên “nghe nói liền cười”. Một nụ cười thật tươi, thể hiện tâm hồn hào hiệp, tính tình vô tư, khảng khái. Chàng coi việc đánh cướp là việc nghĩa nên làm. Người biết võ nghệ phải ra tay diệt trừ cái ác, đem lại công bằng, bình yên cho nhân dân. Nếu thấy việc bất bình mà không ra tay tương trợ thì đâu xứng đáng đứng trong trời đất này nữa:

Cụ Đồ Chiểu đã xây dựng nhân vật Lục Vân Tiên theo mô tuýp người anh hùng thời loạn, trọng đạo nghĩa. Đó là mẫu người anh hùng mà người đọc đã từng gặp trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.

Người anh hùng ra tay tương trợ nên đã cứu được nàng Nguyệt Nga khỏi cơn nguy khốn. Ngoại hình nàng tiểu thư con quan tri phủ không được miêu tả một cách chi tiết, tỉ mỉ mà ta vẫn hình dung ra chân dung của nàng qua cuộc đối thoại ngắn ngủi với chàng Vân Tiên. Đầu tiên là hành động tạ ơn đầy tôn kính đối với ân nhân của nàng.

Đang than khóc vì quá hoảng sợ trước bọn cướp Phong Lai, chỉ cần một lời hỏi han, động viên của Vân Tiên, nàng liền trấn tĩnh lại ngay. Cách nói chuyện không chỉ thể hiện thái độ kính cẩn, biết ơn chân thành, mà còn toát lên khí chất của một tiểu thư dịu dàng, có học thức. Qua cuộc nói chuyện, nàng đã tỏ bày hoàn cảnh của mình. Đó là việc nàng từ ngàn dặm xa xôi, không quản hiểm nguy, khó nhọc để làm theo lời cha “định bề nghi gia”. Tấm lòng hiếu thảo của nàng thật khiến mọi người cảm động:

Không chỉ có cách nói chuyện thùy mị, dịu dàng, nét đẹp tỏa sáng ở Nguyệt Nga có lẽ là lòng biết ơn chân thành, sâu sắc trước những hành động cao quý của chàng tráng sĩ.

Lời nói thiết tha chân thành xuất phát từ tấm lòng biết ơn sâu nặng. Có thể nhận thấy, Nguyệt Nga là con người sống trọng tình trọng nghĩa. Trước nghĩa cử cao đẹp của Vân Tiên, lần thứ nhất nàng quỳ lạy rồi thưa chuyện gia cảnh của mình, lần thứ hai, nàng lại tha tha thiết mời ân nhân về nhà để được đáp đền ơn sâu nghĩa nặng. Cái ơn đó không chỉ là ơn cứu mạng mà còn cứu cả danh tiết của một người con gái, điều mà với một cô gái, nó còn quan trọng hơn cả tính mạng.

Lời chối từ thẳng thắn và thái độ hào hiệp trượng nghĩa của Vân Tiên sau đó càng khắc sâu thêm ấn tượng đẹp đẽ của chàng tráng sĩ trong lòng tiểu thư Nguyệt Nga. Ấn tượng sâu đậm này đã biến mối hàm ơn ban đầu của nàng thành lòng yêu thương âm thầm mà mãnh liệt dành cho chàng Vân Tiên. Lòng thủy chung sâu sắc của nàng càng được bộc lộ sâu sắc và rõ nét ở những đoạn trích sau của tác phẩm.

Đoạn trích đã thể hiện thành công bức chân dung của hai nhân vật chính. Một Vân Tiên văn võ song toàn, hào hiệp trượng nghĩa, một Nguyệt Nga tài sắc vẹn toàn, hiếu thảo, thủy chung, trọng nghĩa tình. Cảnh gặp gỡ đầu tiên như dự báo trong lòng người đọc về một tình yêu đẹp song cũng lắm chông gai, thử thách, khiến người đọc bị lôi cuốn vào những sóng gió tiếp theo đang chờ đợi hai nhân vật ở phía trước.

Nguyễn Đình Chiểu là một nhà văn, nhà thơ tiêu biểu của nền văn học Việt Nam, thơ văn của ông không có sự chau chuốt, cầu kỳ về câu từ mà lại rất mộc mạc, dân dã gắn liền với đời sống của con người Nam Bộ. Vì vậy trong nền văn học của Việt Nam, đại thi hào Nguyễn Du nổi tiếng với kiệt tác truyện Kiều, đây là tác phẩm được đông đảo độc giả trong nước, cũng như độc giả nước ngoài đón nhận bởi câu từ mượt mà, văn phong khoa học, giàu giá trị nội dung cũng như tư tưởng thì văn chương của cụ Đồ Chiểu đã thâm nhập vào đời sống, trở thành một phần đời sống của người dân Nam Bộ, người ta đọc Truyện Lục Vân Tiên phẩm của ông quen thuộc như những bài đồng dao dân gian. Truyện Lục Vân Tiên nổi tiếng bởi chính chất mộc mạc, gần gũi ấy, trích đoạn “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” cũng đã thể hiện được phần nào đặc trưng thơ văn của tác phẩm này.

“Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” là một trích đoạn của tác phẩm “Truyện Lục Vân Tiên”, kể về hành động nhân nghĩa, vô tư của Lục Vân Tiên, khi chàng bắt gặp trên đường cảnh bạo tàn, chàng đã không hề né tránh hay e ngại những tai họa sẽ đến mà hết lòng ra tay cứu giúp người bị nạn. Đoạn trích thể hiện được nét đẹp trong phẩm chất cũng như tâm hồn của Lục Vân Tiên, chàng làm việc nghĩa xuất phát từ tấm lòng mà không hề tính toán đến việc thiệt hơn, báo đáp ân nghĩa. Ngoài ra, Kiều Nguyệt Nga cũng là một nhân vật được xây dựng khá đặc sắc, nàng là một tiểu thư khuê các, khi được cứu giúp bởi Lục Vân Tiên nàng đã thể hiện những phẩm chất tốt đẹp như trọng ân nghĩa, hiền thục đoan trang lại là một người con có hiếu.

Mở đầu đoạn trích, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã miêu tả một cách chân thực, sống động những hành động của Lục Vân Tiên, đó chính là khi chàng ra tay diệt trừ cái bạo tàn, không cho phép nó làm tổn hại, gây ra đau khổ cho những người dân lương thiện, đây là một hành động đẹp, là biểu hiện ra bên ngoài của một tấm lòng đáng quý, đáng trân trọng.

Câu thơ miêu tả những hành động của Lục Vân Tiên khi gặp một sự cố ở trên đường, đó là chứng kiến cảnh lũ cướp hoành hành, đang gây họa cho người dân, bản tính cương trực, căm ghét cái ác lại đề cao hành động nhân nghĩa đã thôi thúc Vân Tiên hành động, và hành động của chàng dường như cũng chỉ diễn ra trong một cái chớp mắt, chàng không hề suy nghĩ, tính toán thiệt mất nếu như mình can dự vào mà chàng lập tức ra tay diệt trừ mối nguy hại ấy, bảo vệ người dân. Và sự gấp rút của tình huống nên chàng không kịp chuẩn bị gì mà tiện tay bẻ luôn cành cây bên đường để làm vũ khí diệt trừ cái ác “Bẻ cây làm gậy nhằm đằng xông vô”. Không chỉ nhân nghĩa trong hành động mà lời nói của chàng cũng thể hiện được tính cách cương trực, thẳng thắn của chàng “Kêu rằng bớ đảng hung đồ/ Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân”.

Lời nói của Lục Vân Tiên là hướng đến chỉ trích, phê phán lũ giặc cướp nhưng cũng là tuyên ngôn sống đầy cao đẹp của chàng, sống là phải hướng đến bảo vệ cuộc sống của những người dân lành, chứ không phải mang đến những đau khổ cho họ. Và những hành động bạo tàn, “hồ đồ” chàng càng không cho phép nó xâm hại đến những con người lương thiện ấy. Vân Tiên không chỉ là một con người có tình thương với con người, mang trong mình tinh thần chính nghĩa cao đẹp mà chàng còn là một chàng trai khỏe mạnh, tài giỏi, điều này được thể hiện ra trong những hành động chàng chống lại những tên cướp:

Những động tác của Vân Tiên đều rất dứt khoát, nhanh nhẹn “tả đột hữu xung”, và những hành động anh hùng này được nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu so sánh với hình ảnh người anh hùng Triệu Tử khi phá vòng Đương Dang. Trước sức mạnh của Lục Vân Tiên thì băng cướp bị đánh tan “Lâu la bốn phía vỡ tan”, chúng hoảng loạn bỏ lại gươm giáo mà tìm đường thoát thân. Và cầm đầu của băng đảng này là Phong Lai thì bị Tiên cho một gậy “thác rày thân vong”. Đây là sự trừng phạt thích đáng cho những kẻ lấy việc hại người làm niềm vui, làm mục đích kiếm sống. Đối với những tên cướp ngày Lục Vân Tiên tuyệt đối không khoan nhượng,lời nói và hành động đều hết sức quyết liệt nhưng khi hỏi thăm người bị nạn thì chàng lại trở nên vô cùng dịu dàng, phải phép:

Không chỉ ra tay cứu giúp người bị nạn mà chàng còn hết lòng quan tâm đến họ, thể hiện ngay qua lời hỏi thăm ân cần, và động viên, giúp người bị nạn trấn tĩnh lại tinh thần sau cơn hoảng loạn bằng việc thông báo cho họ biết tình hình bên ngoài, rằng những lũ “kiến chòm ong” đã bị tiêu diệt, cũng tức không còn bất cứ sự nguy hiểm nào có thể đe dọa nữa. Và phẩm chất tốt đẹp của Lục Vân Tiên cũng tiếp tục được bộc lộ khi chàng có cuộc đối thoại với người bị hại, cũng tức Kiều Nguyệt Nga. Khi Kiều Nguyệt Nga có ý định bước ra khỏi kiệu để cúi lạy Lục Vân Tiên vì công cứu mạng thì chàng nhất quyết không chịu nhận:

Chỉ thông qua vài câu nói thôi nhưng ta có thể nhận thấy Lục Vân Tiên là một con người trọng đạo lí, cũng như những khuôn phép trong xã hội xưa. Chàng không muốn Kiều Nguyệt Nga ra ngoài cúi lạy mình vì không muốn sự gặp mặt này ảnh hưởng đến phẩm tiết của nàng, vì trong quan niệm của xã hội phong kiến xưa, thì “nam nữ thụ thụ bất thân”, tức là giữa con trai và con gái cần phải có những khoảng cách nhất định, không được tùy tiện gặp mặt hay có những hành động thân thiết. Lời nói của Lục Vân Tiên cũng thể hiện chàng là một con người có học thức, còn đặt lời nói ấy trong xã hội ngày nay thì ta lại thấy có cái gì đấy đáng yêu ở chàng trai này. Nhưng mục đích của Lục Vân Tiên không chỉ vì lễ tiết mà chàng cũng không muốn nhận sự báo đáp của Kiều Nguyệt Nga, bởi hành động cứu giúp của chàng là xuất phát từ tấm lòng chứ không phải vì mục đích vụ lợi gì “Làm ơn há dễ trông người trả ơn”, câu nói của chàng với Kiều Nguyệt Nga càng làm cho con người chàng trở nên đáng trân trọng hơn.

Trong quan niệm của Lục Vân Tiên thì những việc nhân nghĩa là tất yếu, và nếu làm ơn mà trông ngóng việc trả ơn thì không phải người anh hùng “Làm người thế ấy cũng phi anh hùng”.

Như vậy, đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” đã khắc họa một cách chân thực, sống động hình ảnh của người anh hùng hiệp nghĩa Lục Vân Tiên, ở chàng hiện lên với biết bao phẩm chất tốt đẹp, không chỉ là con người nhân nghĩa, thấy việc ác là ra tay diệt trừ, bảo vệ sự bình yên cho con người mà chàng còn là một con người có học thức, trọng những lễ nghi, khuôn phép. Và ở chàng trai ấy ta cũng có thể thấy được một quan niệm sống thật đẹp, đó là quan niệm về việc nghĩa và về người anh hùng. Khắc họa nhân vật Lục Vân Tiên cũng là cách nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu hình mẫu anh hùng lí tưởng và khát vọng về lẽ công bằng ở đời.

Mở đầu Truyện Lục Vân Tiên, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu viết:

Lời thơ giản dị, rành rẽ như một tuyên ngôn, định hướng cho bước đi của toàn bộ tác phẩm. Với nhà thơ xứ dừa ấy, sáng tác văn chương không phải vì sự nghiệp văn chương mà trước hết, quan trọng hơn hết là vì mục đích giáo dục, truyền bá đạo lý, nhân cách con người.

Truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu được nhân dân ta – nhất là bà con ở Nam Bộ – yêu thích không phải vì có nhiều câu hay, lời đẹp, nghệ thuật tinh tế mà vì những chi tiết, sự việc, những nhân vật tỏa sáng đạo lí, vì những ý tưởng giáo huấn chân thành, thấm thía. Nội dung đạo lý bao trùm toàn thiên truyện là nhân nghĩa, là trung hiếu, tiết hạnh. Song đấy không phải những từ ngữ khô khan trói trong khuôn khổ phong kiến cổ hủ, nặng nề.

Với Nguyễn Đình Chiểu, nhân nghĩa là đạo đức của nhân dân, là căn cốt, gốc rễ để trau dồi, rèn giũa con người. Vì vậy, vào đầu tác phẩm – ở đoạn Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga – nhà thơ đã hào hứng giới thiệu hai con người trẻ tuổi, biết hướng theo lòng nhân, biết hành động theo việc nghĩa.

Đó là Lục Vân Tiên – chàng trai tài ba dũng cảm, sẵn sàng làm việc “nghĩa”. Vân Tiên vốn con nhà thường dân nhưng học giỏi, văn võ kiêm toàn. Chàng đang háo hức trên con đường lên kinh ứng thi. Vậy mà gặp cướp. Không phải chúng gây sự với chàng, mà chúng đang quấy nhiễu nhân dân.

Trước mắt chàng, bày ra một nghịch cảnh: dân thì “than khóc tưng bừng – Đều đem nhau chạy vào rừng lên non” ; bọn cướp thì “xuống thôn hương – Thấy con gái tốt qua đường bắt đi”. Thế là, sau một lời hứa ngắn gọn: “Tôi xin ra sức anh hào…”, Lục Vân Tiên nhanh nhẹn “Ghé lại bên đàng, bẻ cây làm gậy”, xông thẳng vào giữa bọn cướp.Bọn cướp đông đặc. Tên tướng cướp “Mặt đỏ phừng phừng”, dữ tợn như một con ác thú.

Chúng “Truyền quân bốn phía bủa vây bịt bùng”. Lực lượng thật quá chênh lệch. Bèn kia là cả lũ lâu la đông như ong, như kiến. Bên này chỉ độc nhất một mình chàng trai dũng cảm với lời hứa chân thành “Cứu người ra khỏi lao đao buổi này”, với vũ khí giản dị “cây gậy bên đàng”. Vậy mà, chàng không chút nao núng:

Nhà thơ không tả tỉ mỉ trận giao chiến mà chỉ kể ngắn gọn bằng mấy dòng thơ, một đấu so sánh và dăm ba từ đặc sắc: “tả đột, hữu xông – Khác nào Triệu Tử…” đúng là một dũng tướng tài ba, đánh nhanh, kín võ, sánh ngang với Triệu Tử Long thời Tam quốc trong trận phá vây quân Tào Tháo ở Đường Đan Trường Bản. Ngày xưa Triệu Tử Long chiến đấu vì ngôi vua nhà Hán, vì bảo vệ ấu chúa A Đẩu, dù sao vẫn là nghĩa vụ của một bầy tôi trung thành.

Còn ngày nay, Lục Vân Tiên chiến đấu vì người dân gặp nạn, cứu dân, trừ ác, vì việc nghĩa… hành động đó thật giản dị, vô tư trong sáng và cao đẹp biết bao. Cuộc chiến đấu của chàng y như trận đánh của Thạch Sanh„ diệt đại bàng cứu nàng công chúa. Sức mạnh của Lục Vân Tiên là sức mạnh của nhân dân, của điều thiện.

Lời thơ chân chất, có chỗ còn thô mộc, song hồn thơ chan chứa dạt dào. Đọc Lục Vân Tiên, chúng ta thường gặp nhiều câu chữ chân mộc như thế. Thơ chân mộc nhưng cảm hứng tác giả vẫn bay bổng, mộng mơ. Ngỡ như người thi sĩ mù ấy vừa kể chuyện vừa rung đùi thích thú, gửi tới bạn đọc một lẽ phải nhãn tiền: Người có lòng nhân, biết làm việc nghĩa thì sẽ thắng. Kẻ độc ác, bất nhân sẽ thảm bại như thế đấy. Xuất phát từ lòng nhân, Lục Vân Tiên đã làm được một việc “nghĩa”, một việc xứng đáng được gọi là anh hùng.

Tự nguyện dấn thân vào vòng nguy hiểm, chiến đấu hết mình, thắng lợi rực rỡ,… tất cả đều vì nhân nghĩa, nên sau thắng lợi, Lục Vân Tiên không một chút kiêu ngạo. Trái lại, chàng thật khiêm nhường, chính trực. Nghe cô hầu Kim Liên than thở nhưng vẫn còn hoảng sợ, Vân Tiên động lòng thương, an ủi: “Ta đã trừ dòng lâu la”.

Rồi ôn tồn, chàng thăm hỏi ngọn ngành từ tên họ, gia cảnh đến quê hương, nguyên cớ gặp nạn của hai cô gái. Trong lời chàng, có ý còn lạc hậu, ảnh hưởng quan niệm phong kiến “Nam nữ thụ thụ bất thân”, song tất cả đều chân thành, duns dị, rất đáng mến. Đáng mến, đáng phục hơn nữa là sau khi nghe cô tiểu thư Kiều Nguyệt Nga (nạn nhân được chàng cứu giúp) kể lể, thở than, ca ngợi và tha thiết muốn đền ơn, thì: Vân Tiên nghe nói liền cười

“Cái cười đáng yêu, đáng kính sao ! Một là cái cười của anh hùng quân tử, hai là cái cười của anh con trai, ba là cái cười của quần chúng rộng lượng, đều nở trên môi Vân Tiên” (Xuân Diệu – Đọc lại thơ văn Nguyễn Đình Chiểu). Sau nụ cười đáng yêu ấy là lời nói, cũng rất đáng yêu:

Đúng là giọng nói, cách nói của chàng trai Nam Bộ – nôm na, giản dị. Nó cất lên từ một cõi lòng chất phác. Chất phác, là cái bên ngoài là cái vỏ xù xì, thô nháp. Nhưng phía trong, phần ruột thì cao đẹp, thắm đỏ, ngọt ngào thơm thảo một quan niệm nhân sinh rất hào hiệp, vô tư của một lớp người, một thế hệ con người. Chúng ta hiểu lời của Lục Vân Tiên như thế nào?. Trước hết, chàng khẳng định việc mình làm là hoàn toàn tự nguyện.

Gọi là ơn cũng được. Hay nên xem đó là việc “nghĩa” ? Làm việc “nghĩa” thì không nên đợi trả ơn, tính hơn thiệt,… vì “ơn nghĩa” là lẽ thông thường của người sống có văn hoá, đang theo đòi kinh sử, người hướng về nghĩa khí, lấy nghĩa lớn, lấy chữ nhân, lòng nhân làm động cơ, làm mục đích cho mọi hành động.

Chàng đã hành động vì nghĩa lớn trừ kẻ ác, bảo vệ người lương thiện. Chàng chỉ mong Nguyệt Nga cũng như mọi người “rõ đặng nguồn cơn” – nghĩa là hiểu rõ, cảm thông với hành động của chàng. Sau nữa, chàng nhắc tới sử sách, nhắc lời các bậc hiền nhân xưa. Người xưa nói: “Kiến ngãi bất vi vô cùng dã”. Nghĩa là “Thấy việc nghĩa mà không làm, không phải người dũng cảm”.

Cách nói của chàng giản dị hơn: “Nhớ câu kiến ngãi bất vi – Làm người thế ấy cũng phi anh hùng”. “Phi anh hùng” là những kẻ tiểu nhân, hèn nhát. Lời của Vân Tiên chắc nịch, vừa để đối chứng, phê phán những kẻ tầm thường, vừa khẳng định việc làm là đúng đắn, là tất yếu, hiển nhiên, thuộc căn cốt, gốc rễ trong lẽ sống của minh.

Đó cũng là lẽ sống của biết bao hiền nhân, quân tử ngày xưa, và bao con người chân chính ngày nay. Lời chàng, nhân cách của chàng, gợi nhớ Từ Hải, nhân cách Từ Hải trong Truyện Kiều: “Anh hùng tiếng đã gọi rằng – Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha”. Thế đấy, Lục Vân Tiên thật dũng cảm, trọng nghĩa, khinh tài, tiêu biểu cho những chàng trai Nam Bộ.

Còn Kiều Nguyệt Nga là một cô gái hiền hậu, nết na biết trọng nghĩa tình. Sau khi được cứu thoát khỏi tay bọn bất nhân, độc ác, nàng vô cùng xúc động. Nàng đã nói những lời đẹp nhất để cảm ơn ân nhân:Lâm nguy chẳng gặp giải nguy,

Nói “Tiết trăm năm” là nói việc hộ trọng của cả một đời người. “Lạy rồi sẽ thưa” cũng là một thái độ kính nể, thiêng liêng trong quan hệ của con người. Một cô tiểu thư vốn quen được yêu chiều, quen được bảo vệ, chở che mà xử sự như thế, hạ mình như thế, đâu phải chuyện dễ dàng. Nguyệt Nga là tiểu thư – con quan tri phủ – nàng được giáo dục chu đáo, nàng gắn bó với những người dân, nên tiếp nhận được đạo đức của nhân dân.

Đạo đức ấy là chữ “ân”, chữ “nghĩa”. Do đó, sau những phút giao đãi mở đầu, nàng thẳng thắn bày tỏ ý nguyện đền đáp công lao cứu mạng của Lục Vân Tiên. Thái độ và lời nói của nàng có cái gì lúng túng, ngượng ngập, nhưng chất phác, “nghe thánh thót bên tai giọng nói của cô gái miền Nam” (Xuân Diệu):

Nguyệt Nga nói tới “của tiền”, “vàng bạc” để giãi bày sự thiếu hụt về vật chất. Lại nói tới “báo đức thù công” – đền đáp ơn đức, công lao. Rồi than thở “Lấy chi cho phí tấm lòng…” để giãi bày sự lúng túng vé tinh thần, những xúc động có thật của một tâm hồn trong trắng. Sau đó Nguyệt Nga cố mời Vân Tiên về nhà mình để tạ ơn. Nhưng chàng từ chối. Nàng băn khoăn, day dứt khôn nguôi.

Chỉ đến khi thấy “Vân Tiên nghe nói liền cười…” và an ủi: “Nhớ câu kiến ngãi bất vi – Làm người thế ấy cũng phi anh hùng”, Nguyệt Nga mới khuây khoả hỏi thăm gia cảnh tuổi tên của vị ân nhân. Vậy đấy, ngay phút gặp gỡ ban đầu với Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga đã tỏ rõ một tâm hồn trung hậu, nết na. Tâm hồn ấy bắt nguồn từ đâu, nếu không phải từ đạo lí nhân nghĩa của nhân dân ta, nhất là nhân dân Nam Bộ cùng quê hương với Nguyễn Đình Chiểu. Nhiều nhà nghiên cứu văn học cho rằng: Lục Vân Tiên là Truyện Kiều của nhân dân Nam Bộ.

Những nghệ sĩ hát rong vùng đồng bằng sông Cửu Long, thường giáo đầu bài hát Lục Vân Tiên bằng câu ca như thế. Ngay sau đó, buổi diễn xướng dân gian được đông đảo bà con hưởng ứng, quây tròn quanh người kể chuyện. Người diễn, người nghe giao hoà, say đắm hàng giờ, hàng buổi. Một trong những đoạn truyện được mọi người yêu thích là đoạn Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Ngư.

Yêu thích không phải vì văn chương chải chuốt, nghĩa lý thâm trầm như Truyện Kiều, mà trước hết vì: đoạn trích thể hiện khát vọng hành đạo giúp đời của Nguyễn Đình Chiểu và khắc họa phẩm chất đẹp đẽ của hai người trẻ tuổi – Lục Vân Tiên tài ba dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài ; Kiều Nguyệt Nga nết na, nhân hậu, ân tình.

Tất cả những vẻ đẹp ấy của đoạn thơ phù hợp với phong cách sống, với ước mơ, khát vọng giản dị mà trong sáng của nhân dân ta, mãi mãi dạy chúng ta bài học đạo đức thiết thực và cao cả biết bao.

Trong tác phẩm Lục vân Tiên, tác giả Nguyễn Đình Chiểu đã dựng lên hình tượng một con người lý tưởng với những vẻ đẹp toàn diện, mà nổi bật lên trong những vẻ đẹp đó chính là tính chính nghĩa cao đẹp. Trong đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga, tác giả Nguyễn Đình Chiểu đã tái hiện lại phẩm chất tốt đẹp đó qua hành động trừ bạo cho dân.

Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga nằm trong phần mở đầu của tác phẩm. Nghe tin triều đình mở khoa thi, Vân Tiên giã từ thầy xuống núi đua tài. Trên đường về nhà thăm cha mẹ, Vân Tiên đã gặp bọn cướp Phong Lai đang hoành hành, bóc lột của dân lành. Một mình chàng đã đánh tan bọn cướp, cứu được Kiều Nguyệt Nga.

Đều quăng gươm giáo tìm đàng chạy ngay”Trên đường về quê,Lục Vân Tiên đã bắt gặp cảnh chướng tai gai mắt, đó chính là sự hoành hành đầy ngang ngược của bọn cướp Phong Lai. Không tính toán thiệt hơn, được mất,Lục Vân Tiên đã bẻ cây bên đường làm gậy xông vào lũ cướp để giải cứu người dân lương thiện vô tội. Không chỉ hành động mà lời nói của chàng cũng thể hiện được con người đầy chính nghĩa của chàng “Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân”, đó là lời cảnh cáo nhưng cũng là tuyên ngôn sống của chàng,người chân chính là phải bảo vệ nhân dân chứ không phải mang lại đau khổ cho họ.

Đang cướp bóc thì có người phá hỏng “chuyện tốt” của mình, Phong Lai đã vô cùng giận dữ, khuôn mặt của hắn “đỏ phừng phừng” cho thấy đây là con người bạo tàn, gian ác. Trước hành động chính nghĩa của Vân Tiên thì Phong Lai đã vô cùng coi thường mà buông lời thách thức đầy giễu cợt “Thằng nào dám đến lẫy lừng vào đây” và còn nói trước kết cục bi thảm của Tiên khi dám phá hỏng một vụ kiến trác béo bở của chúng “Trước gây việc dữ tại mày”, sau đó hôn quân kéo bầy bủa vây, tấn công Vân Tiên.

Trước sự tấn công của bọn Phong Lai, Lục Vân Tiên đã không hề nao núng mà tả đột hữu xung, với các miêu tả này ta vừa có thể hình dung ra những hành động nhanh chóng, chính xác, vừa thể hiện được bản lĩnh hơn người của Vân Tiên. Và trong cái nhìn của NGuyễn Đình Chiểu thì hành động anh hùng này giống như hình tượng đầy oan phong của Triệu Tử khi phá vòng Đương Dang, lập được công trạng lớn. Bọn cướp Phong Lai chẳng mấy chốc bị đánh cho tan tành, sợ hãi mà tháo chạy, Phong Lai bị Vân Tiên trừng trị thẳng tay “thác rày thân vong”

Tuy nhiên, quan điểm sống của Lục Vân Tiên là “làm ơn há dễ trông người trả ơn” đã từ chối lời yêu cầu của Kiều Nguyệt Nga, và một lí do nữa được chàng đưa ra đó chính là sự khác biệt về thân phận, giới tính. Trong quan niệm phong kiến xưa thì “nam nữ thụ thụ bất thân”, vì vậy nên Lục Vân Tiên không muốn cuộc gặp gỡ này ảnh hưởng đến tiết hạnh của Nguyệt Nga. Qua đây ta thấy được Vân Tiên là một con người sống chuẩn mực đối với những lễ nghĩa của phong kiến và là người biết quan tâm đến người khác:

Đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga là đoạn trích hay, hấp dẫn đối với người đọc bởi sự chính nghĩa, ngay thẳng, kiên cường của Lục Vân Tiên, qua cuộc trò chuyện với Kiều Nguyệt Nga ta còn thấy đây là con người có nhiều phẩm chất đáng quý, đáng trân trọng.

Từ biệt tôn sư về đi thi, giữa đường bất chợt gặp cảnh lũ cướp hoành hành, Lục Vân Tiên vụt dũng mãnh như chàng Thạch Sanh trong truyện cổ tích. Nhân vật ấy đọng mãi trong lòng người đọc là hình ảnh xả thân cứu Kiều Nguyệt Nga:

Có cảm giác là sự việc diễn ra quá bất ngờ, nhanh chóng. Bất ngờ cũng phải thôi, vì Vân Tiên “giữa đường gặp cảnh bất bình”, hoàn toàn ngẫu nhiên. Không kịp suy nghĩ, không kịp đắn đo, chàng bất chấp hiểm nguy, ra tay cứu giúp. Chàng là ai? Người được che chở không hề biết; chỉ biết chàng đang quyết liệt sống mái với lũ cướp đường. Quả thật, theo mạch truyện, chính Vân Tiên đã bị cuốn vào trận đấu một cách không chủ động. Chàng có thể tránh xa nếu là người hèn nhát, có thể dửng dưng nếu là một kẻ ích kỷ…Vân Tiên đã không bàng quan, không để ngoài tai, ngoài mắt những điều trông thấy. Và sự bất ngờ “vào cuộc” của chàng tạo nên thế tự chủ vững vàng trong cái ngẫu nhiên ấy. Giá như Vân Tiên biết rằng người bị cướp tấn công là nàng Kiều Nguyệt Nga xinh đẹp, hiền thục; giá như chàng kịp dừng lại để suy nghĩ một chút thiệt hơn thì đoạn thơ sẽ mất đi cái hấp dẫn của tư thế chủ động “tả đột hữu xông; khác nào Triệu Tử mở vòng…” mạnh mẽ ấy. Ta gặp một chàng trai Nam Bộ thực sự cương trực và… hơi liều lĩnh nữa; thấy cảnh bọn cướp “làm thói hồ đồ hại dân” là xông vào đánh hết mình, đánh bằng lòng căm hờn của một đấng nam nhi quả cảm, bằng tài võ nghệ điêu luyện. Hình ảnh Vân Tiên ngang tàng xông pha giữa đám đầu trâu mặt ngựa như biểu hiện của chính nghĩa đang trừng trị cái ác, cái xấu. Nhân nghĩa và can trường biết bao!

Không hiện lên trước mắt người đọc như một Từ Hải “vai năm tấc rộng, thân mười thước cao”, cũng không “vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa” như Kim Trọng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, nhưng qua lời nói, việc làm của Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu đã tạo được ấn tượng đậm nét về chàng. Làm ơn mà không màng được trả ơn là cách sống của người quân tử xưa nay; nhưng thái độ của Lục Vân Tiên trước tình cảnh và sự hàm ơn của Nguyệt Nga lại có những nét riêng rất đáng yêu. Mạnh mẽ, xông xáo trong cuộc chiến với lũ cướp bao nhiêu, chàng lại nhút nhát và e dè trước người con gái nhờ mình mà thoát nạn bấy nhiêu. Khi Nguyệt Nga định bước ra tạ ơn, Vân Tiên ngượng ngùng:

Dẫu chưa nguôi sợ hãi, chắc rằng Nguyệt Nga khó mà giấu được nụ cười kín đáo trước chàng trai nhát gái này. Có lẽ người ta sẽ không buột miệng nói như thế nếu là một kẻ thạo đời, lọc lõi trong tiếp xúc với phụ nữ. Liệu hình ảnh Lục Vân Tiên có đẹp một cách trọn vẹn nếu như chàng tỏ ra vồ vập đối với Nguyệt Nga? Thì ra tâm hồn, bản chất chàng trai họ Lục thật trong sáng, tươi trẻ. Càng đáng quý hơn nữa khi cái chất trong trẻo, hiền lành ấy ẩn chứa sau một tính cách khí khái, dũng cảm. Sự cứng rắn của thép, nét non nớt, thư sinh của chàng trai vừa bước vào đời hài hòa trong con người Vân Tiên. Không chỉ qua hành động, cách giao tiếp mà cách ứng xử cũng bộc lộ rõ phẩm cách của chàng. Dám liều mình cứu người, lời lẽ đanh thép khi giao chiến với giặc cướp, để rồi trước một cô gái dịu dàng, Vân Tiên không tránh khỏi ngại ngùng bẽn lẽn – điều đó tự nhiên đã biểu lộ một lối sống lành mạnh, có giáo dục, nề nếp. Lời nói, thái độ khiêm nhường, nhã nhặn: “Làm ơn há dễ trông người trả ơn”, “Nhớ câu kiến ngãi bất vi, Làm người thế ấy cũng phi anh hùng”… vừa cho ta cảm cái tâm nhân ái, vừa khâm phục trước quan niệm sống trọng nghĩa của Vân Tiên.

Cái nhìn, cách nghĩ của nhà văn bao giờ cũng lộ rõ trong tác phẩm, trong cách thể hiện hình tượng, chi tiết… Có ý kiến cho rằng, cuộc đời Lục Vân Tiên là hình bóng cuộc đời nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Chỉ qua vài chi tiết nhỏ – Vân Tiên “bẻ cây làm gậy” có thể thấy được cảm quan hiện thực của nhà thơ. Không rút gươm, rút kiếm một cách oai phong như các binh tướng hay văn nhân quý tộc cao đạo, hành động của chàng chỉ mang tính dân dã, bộc trực. Bất kỳ một người con trai bình dân nào cũng có thể bẻ cây làm gậy để làm việc nghĩa, không cầu kì, chẳng nề hà. Thực chất ở đây, Vân Tiên vẫn là một chàng trai có học, sống giữa những người lao động, chưa phải là một quan chức của nhà nước phong kiến như ở đoạn sau. Ghi một cử chỉ ấy thôi, người đọc đã thấy rõ sự gắn bó mật thiết giữa tâm hồn, tình cảm của nhà thơ với cuộc sống nhân dân, hồn hậu như hạt lúa, củ khoai. Việc làm và cách nghĩ của Lục Vân Tiên như minh chứng cho quan niệm của Nguyễn Đình Chiểu về lẽ sống ở đời:

Vẫn là những vần thơ mang đậm phong cách dân gian quen thuộc nhưng được tác giả gọt giũa và nâng cao, tạo được sự hấp dẫn, thích thú đối với người đọc, nhất là trong những lời đối thoại giữa Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga. Lời thơ trau chuốt, không còn là thứ ngôn ngữ mộc mạc thường ngày:

Đây đúng là lời lẽ của một tiểu thư con nhà khuê các, có giáo dục. Và điều đó cùng chứng tỏ nhà thơ đã rất dụng công khi dùng câu chữ và có dụng ý khi thể hiện nhân vật.

Lấp lánh sau những câu thơ giản dị, hồn hậu là nét đẹp của phẩm cách, tấm lòng đáng quý, đáng phục của Vân Tiên, Nguyệt Nga… Đoạn thơ ngời sáng như chính cái tâm nhân ái của cụ Đồ Chiểu.

Truyện Lục Vân Tiên là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của Nguyễn Đình Chiểu, truyện nói về nhân vật Lục Vân Tiên – người anh hùng trượng nghĩa, văn võ song toàn và phẩm chất tốt đẹp. Trong đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” đã thể hiện được rõ con người và nhân cách của Lục Vân Tiên.

Trên đường đi thi, Vân Tiên bất chợt gặp cảnh lũ cướp hoàng hành, không kịp suy nghĩ, hay đắn đo, chàng bất chấp hiểm nguy mà ra tay cứu giúp:

Trong hoàn cảnh gấp rút cứu người ấy chàng không kịp chuẩn bị gì mà chỉ tiện tay bẻ cành cây bên đường làm vũ khí chiến đấu với bọn cướp. Chàng không chỉ nhân nghĩa trong hành động mà còn thể hiện trong lời nói. Chàng chỉ trích và phê phán lũ giặc cướp nhưng cũng chính là lời tuyên bố về quan điểm sống đầy cao đẹp của chàng. Sống là phải hướng đến bảo vệ cho người dân lành, chứ không phải mang đến những đau khổ, đày đọa cuộc sống của họ. không cho phép những hành động “hồ đồ” xâm hại tới những con người lương thiện. Đoạn thơ đã cho thấy Vân Tiên không chỉ có tình thương với con người mà còn có tinh thần trách nhiệm cao cả. Điều này đã được thể hiện trong cảnh chàng chống lại với lũ cướp:

Hành động nhanh, mạnh, dứt khoát của Vân Tiên được tác giả ví với người anh hùng Triệu Tử khi phá vòng đương Dang. Trước sức mạnh và tài nghệ của Vân Tiên, bọn cướp đã bị đánh tan tác, hoảng loạn bỏ chạy, đó là sự trừng phạt thích đáng cho những kẻ hại người. Sau khi đã dẹp tan bọn cướp, chàng Vân Tiên liền tới gần hỏi thăm người bị nạn:

Vân Tiên không chỉ cứu giúp mà còn hết lòng quan tâm đến người gặp nạn. Chàng hỏi thăm ân cần, động viên và giúp người bị nạn trấn tĩnh tinh thần. Khi trò chuyện với người bị nạn là Kiều Nguyệt Nga, Lục Vân Tiên đã biết là nữ nhi nên đã nhanh miệng:

Câu nói ấy đã thể hiện Lục Vân Tiên là một người rất coi trọng đạo lý và khuôn phép xã hội. Không muốn sự gặp mặt sẽ ảnh hưởng đến phẩm tiết của nàng vì “nam nữ thụ thụ bất thân”. Có thể thấy Lục Vân Tiên không chỉ là một người có học thức, hơn thế chàng còn là một người hào hiệp, trượng nghĩa. Chàng không muốn nhận sự cúi lạy của Kiều Nguyệt Nga cũng như sự báo đáp của nàng, bởi hành động của chàng xuất phát từ tấm lòng chứ không vì mục đích được đền đáp. “Làm ơn há dễ trông người trả ơn”, câu nói của chàng với Kiều Nguyệt Nga đã khiến cho người đời rất đáng trân trọng và noi theo:

Đối với Vân Tiên, chàng coi việc nhân nghĩa trên đời là điều tất yếu, nếu làm ơn mà vì được đến đáp, trông ngóng đến việc trả ơn thì đó không còn là người anh hùng.

Đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” đã khắc họa một cách rõ nét, chân thực và đầy sống động về người anh hùng trượng nghĩa Lục Vân Tiên, đó là một hình mẫu anh hùng lí tưởng và khát vọng về lẽ công bằng ở đời.

Nguyễn Đình Chiểu sinh thời vào lúc loạn lạc, dù sớm đỗ đạt nhưng đến năm 26 tuổi đã bị mù, ông trở về làm thầy thuốc, làm một nhà thơ. Bằng tài năng và đức độ hơn người, Nguyễn Đình Chiểu đã khiến biết bao người ngưỡng mộ. Các bài văn thơ của ông dùng để khích lệ tinh thần chiến đấu và mang tính giáo huấn cao. Lục Vân Tiên là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất trong đời thơ của ông.

Lục Vân Tiên được sáng tác vào những năm 50 của thế kỉ XIX, thể hiện khát vọng hành đạo giúp đời của tác giả và khắc họa hình ảnh đẹp đẽ của hai nhân vật: Lục Vân Tiên tài ba, dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài; Kiều Nguyệt Nga hiền hậu, ân tình. Nội dung chính của tác phẩm này là khi Lục Vân Tiên nghe tin triều đình mở khoa thi, chàng đã vội từ biệt thầy đi đua tài. Trên đường về, vô tình gặp cảnh Kiều Nguyệt Nga bị cướp chàng đã ra tay trượng nghĩa cứu giúp người bị nạn. Đoạn trích đã làm nổi bật vẻ đẹp phẩm chất của hai nhân vật chính là Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga.

Hình tượng Lục Vân Tiên được xây dựng theo mô típ quen thuộc của truyện dân gian, trượng nghĩa, anh tài, ra tay cứu giúp người bị nạn. Đây là nhân vật lý tưởng của văn học trung đại, thể hiện những khao khát mơ ước của nhân dân ta. Chàng mang lí tưởng lớn, lập thân lập danh giúp đời. Và trên đường về gặp chuyện bất bình, Lục Vân Tiên không hề ngần ngại mà ngay lập tức ra tay trượng nghĩa:

Dù chỉ có một mình, trên tay chỉ có cây gậy nhưng Vân Tiên dám đương đầu với lũ cướp vừa đông vừa rất hung hãn. Hành động đó cho thấy tính cách anh hùng, tài năng và tấm lòng vị nghĩa của Vân Tiên. Trước sự dọa nạt của những tên cướp, Vân Tiên không hề nao núng: “Vân Tiên tả đột hữu xông/ Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dang” . Hình ảnh chàng trong trận chiến hiện lên thật đẹp đẽ, như một dũng tướng phá tan kẻ thù. Hành động đó cũng cho thấy bản chất, tấm lòng cao thượng của chàng,vì nghĩa quên mình, một vẻ đẹp tiêu biểu của những người anh hùng.

Không chỉ là một người có tinh thần trượng nghĩa, mà chàng còn là người hết sức khuôn phép, lịch sự với người khác giới. Sau khi đuổi hết lũ lâu la, Vân Tiên còn tiến lại hỏi han, an ủi những người bị nạn. Không chỉ vậy, khi nghe nói họ muốn được lạy tạ ơn, Vân Tiên vội gạt ngay đi:

Theo lễ giáo phong kiến giữa nam và nữ luôn phải giữ khoảng cách, “nam nữ thụ thụ bất thân”, câu nói của Lục Vân Tiên tuy có phần nặng nề lễ giáo phong kiến nhưng cho thấy chàng là người cư xử hết sức đúng mực. Đồng thời nó cũng xuất phát từ chính đức tính khiêm nhường của Vân Tiên “Làm ơn há dễ trông người trả ơn” . Việc mà chàng làm như là một việc đương nhiên, mà bất cứ ai thấy cũng sẽ hành động như vậy, bởi vậy, Vân Tiên không muốn nhận cái lạy tạ của người con gái và từ chối lời đề nghị về nhà của Kiều Nguyệt Nga.

Dường như với Lục Vân Tiên, làm việc nghĩa là một bổn phận, một lẽ tự nhiên, con người trọng nghĩa khinh tài ấy không coi đó là công trạng. Đó là cách cư xử mang tinh thần nghĩa hiệp của các bậc anh hùng hảo hán. Bởi chàng quan niệm:

Vân Tiên là mẫu anh hùng lí tưởng, mà qua nhân vật này nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã gửi gắm nhiều niềm tin, mơ ước, khát vọng của mình.

Bên cạnh nhân vật Lục Vân Tiên ta còn thấy một nàng Kiều Nguyệt Nga hết sức chừng mực, nết na, hiếu thảo. Nàng xưng hô rất khiêm nhường “tiện thiếp”, cùng với đó là cách nói năng hết sức nhẹ nhàng, khuôn phép: “Làm con đâu dám cãi cha/ Ví dầu ngàn dặm đàng xa cũng đành” . Lời nói của nàng hết rõ ràng, mạch lạc, vừa đẩy đủ thông tin vừa thể hiện niềm biết ơn chân thành với ân nhân đã giúp đỡ.

Đồng thời nàng cũng là con người biết cách ứng xử, có trước có sau. Việc Vân tiên cứu nàng đâu chỉ là cứu mạng sống, mà còn cứu cả một đời trinh bạch của người con gái, bởi vậy, nàng càng biết ơn Vân Tiên hơn. Cũng bởi thế nàng áy náy không biết lấy gì đền đáp công ơn to lớn đó:

Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi

Và cuối cùng nàng đã quyết lấy thân mình, tự nguyện gắn bó cả đời với chàng trai hiệp nghĩa đó. Hàng ngày nâng khăn sửa túi để báo đáp ơn lớn của Vân Tiên đối với nàng. Những nét đẹp trong phẩm chất, trong hành xử của Kiều Nguyệt Nga đã chinh phục được tình cảm yêu mến của nhân dân.

Đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga tuy ngắn ngủi nhưng đã làm nổi bật vẻ đẹp phẩm chất của hai nhân vật: Lục Vân Tiên trượng nghĩa khinh tài, Kiều Nguyệt Nga thì nết na thùy mị. Hai nhân vật đại diện cho lý tưởng của nhân dân ta. Đồng thời qua các nhân vật này cũng gửi gắm những thông điệp sâu sắc của nhà thơ.

Nguyễn Đình Chiểu là một con người có nhân cách lớn, một tấm gương về sự học, tinh thần vươn lên và tinh thần yêu nước mạnh mẽ. Người đời biết đến ông không chỉ là một bậc danh nho tinh thông y thuật mà ông còn nổi tiếng là một nhà thơ, nhà văn lớn, tiêu biểu của nền văn học trung đại Việt Nam, nửa cuối thế kỉ XIX. Những áng văn chương của cụ đồ Chiểu luôn nhằm hướng tới truyền bá đạo lý làm người, tình yêu nước và ý chí chiến đấu chống giặc ngoại xâm mạnh mẽ. Và một trong các tác phẩm gây được tiếng vang lớn nhất trong sự nghiệp cầm bút ấy của ông là “Truyện Lục Vân Tiên” – một tác phẩm truyện thơ Nôm rất độc đáo, rất điển hình hướng tới đạo lý làm người: hành hiệp trượng nghĩa, cứu khổ phò nguy, hướng tới lẽ công bằng và tình yêu thương giữa con người với con người. Đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” là đoạn trích hay, tập trung nổi bật được tư tưởng, đạo lí mà nhà thơ muốn gửi gắm.

Đoạn trích nằm ở phần đầu của truyện. Tác phẩm được viết vào khoảng đầu những năm 50 của thế kỉ XIX, dài hơn hai nghìn câu thơ, theo thể lục bát, kết cấu theo kiểu truyền thống của loại truyện phương Đông, theo lối chương hồi, xoay quanh diễn biến cuộc đời nhân vật chính. Đây là truyện thơ Nôm mang tính chất là truyện để kể hơn là để đọc, để xem. Vì thế, truyện được lưu truyền rộng rãi dưới hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian như “kể thơ”, “nói thơ, và “hát thơ”. Đoạn trích thể hiện khát vọng hành đạo giúp đời của tác giả và khắc họa những phẩm chất đẹp đẽ của hai nhân vật: Chàng thư sinh Lục Vân Tiên – người mang trong mình tràn đầy lý tưởng của tuổi trẻ nhiệt huyết, trọng nghĩa khinh tài, cán cân của công lý, sẵn sàng ra tay trừng trị cái xấu, cái ác, bênh vực cái đẹp, cái yếu đuối, bất hạnh; Còn Kiều Nguyệt Nga lại là một tiểu thư khuê các, dịu dàng, xinh đẹp, hiền hậu, nết na, ân tình.

Trước hết là hình tượng nhân vật Lục Vân Tiên – một nhân vật lý tưởng của cái đẹp: dũng cảm, tài ba, đầy khí phách. Trên đường trở về quê nhà, Vân Tiên thấy bọn cướp Phong Lai đang giở trò cướp bóc, làm hại dân lành, chàng liền ra tay tương trợ đánh tan cái xấu, cái ác. Hình ảnh Lục Vân Tiên hành hiệp trượng nghĩa được tái hiện rất cụ thể trong hành động và lời nói khi chiến đấu với bọn giặc:

Hành động đánh cướp trước hết bộc lộ tính cách anh hùng, tài năng và tấm lòng vị nghĩa của Lục Vân Tiên. Một mình chàng, tay không tấc sắt dám đương đầu với cả một toán giặc cỏ với đầy đủ các loại vũ khí gươm giáo sáng quắc trong tay. Hành động “bẻ cây làm gậy” của chàng là một hành động dũng cảm, xuất phát từ cái đức của một con người “vị nghĩa vong thân” (vì việc nghĩa mà không tiếc thân mình). Tuy một mình nhưng chàng vẫn hiện lên vẫn rất uy dũng, mạnh mẽ, hào hiệp xông thẳng vào trận đánh, vừa tiến tới lại vừa thét lên những lời nói đầy giận dữ, quả quyết kết tội bọn giặc”bớ đảng hung đồ”, “chớ quen làm thói hồ đồ hại dân”. Kết quả, bọn cướp sợ hãi thất kinh mà “vỡ tan” như đàn ong vỡ tổ. Tên cướp cầm đầu là Phong Lai thì chẳng kịp trở tay, bị ăn ngay một gậy chí mạng sống không được, chết cũng không xong.

Như vậy, với nghệ thuật so sánh tương phản, tác giả đã tái hiện không khí cuộc đấu tranh giữa Lục Vân Tiên với bọn cướp Phong Lai hết sức cam go, quyết liệt. Qua đó chúng ta thấy Lục Vân Tiên hiện lên là một người anh hùng dũng cảm, không sợ hiểm nguy và thấy việc nghĩa thì ra tay giúp đỡ. Phải chăng đó là cái đức, cái tài và cái dũng của bậc anh hùng trong con người Lục Vân Tiên, đã chiến thắng được thế lực bạo bạo, dù chúng rất hung bạo, dữ dằn. Đó cũng chính là giá trị nhân đạo, nhân sinh sâu sắc mà cụ đồ Chiểu muốn gửi gắm nơi người đọc.

Sau khi dẹp tan bọn giặc cỏ, thái độ cư xử của chàng trai họ Lục đối với Kiều Nguyệt Nga đã bộc lộ tư cách của con người: chính trực, hào hiệp, khiêm tốn, trọng nghĩa khinh tài, từ tâm nhân hậu và rất mực văn hóa.Ban đầu chàng bộc lộ sự quan tâm bằng cách hỏi han ân cần, chu đáo: “Hỏi: “ai than khóc ở trong xe này?” ; “Tiểu thư con gái nhà ai/ Đi đâu nên nỗi mang tai bất kì?/ Chẳng hay tên họ là chi? Khuê môn phận gái việc gì tới đây?…”. Thấy hai cô gái còn chưa hết bàng hoàng, hoảng hốt, Vân Tiên “động lòng” an ủi, trấn an tinh thần Kiều Nguyệt Nga qua lời nói: “Đáp rằng: “Ta đã trừ dòng lâu la”. Khi biết Kiều Nguyệt Nga định xuống xe lạy tạ, chàng nhất mực từ chối vì giữ lễ tiết:

Đặc biệt chàng còn khiêm tốn không chịu nhận vật trả ơn: “Làm ơn há dễ trông người trả ơn”. Cuối cùng, hai người cùng xướng họa với nhau một bài thơ rồi nhẹ nhàng từ biệt ra đi, không vấn vương, nuối tiếc. Đến đây, chúng ta thấy Lục Vân Tiên là con người rất mực tâm lý, có nghĩa khí, giữ đúng phép tắc của nho gia, coi thường tiền tài, vật chất. Phải chăng, đối với chàng làm việc nghĩa như là bổn phận, trách nhiệm và vốn lẽ tự nhiên phải làm. Vì thế, ở cuối đoạn trích, có hai câu thơ đã nêu bật được quan niệm về người anh hùng của tác giả:

Người anh hùng là người lấy việc nghĩa khí lên làm đầu. Nếu thấy việc nghĩa mà không làm thì không phải là người anh hùng. Đây cũng chính là quan niệm về người anh hùng của tác giả. Qua đó, tác giả thay mặt nhân dân thể hiện niềm ước mong: trong thời buổi loạn lạc, nhiễu nhương, hỗn loạn, cái xấu cái ác hoành hoành những con người tài đức, dám ra tay cứu nạn giúp đời như Lục Vân Tiên thật đáng quý, đáng trân trọng biết bao.

Tiếp đến là hình tượng nhân vật Kiều Nguyệt Nga, nàng cũng là nhân vật chính và là nhân vật lí tưởng trong tác phẩm. Với tư cách là một người chịu hàm ơn, Kiều Nguyệt Nga đã bộc lộ rất nhiều những phẩm chất tốt đẹp của người con gái: Cách xưng hô của nàng với Lục Vân Tiên, gọi chàng là “quân tử”, tự xưng mình là “tiện thiếp”. Điều đó, bộc lộ cách ứng xử của một người phụ nữ thùy mị, nết na, khiêm nhường, đầy sự tôn trọng đối với người đang giao tiếp. Tiếp đến, nàng còn hiện lên là người phụ nữ khuôn phép, có học thức của một tiểu thư khuê các, gia giáo:

Cuối cùng, với tư cách là người chịu ơn, nàng cư xử đúng mực, biết trước biết sau, biết ơn với người đã cứu giúp mình:

Với nàng, Lục Vân Tiên không chỉ cứu mạng mà còn cứu cả cuộc đời trinh bạch trong trắng của nàng: “Lâm nguy chẳng gặp giải nguy/ Tiết trăm năm cũng bỏ đi một hồi”. Vì thế nàng tìm mọi cách để thuyết phục Lục Vân Tiên nhận sự tạ ơn của mình: “Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi”. Cuối cùng, nàng đã cảm mến Lục Vân Tiên mà họa vẽ bức chân dung của mình rồi đưa cho chàng, tự nguyện gắn bó cuộc đời của mình với Lục Vân Tiên, dám liều mình để giữ trọn ân tình, thủy chung với chàng. Đến đây, chúng ta nhận ra một mô típ quen thuộc ở truyện thơ Nôm truyền thống: chàng trai tài giỏi, cứu cô gái khỏi tình huống hiểm nghèo, rồi đi từ ân nghĩa đến tình yêu…

Xét về mặt nghệ thuật, thông qua việc phân tích ở trên, chúng ta thấy được nhân vật trong đoạn trích này chủ yếu được miêu tả qua hành động, cử chỉ, lời nói, ít khắc họa ngoại hình, càng ít đi sâu vào diễn tả nội tâm, rất gần với văn học dân gian; ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày và mang màu sắc Nam Bộ, phù hợp với ngôn ngữ người kể chuyện; lời thơ với giọng điệu kể chuyện linh hoạt, khéo léo, phù hợp với diễn biến tình tiết và tính cách nhân vật.

Tóm lại, đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” là một đoạn trích hay, độc đáo, có thể coi đây là một bản trường ca ca ngợi chính nghĩa và những đạo đức đáng quý, tốt đẹp ở đời. Thể hiện niềm ước mơ của tác giả, của nhân dân về khát vọng hành đạo, giúp đời, hướng tới lẽ công bằng, cái thiện, cái đẹp sẽ luôn chiến thắng cái xấu, cái ác…

Lục Vân Tiên là một nhân vật lí tưởng, hội tụ đầy đủ những chuẩn mực của một người anh hùng nghĩa hiệp, tuổi trẻ, tài cao, lòng đầy khát khao được đem công danh, tài năng cứu người, giúp đời. Đoạn trích “ Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” đã phần nào thể hiện được tính cách của Lục Vân Tiên Trên đường đi thi, gặp bọn cướp Phong Lai hoành hành Lục Vân Tiên xông vào đánh cướp để cứu dân. Đây là một việc nghĩa mà chàng không thể không làm với mục đích cao đẹp, xuất phát từ tấm lòng tự nguyện.

Chỉ một mình, lại không có vũ khí, chàng đã dám bẻ gậy xông vào bọn cướp đông người giáo gươm đầy đủ. Hình ảnh Lục Vân Tiên xông xáo tung hoành được nhà thơ miêu tả thật đẹp sánh ngang với hình ảnh Triệu Tử Long – một dũng tướng thời Tam Quốc:

Với võ nghệ cao cường, Lục Vân Tiên đã đánh tan bọn cướp và tiêu diệt tên đầu đảng Phong Lai. Hành động của chàng còn tỏ rõ đức độ của người nghĩa hiệp: Giữa đường thấy sự bất bình chẳng tha. Không sợ nguy hiểm, Vân Tiên sẵn sàng vì nghĩa trừ hại cho dân.

Đánh xong bọn cướp thấy hai cô gái còn chưa hết hãi hùng Vân Tiên đã ân cần hỏi han, an ủi họ. Hành động của chàng thật đàng hoàng, chững chạc. Tuy có phần câu nệ nhưng vẫn là phong độ giữ lễ của một con người có văn hóa trong khi ứng xử với hai người con gái: “Khoan khoan ngồi đó chớ ra. Nàng là phận gái ta là phận trai”. Vân Tiên đã từ chối cái lạy trả ơn, từ chối lời mời đền đáp, không nhận trâm vàng trao tặng mà chỉ nhận lời cùng Nguyệt Nga làm thơ xướng họa. Câu trả lời “Làm ơn há dễ trông người trả ơn” và đặc biệt là câu nói của Vân Tiên: “Nhớ câu kiến nghĩa bất vi. Làm người thế ấy cũng phi anh hùng”, cho thấy một người anh hùng lí tưởng của Nguyễn Đình Chiểu là thấy việc nghĩa thì tự nguyện làm, và đã làm việc nghĩa thì không cần trả ơn. Đó cũng là quan niệm của nhân dân ta: Làm phúc không cần được phúc. Lục Vân Tiên, qua đoạn trích, không chỉ là một chàng trai tài ba, dũng cảm mà còn là một con người trọng nghĩa khinh tài.

Hình ảnh Vân Tiên đánh cướp được khắc họa thần tình. Cử chỉ, hành động, ngôn ngữ và cách ứng xử của chàng rất đẹp, mang phong thái người anh hùng, người tráng sĩ ngày xưa. Chúng ta không thể nào quên một Vân Tiên quả cảm, nhân hậu, chí khí của Cụ Đồ Nguyễn Đình Chiểu.

Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ yêu nước Nam Bộ. Ông sống trong thời kỳ loạn lạc, xã hội rối ren, chế độ phong kiến Việt Nam suy tàn, bọn vua quan nhà Nguyễn thối nát. Xã hội đen tối, đau thương. Ngoài những thơ văn yêu nước, Nguyễn Đình Chiểu nổi tiếng với truyện thư Truyện Lục Vân Tiên dài 2082 câu thơ lục bát.

Truyện thơ đề cao trung, hiếu, tiết, hạnh theo quan niệm đạo lí của nhân dân ta. Đạo làm tôi, đạo làm con, tình bằng hữu, nghĩa vợ chồng… được nhà thơ hết lời ca ngợi:

Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga là hai nhân vật trung tâm của truyện thơ sáng ngời trung hiếu, tiết hạnh.

Đoạn thơ Lục Vân Tiên đánh cướp là một trong những đoạn thơ hay nhất của tác phẩm, tiêu biểu cho bút pháp tự sự của Nguyễn Đình Chiểu. Nhân vật Lục Vân Tiên được khắc họa thành mẫu người anh hùng lí tưởng tuyệt đẹp: giàu lòng thương người, dũng cảm và vị nghĩa cao cả.

Lòng thương người là đức hạnh tốt đẹp nhất của Lục Vân Tiên. Từ giã thầy, chàng xuống núi, hăm hở về kinh đô ứng thí. Lộ trình đầy gian nan. Giữa đường, Lục Vân Tiên bất ngờ gặp nhân dân dắt díu nhau chạy trốn, tiếng kêu khóc vang lên thảm thiết. Chàng đã ân cần hỏi han sự tình đầu đuôi và quyết ra tay đánh cướp để cứu dân lành thoát khỏi cảnh đau thương, nước sôi lửa bỏng:

Căm giận lũ bất lương, Lục Vân Tiên sôi sục lên án hành động dã man của chúng. Chàng đã đứng về phía nhân dân, quyết bảo vệ dân:

Đạo lý của nhân dân ta rất đẹp “Thương người như thể thương thân”. Lục Vân Tiên đã hành động vì tình thương bao la ấy.

Tình thương người đã nâng cao chí khí và lòng dũng cảm cho người thư sinh họ Lục. Lũ cướp rất đông và đáng sợ, gươm giáo sáng ngời. Tướng cướp Phong Lai “mặt đỏ phừng phừng” đầy sát khí. Hắn dữ tợn và có sức khoẻ muôn người khôn địch! Giữa vòng vây của lũ cướp, không một tấc sắt trong tay, một mình với cành cây làm gậy, Lục Vân Tiên đã dũng cảm đánh cướp. Đột kích bên tả, xung phong bên hữu, chàng tung hoành giữa bọn cướp. Chúng bị đánh tơi bời. Bọn lâu la đã khiếp đảm quăng gươm giáo bỏ chạy tan tác. Tướng cướp Phong Lai bị tiêu diệt Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã so sánh Lục Vân Tiên đánh cướp với chiến công của hổ tướng Triệu Tử Long phá vòng vây Đương Giang thời Tam quốc để ca ngợi tinh thần quả cảm của người anh hùng vị nghĩa:

Giọng thơ hùng tráng vang lên diễn tả trận đánh cướp đầy kịch tính hấp dẫn. Lục Vân Tiên là tấm gương của một anh hùng vị nghĩa cao đẹp.

Đánh tan lũ cướp sơn đài, Lục Vân Tiên đã giải thoát cho Kiều Nguyệt Nga và Kim Liên. Cuộc kỳ ngộ giữa người đẹp và tráng anh hùng diễn ra cảm động và đầy tình người. Kiều Nguyệt Nga muốn mời chàng hiệp sĩ qua miền Hà Khê để cha nàng “báo đức thù công”.

Nhưng Vân Tiên “nghe nói liền cười”. Một nụ cười rất tươi, biểu lộ một tâm hồn cao cả vô tư, hào hiệp, khảng khái. Chàng xem việc đánh cướp của mình là một hành động nhân nghĩa. Người tráng sĩ phải ra tay cứu nhân độ thế, diệt trừ cái ác, chở che bênh vực người lầm than, bị áp bức. Nếu thấy việc nghĩa mà không làm thì còn đâu đáng mặt anh hùng nữa?

Nguyễn Đình Chiểu đã khắc họa nhân vật Lục Vân Tiên mang cốt cách tráng sĩ thời loạn, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, trọng nghĩa khinh tài, sống và hành động theo phương châm: “Lộ kiến bất bình, bạt đao tương trợ”. Vân Tiên cũng như người anh hùng Từ Hải trong Truyện Kiều.

Hình ảnh Vân Tiên đánh cướp được khắc họa thần tình, cử chỉ, hành động, ngôn ngữ và cách ứng xử của chàng rất đẹp, mang phong thái người anh hùng, người tráng sĩ ngày xưa. Tuy nhiên hình tượng này rất chân thật vì lòng thương người, chí quả cảm, tinh thần vì nghĩa của Vân Tiên đậm đà màu sắc đạo lí nhân dân ta.

Đã gần hai thế kỷ trôi qua, nhân vật Lục Vân Tiên được nhân dân ta yêu mến, hâm mộ. Tinh thần chiến đấu kiên cường của đồng bào miền Nam trong cuộc đấu tranh chống phong kiến và đế quốc trong hơn thế kỷ qua đã làm cho ta cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp lí tưởng của người anh hùng Lục Vân Tiên. Tấm gương sáng chói ấy mãi mãi là một minh chứng hùng hồn về sức mạnh thẩm mĩ của thi ca, của truyện thơ Truyện Lục Vân Tiên mà nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã để lại cho đời.

2082 câu lục bát của truyện thơ Lục Vân Tiên do nhà nho mù lòa Nguyễn Đình Chiểu sáng tác có vị trí cao trong nền văn học Nam Bộ nói riêng và nền văn học dân tộc nói chung. Đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga ”để lại nhiều ấn tượng đẹp bởi hình ảnh Lục Vân Tiên -người anh hùng chiến đấu vì nghĩa, văn võ song toàn.

Đoạn trích là một trong những đoạn thơ hay nhất của tác phẩm, tiêu biểu cho bút pháp tự sư của Nguyễn Đình Chiểu. Nhân vật Lục Vân Tiên được khắc hoạ thành mẫu người anh hùng lý tưởng tuyệt đẹp: giàu lòng thương người, dũng cảm và nghĩa hiệp.

Bản tính anh hùng nghĩa hiệp là đức tính tốt đẹp nhất của Vân Tiên.Từ giã thầy chàng hăm hở xuống núi về kinh đô ứng thí.Trên lộ trình gian nan ấy chàng bất ngờ gặp cảnh dân dắt díu nhau chạy loạn, kêu khóc thảm thương, chàng hứa:

Căm giận lũ bất lương, Vân Tiên sôi sục lên án hành động dã man của chúng. Chàng đứng về phía nhân dân, phía người bị nạn, bẻ cây làm gậy xông thẳng vào bọn cướp Phong Lai hung dữ:

Đạo lý thương người như thể thương thân, thấm nhuần và tỏa rạng trong hành động của Vân Tiên.Tình thương người đã nâng cao chí khí và lòng dũng cảm cho chàng thư sinh họ Lục. Bọn cướp đông đặc, gươm giáo sáng ngời, bừng bừng sát khí.Còn Vân Tiên chỉ có một vũ khí thô sơ “cây gậy bên đàng ”.Thế mà trong cuộc chiến không cân sức ấy:

Không tả tỉ mỉ trận chiến, chỉ bằng mấy dòng thơ ngắn gọn mà đặc sắc cùng nghệ thuật so sánh, tác giả đã làm nổi bật hình ảnh một dũng tướng đánh nhanh,kín võ, sánh ngang Triệu Tử Long thời Tam Quốc trong trận phá vây quân Tào bảo vệ ấu chúa.Việc làm của Vân Tiên cao đẹp hơn bởi nó xuất phát từ lòng nhân từ, từ tư tưởng cứu dân diệt ác nên giản dị, vô tư mà trong sáng, cao đẹp vô cùng.Cuộc chiến của chàng giống hệt thuở xưa Thạch Sanh diệt đại bàng cứu nàng công chúa. Sức mạnh của chàng là kết tinh sức mạnh của nhân dân, của điều thiện nên nó vô địch:

Lời thơ chân chất, thô mộc song hồn thơ thì chan chứa dạt dào.Nó nêu bật một chân lý:kẻ bất nhân độc ác thì thảm bại,người anh hùng làm việc nghĩa sẽ chiến thắng.

Tự nguyện dấn thân vào nguy hiểm, chiến đấu hết mình, thắng lợi rực rỡ. Tất cả đều vì nhân nghĩa, nên sau thắng lợi Vân Tiên không hề kiêu ngạo.Trái lại chàng thật khiêm nhường, chính trực, chân thành mà dung dị. Cuộc kỳ ngộ giữa người đẹp và trang anh hùng diễn ra thật cảm động.Nguyệt Nga tha thiết muốn mời chàng hiệp sĩ qua miền Hà Khê để nàng báo đức thù công, “ Vân Tiên nghe nói liền cười” nụ cười đáng yêu đáng kính của một tâm hồn vô tư hào hiệp.Chàng cười bởi chàng quan niệm:

Đúng là giọng nói, cách nói của chàng trai Nam Bộ nôm na, giản dị mà chất phác vô cùng.Đằng sau những lời giản dị ấy là ngọt ngào, thơm thảo một quan niệm nhân sinh, một tấm lòng nhân ái, hào hiệp.Với chàng, ơn nghĩa là việc thông thường của người sống có văn hoá, đang theo đòi kinh sử, hướng về nghĩa khí, lấy chữ nhân làm động cơ, làm mục đích cho mọi hành động. Chàng hành động vì lòng nhân, vì nghĩa lớn, trừ kẻ ác, bảo vệ người lương thiện.Chàng quan niệm:

Lời nói chắc nịch vừa để đối chứng, phê phán những kẻ tầm thường vừa đẻ khẳng định việc làm đúng đắn, tất yếu thuộc căn cốt, gốc rễ trong lẽ sống của mình.Đó là lẽ sống của những hiền nhân quân tử thời xưa, của con người chân chính ngày nay.Lời nói và nhân cách của chàng giống người anh hùng Từ Hải trong “Truyện Kiều” với quan niệm:

(Nguyễn Du )

Dưới ngòi bút của Nguyễn Đình Chiểu, nhân vật Lục Vân Tiên mang cốt cách của tráng sĩ thời loạn, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, trọng nghĩa khinh tài, sống và hành động theo phương châm: “Lộ kiến bất bình, bạt đao tương trợ ”.Dẫu còn bị ảnh hưởng bởi quan niệm phong kiến “nam nữ thụ thụ bất thân” song ngôn ngữ, cử chỉ, hành động của chàng rất đẹp, rất anh hùng.Lòng thương người, chí quả cảm và tinh thần vị nghĩa của chàng đậm màu sắc đạo lý của dân tộc ta.

Bằng giọng thơ phóng khoáng, chân mộc và ngôn từ bình dị, đoạn trích đã hoàn thiện một cách xuất sắc hình ảnh chàng Lục Vân Tiên anh hùng, nghĩa hiệp. Đọc thơ càng thêm trân trọng vẻ đẹp tâm hồn của nhà nho yêu nước, yêu đạo lý mà người dân Nam Bộ vẫn trìu mến gọi là Đồ Chiểu.

Truyện Lục Vân Tiên là tác phẩm nổi bật nhất của Nguyễn Đình Chiểu, tác phẩm này được đông đảo bà con yêu mến vì những đạo lý, những tư tưởng giáo huấn trong tác phẩm này. Ngay từ những câu mở đầu tác phẩm ngày Nguyễn Đình Chiểu đã viết: “Trai thời trung hiếu làm đầu/ Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”. Và chỉ trong đoạn trích ngắn “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” ông đã thể hiện đầy đủ, rõ ràng quan điểm đó của mình.

Trong tác phẩm gồm hai nhân vật chính là Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga. Hai nhân vật gặp nhau trong hoàn cảnh, Kiều Nguyệt Nga gặp phải bọn cướp giữa đường, Lục Vân Tiên thấy chuyện bất bình đã ra tay cứu giúp. Hoàn cảnh gặp gỡ đặc biệt này đã giúp các nhân vật bộc lộ rõ tính cách, phẩm chất của mình.

Trước hết về nhân vật Lục Vân Tiên, anh là một người có tinh thần trượng nghĩa. Ngay khi gặp người bị nạn, anh không trần trừ, suy nghĩ mà lập tức, sẵn sàng xả thân đánh cướp: “Vân Tiên ghé lại bên đàng/ Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô”. Chàng chỉ có một mình, còn lũ cướp lại hết sức đông đảo, nhưng không vì thế mà Vân Tiên nhụt ý chí. Ở đoạn thơ này, Nguyễn Đình Chiểu đã sử dụng hàng loạt từ Hán Việt, tạo không khí hào hùng áp đảo kẻ thù.

Các từ ngữ rất giàu giá trị tạo hình “tả đột hữu xông” cho thấy dáng vẻ oai phong, động tác nhanh nhẹn, chính xác của Vân Tiên khi chiến đấu với bọn cướp. Bằng sức mạnh phi thường, lòng dũng cảm và võ nghệ cao cường Vân tiên đã phá tan bọn lâu la, làm cho chúng chạy toán loạn tứ phía.

Sau khi phá tan lũ cướp, Vân Tiên rất cẩn thận và chu đáo, đến hỏi han người bị nạn bằng những lời lẽ khiêm nhường. Qua những lời hỏi han, hành động sau đó của Lục Vân Tiên còn thấy chàng là người biết trọng lễ nghĩa:

Theo lễ giáo phong kiến con trai và con gái thường không được trực tiếp gặp nhau, hơn nữa đây là một người lạ, thì việc ấy càng phải thận trọng hơn. Thái độ đó của Vân Tiên cho thấy chàng là người hết sức giữ gìn lễ nghĩa, và cũng là vì nghĩ cho người con gái xa lạ. Đó là nét đẹp trong văn hóa ứng xử của một đấng quân tử.

Không chỉ vậy, Vân Tiên còn mang trong mình tinh thần hào hiệp của một bậc anh hùng. Nghe những lời giãi bày của Kiều Nguyệt Nga, mong muốn của nàng muốn báo đáp mình, Vân Tiên chỉ cười lớn, đó là tiếng cười vô tư, trong sáng. Sự vô tư, không tính toán ấy được thể hiện rõ nhất trong câu:

Đó là quan niệm về người anh hùng, làm việc nghĩa cứu giúp mọi người không màng bổng lổng, nếu chỉ suy nghĩ về những lợi ích mình được hưởng thì không còn là một người anh hùng thực thụ nữa. Quan niệm này cũng trở đi trở lại rất nhiều lần trong tác phẩm của ông như: Dốc lòng nhơn nghĩa há chờ trả ơn. Đây là một truyền thống đạo lí tốt đẹp, mà tác giả muốn truyền tải đến bạn đọc.

Lục Vân Tiên là hình tượng hội tụ đầy đủ vẻ đẹp của người anh dùng, vừa quả cảm, hào hiệp vừa nhân hậu. Đồng thời với nhân vật này, tác giả cũng thể hiện quan điểm về một người anh hùng phải là người có tài trí, sức mạnh và sẵn sàng hành động vì nghĩa lớn.

Ngoài nhân vật Lục Vân Tiên ta cũng không thể không nhắc đến Kiều Nguyệt Nga. Nàng là một người con gái nề nếp, có học thức. Nguyệt Nga vốn là khuê môn, lệnh các, xuất thân từ con nhà quyền quý. Nhưng không vì thế mà nàng tỏ ra kiêu ngạo, hợm hĩnh.

Đứng trước ân nhân của mình nàng hết sức khiêm nhường, cách nói năng kiêm xưng, gọi Vân Tiên là “quân tử”, tự gọi mình là “tiện thiếp”, hành động nhún mình “lạy, thưa”. Qua đó cho thấy nàng là người con gái có học thức, thông minh, mực thước trong lời ăn tiếng nói. Không chỉ vậy nàng còn sống hết sức khuôn phép theo lễ nghĩa phong kiến. Theo lời cha mẹ, nàng đến tận miền Hà Khê để định bề nghi gia nghi thất không quản đường sá xa xôi, gặp biết bao hiểm nguy, vất vả. Nàng quả là người con có hiếu.

Là một người có học, nên Nguyệt Nga hiểu những quy tắc lễ nghĩa phong kiến, nhưng nàng vẫn muốn ra khỏi xe để đa tạ ơn cứu mạng của Lục Vân Tiên. Cho thấy tấm lòng biết ơn sâu sắc của nàng. Đáng quý hơn cả là nàng ý thức sâu sắc rằng không bạc vàng nào có thể xứng với ân nghĩa kia, qua đó cho nàng là người rất coi trọng tình nghĩa. Kiều Nguyệt Nga là kết tinh cho vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ truyền thống. Nàng không chỉ gia giáo, nết na, có học thức mà còn rất đằm thắm, nghĩa tình.

Tác giả sử dụng thể thơ lục bát thuần dân tộc, với ngôn ngữ giản dị mộc mạc, dễ đi vào lòng người nhưng vẫn hết sức sâu sắc, truyền tải những thông điệp ý nghĩa. Xây dựng tuyến nhân vật thiện ác rõ ràng, qua đó cũng thể hiện quan niệm của ông về con người.

Đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga xây dựng thành công hai nhân vật đại diện cho những vẻ đẹp chuẩn mực của xã hội. Tác phẩm còn thể hiện khát vọng hành đạo giúp đời của ông. Tất cả vẻ đẹp nhân vật, những khát vọng ông gửi gắm đều phù hợp với phong cách sống, với mơ ước giản dị mà đẹp đẽ của nhân dân ta.

Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ yêu nước sống ở thế kỉ thứ XIX, cuộc đời ông gặp nhiều đau thương bất hạnh trong hoàn cảnh xã hội đương thời nhiều biến đổi lớn lao. Trong những thử thách ấy, sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Đình Chiểu lại là những dấu ấn tinh thần lớn lao của thời đại và xã hội ấy trong đó tác phẩm “Lục Vân Tiên” là một truyện thơ Nôm điển hình.

Hình ảnh người anh hùng Lục Vân Tiên là nhân vật trung tâm của truyện và được thể hiện khí phách nhất có lẽ là ở đoạn trích: “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga”. Từ biệt tôn sư về đi thi, giữa đường lại gặp phải chuyện bất bình, Lục Vân Tiên không ngại ra tay tương trợ:

Sự việc diễn ra thật bất ngờ, nhanh chóng bởi Vân Tiên chỉ là người qua đường thấy bất bình thì chẳng tha. Chàng dường như không kịp suy nghĩ, không lo đến an nguy của bản thân mà cứ thế xông vào dẹp tan lũ cướp cứu người. Chàng không hề biết trong kiệu là nàng Kiều Nguyệt Nga xinh đẹp con quan, chàng chỉ coi đó là người dân bình thường, không toan tính thiệt hơn, làm việc tốt xuất phát từ đáy lòng. Trước quân thù đông đảo cùng với một tên tướng hung dữ “mặt đỏ phừng phừng” chàng vẫn không hề nao núng:

Ta thấy hiện lên hình ảnh một người anh hùng đội trời đạp đất có sức mạnh và tài năng hơn người được so sánh như Triệu Tử Long- một vị anh hùng tiêu sái dũng mãnh đang oai hùng phá vòng Đương Dương. Đúng là khí phách của một chàng trai Nam Bộ cương trực, có phần liều lĩnh, thấy lũ cướp hoành hành hại dân là không giấu nổi sự tức giận của một đấng nam nhi mà ra tay dẹp lũ lâu la. Thật là can trường biết bao. Nguyễn Đình Chiểu quả đã xây dựng ở Lục Vân Tiên một khi chất của vị anh hùng tài đức mà nhân dân ta vẫn hằng mong ước.

Sau khi dẹp xong “lũ kiến chòm ong”, Vân Tiên mới hỏi thăm đến người trong xe. Nghe được tiếng kêu than cảm tạ của cô hầu gái, Vân Tiên có lẽ đã đoán ra người ngồi trên xe là một tiểu thư nên chàng can ngăn:

Chỉ một câu nói này thôi, chàng thư sinh họ Lục đã để lại ấn tượng về một người đọc sách thánh hiền, hiểu rõ đạo lí nam nữ thụ thụ bất tương thân. Đó cũng tỏ ra là tôn trọng vị tiểu thư khuê các trong xe. Rồi chàng hỏi han sự tình về người con gái chưa thấy mặt kia. Cảm tạ trước ơn cứu mạng cùng sự ngay thẳng của Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga có ý đền ơn cho trọn. Nhưng ngay từ đầu, ra tay dẹp cướp là xuất phát từ lòng hiệp nghĩa, chứ đâu có ý nghĩa mong sẽ được lợi lộc gì, vì vậy Lục Vân Tiên cũng không có ý nhận báo đáp nên đã từ chối thẳng thừng:

Vân Tiên nghe nói liền cười:

Người anh hùng này làm ơn nhưng không mong nhận ơn, chàng coi việc mình làm là chính đáng không so đo thiệt hơn, coi danh vọng tiền bạc chỉ là phù phiếm vô nghĩa. Chàng là sĩ tử nơi thi trường nhưng lại có khí phách hành hiệp trượng nghĩa của những kiếm khách hào hiệp trong thiên hạ. Cái cười sảng khoái của chàng chính là đã thể hiện chí khí của một nam tử hán đại trượng phu đáng khâm phục.

Bằng những từ ngữ hết sức giản dị, cách kể chuyện mộc mạc, dễ hiểu, văn phong trong sáng mang đậm những hiểu biết về đạo nghĩa, hình ảnh người anh hùng Lục Vân Tiên xuất hiện ý như một anh hùng của nhân dân, cho nhân dân và vì nhân dân.

Hình ảnh Vân Tiên đánh cướp được khắc họa thần tình. Cử chỉ, hành động, ngôn ngữ và cách ứng xử của chàng rất đẹp, mang phong thái người anh hùng, người tráng sĩ ngày xưa. Chúng ta không thể nào quên một Vân Tiên quả cảm, nhân hậu, chí khí của Cụ Đồ Nguyễn Đình Chiểu.

Với Nguyễn Đình Chiểu, nhà thơ lớn của đất Đồng Nai, bên cạnh những bài văn tế, bài thơ sục sôi quân cướp nước, chứa chan tình yêu nước thương dân trong cảnh li loạn; là những truyện thơ nêu cao nhân nghĩa, đạo lý làm người. “Truyện Lục Vân Tiên” đã làm cho tên tuổi Đô Chiểu trở thành bất tử. Trung, hiếu, tiết, nghĩa đã chiếu sáng lung linh những vần thơ đẹp:

Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga là hai nhân vật trung tâm của truyện thơ sáng ngời trung hiếu, tiết hạnh.

Đoạn thơ “Lục Vân Tiên đánh cướp” là một trong những đoạn thơ hay nhất của tác phẩm, tiêu biểu cho bút pháp tự sự của Nguyễn Đình Chiểu. Nhân vật Lục Vân Tiên được khắc họa thành mẫu người anh hùng, lí tưởng tuyệt đẹp: lòng thương người, dũng cảm và vị nghĩa cao cả.

Lòng thương người là đức hạnh tốt đẹp nhất của Lục Vân Tiên. Từ giã thầy, chàng xuống núi, hăm hở về kinh đô ứng thí. Lộ trình đầy gian nan. Giữa đường, Lục Vân Tiên bất ngờ gặp nhân dân dắt díu nhau chạy trốn, tiếng kêu khóc vang lên thảm thiết. Chàng đã ân cần hỏi han sự tình đầu đuôi và quyết ra tay đánh cướp đê cứu dân lành thoát khỏi cảnh đau thương, nước sôi lửa bỏng:

Căm giận lũ bất lương, Lục Vân Tiên sôi sục lên án hành động dã man của chúng. Chàng đã đứng về phía nhân dân, quyết bảo vệ dân:

Đạo lý của nhân dân ta rất đẹp “Thương người như thể thương thân”. Lục Vân Tiên đã hành động vì tình thương bao la ấy.

Tình thương người đã làm cao chí khí và lòng dũng cảm cho người thư sinh họ Lục. Lũ cướp rất đông và đáng sợ gươm giáo sáng ngời. Tướng cướp Phong Lai “mặt đỏ phừng phừng” đầy sát khí. Hắn dữ tợn và có sức khoe muôn người khôn địch! Giữa vòng vây của lũ cướp, không một tấc sắt trong tay, một mình với cành cây làm gậy, Lục Vân Tiên đã dũng cảm đánh cướp. Đột kích bên tả, xung phong bên hữu, chàng tung hoành giữa bọn cướp. Chúng bị đánh tơi bời. Bọn lâu la đã khiếp đảm quăng gươm giáo bỏ chạy tan tác. Tướng cướp Phong Lai bị tiêu diệt. Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã so sánh Lục Vân Tiên đánh cướp với chiến công của hổ tướng Triệu Tử Long phá vòng vây Dương Đang thời Tam quốc để ca ngợi tinh thần quả cảm của người anh hùng vị nghĩa:

Giọng thơ hùng tráng vang lên diễn tả trận đánh cướp đầy kịch tính hấp dẫn.

Lục Vân Tiên là một anh hùng vị nghĩa cao đẹp.

Đánh tan lũ cướp sơn đài, Lục Vân Tiên đã giải thoát cho Kiều Nguyệt Nga và Kim Liên. Cuộc kỳ ngộ giữa người đẹp và trang anh hùng diễn ra cảm động và đầy tình người. Kiều Nguyệt Nga muốn mời chàng hiệp sĩ qua miền Hà Khê, để cha nàng “báo đức thù công”:

Nhưng Vân Tiên “nghe nói liền cười”. Một nụ cười rất tươi, biểu lộ một tâm hồn cao cả: vô tư, hào hiệp, khảng khái. Chàng xem việc đánh cướp của mình là một hành động nhân nghĩa. Người tráng sĩ phải ra tay cứu nhân độ thế, diệt trừ cái ác, chở che bênh vực người lầm than, bị áp bức. Nếu thấy việc nghĩa mà không làm thì còn đâu đáng mặt anh hùng nữa ?

Nguyễn Đình Chiểu đã khắc họa nhân vật Lục Vân Tiên trang cốt cách tráng sĩ thời loạn, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, trọng nghĩa khinh tài. Sống và hành động theo phương châm: “Lộ kiến bất bình, bạt đao tương trợ”. Vân Tiên cũng như người anh hùng Từ Hải trong “Truyện Kiều”.

Hình ảnh Vân Tiên đánh cướp được khắc họa thần tình. Cử chỉ, hành động, ngôn ngữ và cách ứng xử của chàng rất đẹp, mang phong thái người anh hùng, người tráng sĩ ngày xưa. Tuy nhiên hình tượng này rất chân thật vì lòng thương người, chí quả cảm, tinh thần vị nghĩa của Vân Tiên đậm đà màu sắc đạo lí nhân dân ta. Trên một trăm năm mươi năm qua, nhân vật Lục Vân Tiên được nhân dân ta yêu mến, hâm mộ. Tinh thần chiến đấu kiên cường của đồng bào miền Nam trong cuộc đấu tranh chống phong kiến và đế quốc trong hơn thế kỉ qua đã làm cho ta cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp lí tưởng của người anh hùng Lục Vân Tiên. Tấm gương sáng chói ấy mãi mãi là một minh chứng hùng hồn về sức mạnh thẩm mĩ của thi ca, của truyện thơ Lục Vân Tiên mà nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã để lại cho đời.

Tinh thần nghĩa hiệp của Lục Vân Tiên như viên ngọc quý sáng bừng lên dư vị ngòi bút sắc nhọn của Nguyễn Đình Chiểu:

Truyện Lục Vân Tiên là truyện Nôm nổi tiếng của Nguyễn Đình Chiểu, đề cao trung, hiếu, tiết, nghĩa, phê phán thói phản, trắc, đố kị, bất nhân bất nghĩa. Lục Vân Tiên là nhân vật anh hùng, văn võ toàn tài, thể hiện trọn vẹn ước mơ, lí tưởng của tác giả. Đoạn Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga là đoạn kể về chiến công đầu tiên chàng trai họ Lục và cũng là cuộc gặp gỡ kì lạ đầu tiên giữa hai nhân vật chính trong truyện, một hình thức giới thiệu nhân vật thường thấy trong lối tự sự. Đoạn văn đã thể hiện nổi bật khí phách anh hùng và tinh thần nghĩa khí của Lục Vân Tiên, cũng như lòng biết ơn, lưu luyến của Kiều Nguyệt Nga.

Sau khi từ biệt thầy học, lên đường lập nghiệp, Vân Tiên một mình đã qua mấy ngày đường đang tìm nơi trú chân và kết bạn thì gặp phải đám cướp làm cho dân làng tán loạn. Hỏi được nguyên nhân, Vân Tiên khảng khái xin nhận việc diệt cướp:

Mặc cho mọi người khuyên can, ngăn cản, Vân Tiên vẫn một lòng xông ra.

Đoạn mở đầu với việc Vân Tiên tìm vũ khí:

Chiếc gậy bằng cây là một vũ khí quá thô sơ trước một đảng cướp khét tiếng: nhưng với vũ khí đó càng chứng tỏ tinh thần anh dũng của Vân Tiên.

Cái cách đánh giặc của chàng cũng công khai, đàng hoàng, quang minh, chính đại như các anh hùng hảo hán: gọi tên, trách mắng. Tên giặc điên cuồng kêu quân vây bủa. Vân Tiên một mình tả đột hữu xung:

Trận đánh kết thúc nhanh chóng như trong truyện cổ tích. Người đọc chưa kịp hồi hộp mà quân giặc dường như chỉ chờ Vân Tiên đến là bỏ chạy và chịu chết. Đó không phải trận đánh của vũ lực mà là trận đánh chính nghĩa chống gian tà.

Sau trận diệt cướp là cuộc gặp gỡ với người đẹp gặp nạn. Điều thú vị là cuộc gặp gỡ này chỉ có toàn đối thoại, người hỏi, người đáp ngoài ra không có miêu ta. Hình như Vân Tiên chỉ nắm bắt thông tin bằng kênh nghe: Vân Tiên “Hỏi: AI ở trong xe này?”. Rồi lời đáp và than khóc:

Tiếp theo là Nguyệt Nga “Thưa rằng” một thôi (22 dòng). Rồi:

Tuy chỉ là hỏi đáp nhưng lời hỏi của Vân Tiên chứng tỏ chàng quang minh chính đại. Lời hỏi dõng dạc: muốn phân định ranh giới nam nữ rõ ràng, muốn biết rõ lí lịch cô gái, nguyên nhân mắc nạn phân biệt thứ bậc tớ thầy. Ngay hành động anh hùng chàng cũng không muốn nhập nhằng với việc làm ơn. Đó là một nhân cách sáng ngời. Nụ cười của chàng mới thiệt hiền lành. Chỉ có hỏi đáp mà tính cách Vân Tiên hiện lên thật đẹp đẽ.

Câu trả lời của Nguyệt Nga cũng thể hiện phẩm chất hiền thục của nàng. Nàng một lòng vâng theo cha mẹ:

Lúc nào nàng cũng muốn làm theo đức hạnh. Chỉ mấy nét mà tác giả đã cho thấy một người nết na, đức hạnh theo quan niệm truyền thống.

Tóm lại đoạn Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga thực chất là đoạn thơ giới thiệu nhân vật. Qua đoạn này, phẩm chất cao đẹp, đức hành của hai nhân vật đã được bộc lộ, làm nền tảng cho tình yêu hai người về sau. Lời văn mộc mạc giản dị mà ý tình sâu nặng càng đọc càng thấy ý nghĩa sâu sắc và chắc nịch. Nhân vật nào cũng sống theo những lời day đạo đức cổ truyền. Lục Vân Tiên thì “Nhớ câu kiến ngãi bất vi, làm người thế ấy cũng phi anh hùng”, theo câu “nam nữ thụ thụ bất thân”: “nàng là phận gái ta là phận trai”, rồi thoe câu “Làm ơn há dễ trông người trả ơn”. Kiều Nguyệt Nga thì theo câu “Làm con đâu dám cãi cha”, lại theo câu “báo đức thù công”. Ta có thể nói trong các truyện Nôm, đây là những nhân vật “cổ điển nhất trong các nhân vật “cổ điển”.

Trong nền văn học của Việt Nam ta, nếu như Truyện Kiều của Nguyễn Du được xem là đỉnh cao, là kiệt tác của nền thơ ca bác học trong thể loại truyện thơ Nôm, thì Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu lại được xem là viên ngọc sáng, mang những giá trị nhân văn, nhân bản sâu sắc, hướng con người đến với chữ “Thiện”, thông qua cách sử dụng kết cấu cốt truyện kinh điển trong văn học dân gian phương Đông. Nhân vật chính là người có tài, có nhiều phẩm chất tốt đẹp, nhưng luôn gặp nhiều gian khó và đều vượt qua được nhờ sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ của các nhân vật phụ trợ, và cuối cùng là một cái kết có hậu cho nhân vật chính, kẻ ác phải chịu quả báo. Từ đó rút ra bài học nhân sinh sâu sắc về cách con người đối xử với nhau trong cuộc sống, và chân lý không bao giờ thay đổi, ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác.

Lục Vân Tiên, được sáng tác vào khoảng đầu những năm 50 của thế kỷ XIX, thuộc thể loại truyện thơ Nôm bác học, gồm 2082 câu thơ lục bát tất cả. Về giá trị nội dung, Lục Vân Tiên xoay quanh cuộc đấu tranh giữa hai phe thiện và ác, từ đó mang đến giá trị hiện thực, vạch trần bộ mặt của những kẻ bất nhân, bất nghĩa lừa thầy phản bạn, vạch trần những cái xấu, cái bất công trong xã hội. Thứ hai là giá trị nhân đạo vững vàng của tác phẩm, khẳng định và ngợi ca những phẩm chất đẹp đẽ cao quý của con người, như tinh thần trượng nghĩa, lòng hiếu thảo, lòng chung thủy; ca ngợi tình nghĩa giữa con người với con người, như tình mẫu tử, tình nghĩa bạn bè,…; đề cao khát vọng của nhân dân hướng tới lẽ công bằng trong xã hội thiện thắng ác, chính nghĩa thì thắng gian tà; ngoài ra tác phẩm còn lên án những kẻ xấu xa bất nhân bất nghĩa lừa thầy phản bạn. Về giá trị nghệ thuật, Lục Vân Tiên xoay quanh cuộc đấu tranh giữa hai tuyến nhân vật thiện – ác, mang màu sắc Nam Bộ đậm đà về cả ngôn ngữ, tính cách nhân vật,… Đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga thuộc phần đầu của tác phẩm, kể lại việc Vân Tiên đánh cướp Phong Lai để cứu Nguyệt Nga và cuộc đối đáp giữa hai người.

Advertisement

Nhân vật Lục Vân Tiên trong phân đoạn đánh cướp Phong Lai, hiện lên với dáng vẻ của một con người có tinh thần trượng nghĩa, không hề băn khoăn do dự khi đánh cướp, được Nguyễn Đình Chiểu thể hiện một cách nhẹ nhàng trong câu thơ: “Vân Tiên ghé lại bên đàng/Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô”. Điều đó chính tỏ rằng đối với Lục Vân Tiên việc đánh cướp cứu người như là một lẽ tự nhiên, “bẻ cây làm gậy” không màng đến an nguy của bản thân. Nguyên nhân xuất phát từ thái độ bất bình của chàng trước những kể tàn ác xấu xa “đảng hung đồ”, thứ hai là xuất phát từ lòng yêu thương bênh vực cho dân lành bị hãm hại. Ngoài tinh thần trượng nghĩa thì Lục Vân Tiên còn là một anh hùng quả cảm, có võ nghệ cao cường, nếu so với bọn cướp bủa vây bốn phía thì chàng chỉ có một mình, tay không tấc sắt chỉ có một thân cây làm gậy. Đó là trận đánh không cân sức, một bên là tướng cướp hung dữ “Phong Lai mặt đỏ phừng phừng”, quân cướp thì đông đúc, vũ khí gươm giáo đầy đủ. Từ đó tô đậm lòng dũng cảm, sự tài giỏi của Lục Vân Tiên.

Thế nhưng với sự tài giỏi ứng biến tài tình, Lục Vân Tiên đã xung trận với một khí thế áp đảo “tả đột hữu xông”, được ví như hình ảnh của võ thần Triệu Tử Long thời Tam Quốc một mình, một ngựa phá vỡ vòng vây của Tào Tháo, để cứu đứa con nhỏ của Lưu Bị, thể hiện tầm vóc của người anh hùng với sức mạnh phi thường. Việc sử dụng các từ ngữ Hán việt, nhịp điệu nhanh đã làm nổi bật lên khí thế hào hùng sôi nổi cho trận đánh, cụm từ “tả đột hữu xông” là cụm từ giàu giá trị tạo hình, cho thấy Lục Vân Tiên tung hoành giữa đảng cướp như chốn không người. Bên cạnh việc xây dựng hình tượng người anh hùng Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu còn xây dựng chiến thắng tuyệt đối của chàng trước lũ cướp hung hãn. “Lâu la bốn phía vỡ tan”, hoảng sợ “quăng gươm giáo tìm đàng chạy ngay”, còn kẻ cầm đầu “Phong Lai chẳng kịp trở tay”, trong một thời gian ngắn đã “Bị Tiên một gậy thác rày thân vong”. Thắng lợi trong chớp mắt ấy lại càng tôn lên dáng vẻ quả cảm của người anh hùng có sức mạnh phi thường, phong thái hùng dũng hiên ngang, võ nghệ cao cường, sẵn sàng xả thân vì nghĩa.

Sau khi đánh cướp xong, thì Lục Vân Tiên đã tiến đến hỏi thăm an ủi Kiều Nguyệt Nga, từ đó ta lại thấy được một phương diện khác của người anh hùng này. Lời hỏi thăm rất ân cần, lịch thiệp, “Hỏi: Ai than khóc ở trong xe nầy?” đã cho thấy người anh hùng này không chỉ quả cảm, võ nghệ cao cường mà còn rất giàu lòng nhân hậu. Và sau khi biết được nguyên do thì Lục Vân Tiên chỉ đáp lại bằng một câu ngắn gọn, nhẹ nhàng “Rằng ta đã trừ dòng lâu la” dường như cái trận đánh không cân sức ấy chỉ là một chuyện thoáng qua, thể hiện lòng khiêm nhường, không thích kể công của người anh hùng chân chính. Thứ hai nữa lòng nhân hậu của Lục Vân Tiên, còn thể hiện ở tấm lòng cảm thông, thương xót dành cho những người gặp nạn. Bên cạnh đó vẻ đẹp của người anh hùng còn thể hiện ở sự hiểu biết, một mực giữ gìn lễ nghĩa cho Kiều Nguyệt Nga và cho cả bản thân mình. Lối xưng hô “nàng – ta”, cho thấy tấm lòng trân trọng, thái độ lịch sự của một con người có gia giáo, trở thành một nét đẹp trong lối ứng xử của một người đọc sách thánh hiền.

Và ở trong 6 câu thơ cuối đoạn trích ta lại thấy ở Lục Vân Tiên một lần nữa tấm lòng hào hiệp trượng nghĩa, vì dân trừ hại.

Điều đó thể hiện qua tiếng cười rất vô tư, sảng khoái làm ơn nhưng không màng đến sự đền ơn của người. Tứ hai là thể hiện qua quan niệm về người anh hùng của Lục Vân Tiên “Nhớ câu kiến nghĩa bất vi”, đây là lời thầy dạy trong sách Thánh hiền, là người anh hùng thì phải biết làm việc nghĩa, nếu thấy mà không làm thì không phải là người anh hùng chân chính. Ở Vân Tiên ta còn thấy một phẩm chất, một lối sống cao đẹp của chàng, học đạo phải hành đạo, học đi đôi với hành, sống trong sáng, vô tư, không mưu cầu, kể công. Từ đó rút ra được quan niệm của Nguyễn Đình Chiểu rằng người anh hùng phải là người có tài trí, sức mạnh, sẵn sàng hành động vì nghĩa, mà hình tượng Lục Vân Tiên là hình mẫu lý tưởng, văn võ toàn tài, đại diện cho hình ảnh người quân tử trong xã hội cũ.

Bên cạnh nhân vật chính là Lục Vân Tiên, thì Kiều Nguyệt Nga cũng là một nhân vật được Nguyễn Đình Chiểu khá ưu ái. Thông qua phần nói chuyện với Lục Vân Tiên, thì ta có thể nhận thấy rằng nàng là một người con gái có nề nếp gia giáo, và có học thức. Nguyệt Nga có một xuất thân quyền quý, là tiểu thư khuê các con quan tri phủ Hà Khê, xong nàng lại là người rất giản dị, chân thành, không khoa trương, kênh kiệu đài các. Điều đó bộc lộ ở lời giới thiệu của nàng rất đầy đủ, nhưng vẫn chứng tỏ được sự ngưỡng mộ của mình dành cho Lục Vân Tiên. Lối xưng hô “quân tử-tiện thiếp” và hành động “lạy-thưa” cho thấy sự khiêm nhường, lòng biết ơn rất đỗi chân thành của nàng. Tổng kết lại, Kiều Nguyệt Nga là người con gái thông minh, mực thước và hiểu lễ nghĩa trong lời ăn tiếng nói. Từ câu nói “Làm con đâu dám cãi cha/Ví dầu ngàn dặm đàng xa cũng đành” cho thấy Nguyệt Nga là người sống đúng với khuôn phép gia đình, với lễ giáo phong kiến. Vượt ngàn dặm từ Tây Xuyên đến Hà Khê để định bề nghi gia nghi thất, không quản khó khăn, mệt nhọc, không quản thân gái dặm trường, thể hiện tấm lòng hiếu thảo với cha mẹ. Từ đó để lại một ấn tượng tốt đẹp về một người con gái thùy mị, nết na, thông minh, sắc sảo có học thức.

Bên cạnh những vẻ đẹp trên thì Kiều Nguyệt Nga còn gây ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả, bởi tấm lòng ân nghĩa thủy chung. Dẫu rằng nàng có ý thức rất rõ về lễ giáo nam nữ hữu biệt và hoàn cảnh của mình, thế nhưng đứng trước ân nhân cứu mạng thì nàng vẫn sẵn sàng xuống xe để cảm tạ Lục Vân Tiên, phản ánh tấm lòng biết ơn sâu sắc của nàng. Ngay sau khi bị Vân Tiên ngăn cản không cho xuống xe, thì xuất phát từ tấm lòng áy náy của mình, Nguyệt Nga đã cất lời ca ngợi công lao của Lục Vân Tiên, trước hết là ơn cứu mạng, thứ hai lớn hơn và khiến nàng biết ơn hơn cả ấy là nhờ Vân Tiên mà nàng đã bảo toàn được danh tiết được ngụ ý trong câu “Tiết trăm năm cũng bỏ đi một hồi”, từ đó nó đã trở thành một ân nghĩa không thể không báo đáp. Thế nên nàng đã cất lời mời Lục Vân Tiên về Hà Khê để cha mình đền ơn, cho thấy lối sống, ân nghĩa, thủy chung có trước có sau của Kiều Nguyệt Nga. Và đáng quý hơn cả chính là sự ý thức của nàng về việc không có bạc vàng nào có thể sánh được với công ơn của Lục Vân Tiên, từ đó cho thấy Nguyệt Nga là người coi trọng tình nghĩa, xem tình nghĩa là vô giá. Qua đoạn trích, có thể thấy rằng Kiều Nguyệt Nga chính là kết tinh cho vẻ đẹp của người phụ nữ truyền thống bởi nàng không chỉ gia giáo nết na, có học thức mà còn rất đằm thắm nghĩa tình.

Trích đoạn Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga là một đoạn trích hay, bộc lộ được vẻ đẹp lý tưởng của người quân tử theo quan niệm Nho học thông qua nhân vật Lục Vân Tiên, với sự toàn vẹn về văn võ, sự hiểu biết lễ nghi, đức tính khiêm nhường, cẩn thận, sử quả cảm và thân thủ phi thường. Bên cạnh đó ta còn thấy hiện lên hình ảnh Kiều Nguyệt Nga là kết tinh cho vẻ đẹp của người phụ nữ truyền thống, dịu dàng, nết na, ân tình thủy chung, thấu hiểu lễ nghĩa. Bộc lộ tấm lòng khao khát hành đạo cứu người của tác giả, hướng con người ta đến với chữ ‘thiện”, ước vọng con người đối xử với nhau bằng tình nghĩa, và niềm tin về chân lý cái thiện sẽ luôn luôn chiến thắng cái ác.

Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ lớn nhất của nền văn học Việt Nam thế kỷ 19. Với tấm lòng yêu nước thương dân, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác văn chương nhằm mục đích truyền bá đạo lý làm người, cổ vũ lòng yêu nước, ý chí cứu nước của nhân dân. Truyện thơ nôm Lục Vân Tiên là tác phẩm xuất sắc nhất của Nguyễn Đình Chiểu. Đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” nằm ở phần đầu tác phẩm, miêu tả cảnh Lục Vân Tiên đánh tan bọn cướp cứu Kiều Nguyệt Nga. Đoạn trích cho thấy tinh thần trượng nghĩa của nam tử hán thời phong kiến.

Hình ảnh Lục Vân Tiên được khắc hoạ qua mô típ ở truyện Nôm truyền thống Một chàng trai tài giỏi cứu một cô gái thoát hiểm nghèo, từ ân nghĩa đến tình yêu. Lục Vân Tiên là một nhân vật lý tưởng và mơ ước của Nguyễn Đình Chiểu, là một chàng trai vừa rời trường học bước vào đời, lòng đầy hăm hở, muốn lập danh, mong thi thố tài năng cứu người, giúp đời. Tình huống đánh cướp là thử thách tài năng và tấm lòng thương người, là cơ hội hành động cho chàng.

Chủ tớ Kiều Nguyệt Nga trên đường bị cướp chặn xe hà hiếp. Lúc ấy, Lục Vân Tiên sau những tháng ngày ôn văn luyện võ trên núi, đã xin thầy được xuống núi thi thố tài năng. Trên đường, chàng ghé về nhà thăm cha mẹ trước khi lên kinh thì tình cờ chứng kiến hành động ngang ngược của bọn cướp. Bất bình, Lục Vân Tiên ra tay tương trợ kẻ gặp nạn:

Không sẵn vũ khí trong ray Vân Tiên liền “bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô”. Hành động thể hiện sự gan dạ, không do dự lao tới cứu người. Trước bọn cướp người đông thế mạnh, chàng không hề run sợ, lớn tiếng khuyên chúng dùng tay:

Hai câu thơ cho thấy bản tính quân tử, minh bạch của Lục Vân Tiên. Trước khi ra tay, chàng tuyên bố lí do sự ra tay của chàng là vì chính nghĩa, việc ra tay cũng minh bạch, không phải đánh lén. Hành động đánh cướp đã bộc lộ rõ ràng tính cách anh hùng, tài năng võ nghệ và tấm vì nghĩa của Lục Vân Tiên. Vẻ đẹp của Lục Vân Tiên là vẻ đẹp riêng của con người dũng tướng.

Tướng giặc Phong Lai thấy có người lạ mặt đến can dự, trước hơi kinh ngạc, sau sợ hỏng việc, hắn liền nổi giận, lập tức đe doạ:

Chẳng hề nao núng, Vân Tiên bình bĩnh nghênh địch. Bọn cướp hung tợn, đông người, vũ khí sắc bén nhưng chẳng thể cản bước chàng tiến công:

Chỉ sau một hồi quần thảo, quân cướp đã bị Vân Tiên đánh cho một trận nhớ đời, tan vỡ tìm đường thoát thân:

Tướng cướp Phong Lai lúc đầu hùng hổ, đến lúc này cũng bị đánh sống dở chết dở:

Ở đây, Nguyễn Đình Chiểu đã sử dụng nghệ thuật tương phản để làm nổi bật tính cách anh hùng về tài năng và tấm lòng vị tha của Lục Vân Tiên. Hình ảnh Lục Vân Tiên trong trận đánh được miêu tả thật đẹp – vẻ đẹp của người dũng tướng cũng theo phong cách văn chương thời xưa nghĩa là so sánh với những hình mẫu lí tưởng như dũng tướng Triệu Tử Long mà người Việt Nam đặc biệt Nam Bộ vẫn mê truyện Tam quốc. Hành động của Vân Tiên chứng tỏ cái đức của con người “vì nghĩa vong thân”, cái tài của bậc anh hùng và sức mạnh bênh vực kẻ yếu, chiến thắng những thế lực tàn bạo.

Sau khi đánh tan bọn cướp, thấy hai cô gái còn chưa hết hãi hùng, Vân Tiên “động lòng”, an ủi họ “ta đã trừ dòng lâu la” và ân cần hỏi han. Biết rõ sự tình, Vân Tiên vô cùng cảm thông, liền tiếp tục khẳng định bọn cướp đã bị đánh đuổi để kẻ gặp nạn an lòng:

Chàng chính trực, liêm khiết, lại là người chuẩn mực lễ nghi. Kiều Nguyệt Nga mạn pháp bước ra khỏi kiệu, khấu đầu tạ ơn, bày tỏ lòng biết ơn đối với vị ân nhân vừa ra tay giải mối nguy lớn, bảo toàn phẩm hạnh. Thế nhưng, Vân Tiên vội vàng ngăn cả:

Hành động có phần khiên cưỡng nhưng lại rất đúng với tư cách của một người quân tử thấm nhuần luân lí Nho gia. Việc gặp gỡ gái trai dù là minh bạch, không có gì trái với đạo lính nhưng đối với Vân Tiên, điều ấy thật bất tiện.

Để bớt ngượng ngùng, Vân Tiên liền hỏi han tên tuổi, quê quán. Chàng mới rõ Kiều Nguyệt Nga là con gái của tri phủ, là người có danh vị quyền thế. Nàng khẩn khoản mời chàng về nhà để để cha mình đáp đền ơn sâu. Một lần nữa, Vân Tiên khảng khái chối từ và nêu cao tư tưởng của mình:

Ở đoạn sau, chàng còn từ chối nhận chiếc trâm vàng của nàng, chỉ cùng nhau xướng họa một bài thơ rồi thanh thản ra đi, không hề vấn vương. Đối với chàng, làm việc nghĩa như là bổn phận, là lẽ tự nhiên. Đó là cách cư xử mang tinh thần nghĩa hiệp của các bậc anh hùng hảo hán. Giữa cuộc đời lắm nhiễu nhương, cái ác, cái xấu hoành hành, những con người như thế thật cần thiết và đáng quý biết bao.

Cái chí của người anh hùng là trừ gian, diệt bạo, bảo vệ công lí, công bình, xem thường danh lợi. Chàng chỉ rõ hành động giải nguy vừa rồi chỉ là việc nên làm, phải làm và khuyên Nguyệt Nga chớ nặng lòng mang ơn. Điều đó càng khiến cho Nguyệt Nga càng thêm mến yêu và cảm phục.

Lục Vân Tiên là một người hào hiệp, chính trực, trọng nghĩa khinh tài, nhân hậu. Chàng đã thể hiện đạo lý làm người truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta đó chính là tình cảm đùm bọc, sẻ chia trong lúc khó khăn. Qua đó, ta cũng thấy được cái nhìn nhân sinh quan của tác giả Nguyễn Đình Chiểu ông là một người hiệp nghĩa yêu công bằng, và có tấm lòng nhân hậu, muốn giúp đỡ người khác.

Kiều Nguyệt Nga là một thiếu nữ con quan, trên đường đi đến nơi cha làm việc bị bọn cướp vây bắt, may được Lục Vân Tiên giải thoát. Cảm kích trước hành động này, nàng muốn bày tỏ ơn nghĩa, nhưng chàng đã từ chối vì làm ơn há dễ trông người trả ơn. Đây cũng là một nhân vật chính và là một nhân vật lí tưởng trong tác phẩm. Những lời giãi bày của Kiều Nguyệt Nga với Lục Vân Tiên đã bộc lộ phẩm chất tốt đẹp của nàng.

Qua lời giãi bày với ân nhân Lục Vân Tiên, ta thấy rõ Kiều Nguyệt Nga là một cô gái khuê các, thùy mị, nết na, thông minh và chuẩn mực. Những phẩm chất cao quý ấy thể hiện qua cách xưng hô của nàng đối với Vân Tiên: “quân tử”, “tiện thiếp” thể hiện sự khiêm nhường, mực thước. Cách nói năng văn vẻ, dịu dàng: “Làm con đâu dám cãi cha”, “Chút tôi liễu yếu đào thơ / Giữa đường lâm phải bụi dơ đã phần”. Cách trình bày vấn đề rõ ràng, khúc chiết, diễn tiến sự việc rõ ràng, dễ hiểu, vừa đáp ứng đủ những lời thăm hỏi ân cần của Vân Tiên, vừa thể hiện tấm lòng cảm kích chân thành của mình.

Tiếp theo, hành động của nàng còn rất chân thành thể hiện niềm cảm kích, xúc động của mình: “Trước xe quân tử tạm ngồi / Xin cho tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa”. Nguyệt Nga là người chịu ơn, lại là một cái ơn trọng, không chỉ là ơn cứu mạng mà còn cứu cả cuộc đời trong trắng của nàng: “Lâm nguy chẳng gặp giải nguy / Tiết trăm năm cũng bỏ đi một hồi”. Nàng hiểu rõ sự tình, rất áy náy, băn khoăn tìm cách trả ơn chàng, dù hiểu rằng đền đáp đến mấy cũng không thể đủ: “Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi”. Bởi thế, cuối cùng nàng đã tự nguyện gắn bó cuộc đời với chàng trai khẳng khái, hào hiệp đó và đã dám liều mình để giữ trọn ân tình, thủy chung với chàng. Nét đẹp tâm hồn đó đã làm cho hình ảnh Kiều Nguyệt Nga chinh phục được tình cảm yêu mến của nhân dân, những con người bao giờ cũng xem trong ơn nghĩa “Ơn ai một chút chẳng quên”.

Đọc cả đoạn thơ ta thấy nhân vật chủ yếu được miêu tả qua hành động, cử chỉ, lời nói, ít khắc họa ngoại hình, càng ít đi sâu vào diễn biến nội tâm, mang tính chất của văn học dân gian; ngôn ngữ mộc mạc, bình dị, gần với lời nói thông thường và mang tính chất địa phương Nam bộ, phù hợp với ngôn ngữ người kể chuyện; ngôn ngữ thơ đa dạng, phù hợp với diễn biến tình tiết và tính cách nhân vật.

Hình ảnh của nhân vật Lục Vân Tiên trong trận đánh được miêu tả thật đẹp: đột hữu xung, khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dang, được so sánh với hình mẫu Triệu Tử Long trong Tam quốc. Hành động của Vân Tiên chứng tỏ cái đức của con người “vì nghĩa vong thân”, “cái tài của bậc anh hùng và sức mạnh bênh vực kẻ yếu, chiến thắng nhiều thế lực bạo tàn”.

Giọng điệu thơ trong đoạn trích hết sức sảng khoái khi Lục Vân Tiên đánh cướp. Đó cũng là tiếng lòng hồ hởi của tác giả mong ước có một vị anh hùng ra tay thực thi công lí, diệt trừ kẻ bạo tàn, bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ những con người lương thiện.

Nguyễn Đình Chiểu đã khéo léo sử dụng nghệ thuật tự sự, miêu tả chi tiết để khắc họa thành công hình ảnh nhân vật Lục Vân Tiên, thể hiện được chàng như một anh hùng, nhưng cũng vô cùng gần gũi, giản dị, đời thường, chứ không xa cách, cao vời vợi. Đó cũng là một trong những đặc trưng cơ bản nhất trong thơ văn của cụ Đồ Chiểu.

Trích đoạn “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” là một đoạn trích vô cùng hay, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Đoạn trích thể hiện khát vọng hành đạo giúp đời của tác giả và khắc họa những phẩm chất đẹp đẽ của hai nhân vật: Lục Vân Tiên tài ba, dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài, Kiều Nguyệt Nga hiền hậu, nết na, ân tình. Đặc biệt, hình ảnh Vân Tiên đánh cướp được khắc họa thần tình. Cử chỉ, hành động, ngôn ngữ và cách ứng xử của chàng rất đẹp, mang phong thái người anh hùng, người tráng sĩ ngày xưa. Tuy nhiên hình tượng này rất chân thật vì lòng thương người, chí quả cảm, tinh thần vị nghĩa của Vân Tiên đậm đà màu sắc đạo lí nhân dân ta. Trên một trăm năm mươi năm qua, nhân vật Lục Vân Tiên được nhân dân ta yêu mến, hâm mộ. Tinh thần chiến đấu kiên cường của đồng bào miền Nam trong cuộc đấu tranh chống phong kiến và đế quốc trong hơn thế kỉ qua đã làm cho ta cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp lí tưởng của người anh hùng Lục Vân Tiên. Tấm gương sáng chói ấy mãi mãi là một minh chứng hùng hồn về sức mạnh thẩm mĩ của thi ca, của truyện thơ Lục Vân Tiên mà nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã để lại cho đời. Hình tượng nhân vật Lục Vân Tiên mang cái đẹp của đạo lý nhân dân.

Văn Mẫu Lớp 8: Tóm Tắt Truyện Lão Hạc Của Nam Cao (Sơ Đồ Tư Duy + 20 Mẫu) Tóm Tắt Truyện Ngắn Lão Hạc Lớp 8

Khi tóm tắt Lão Hạc thật chi tiết, đầy đủ, các em sẽ dễ dàng phân tích truyện ngắn Lão Hạc được hiệu quả hơn. Qua đó, phản ánh hiện thực nước ta trong khoảng thời gian trước cách mạng tháng Tám. Mời các em cùng theo dõi 20 mẫu Tóm tắt Lão Hạc để ngày càng học tốt môn Văn 8.

Sơ đồ tư duy truyện Lão Hạc

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 1

Truyện ngắn xoay quanh cuộc trò chuyện giữa ông giáo và Lão Hạc. Lão Hạc là một người nông dân nghèo, vợ lão chết sớm, con lão cũng đi bằn bặt. Già rồi mà ngày cũng như đêm, lão chỉ lủi thủi một mình với con chó mà người con trai để lại trước khi đi làm ăn xa. Sau trận bão, hoa màu bị phá sạch, Lão Hạc lại ốm đau liên miên. Không có gì để ăn, nhiều hôm thì lão ăn củ chuối, hôm thì ăn sung luộc, rau má, củ ráy, hay bữa trai, bữa ốc. Lão Hạc suy nghĩ và quyết định bán cậu Vàng để lấy tiền gửi ông giáo lo ma chay sau này chứ nhất quyết không bán đi mảnh vườn – tài sản duy nhất để lại cho người con trai. Lão Hạc xin Binh Tư bả chó với lý do bẫy con chó cạnh nhà nhưng thực chất là kết liễu cuộc đời mình bằng cách ăn bả chó. Lão chết trong đau đớn, cô đơn, quằn quại.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 2

Lão Hạc không còn lại gì, tiền bạc của cải đều mất trắng vì hoa màu tan nát sau trận bão. Bản thân lão cũng đã sức cùng lực kiệt sau trận ốm. Lão quyết định bán Cậu Vàng – người bạn duy nhất của mình. Sau đó, lão cũng chọn cách tự vẫn bằng bả chó để kết thúc cuộc đời mình. Lão Hạc không muốn bản thân tiêu vào tiền mà lão đã để dành cho con trai, lão ân hận vì ngày xưa không có tiền lo đám cưới cho con nên con trai lão đã phải bỏ đi. Lão hối hận vì mình đã lừa một con chó. Biết bao nhiêu nỗi đau, bao gánh nặng đè lên đầu ông lão khiến ông phải chọn cái chết để giải thoát khỏi đau thương. Truyện ngắn cho thấy số phận bi thảm của những người nông dân trong xã hội cũ khi cái đói, cái nghèo đã bao trùm lấy họ, khiến cho họ phải chọn cái chết.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 3

Truyện là lời kể của ông Giáo về mảnh đời bất hạnh của người hàng xóm gần nhà tên là lão Hạc. Lão Hạc đã già cả rồi, hằng ngày đi làm thuê để kiếm sống. Nhà lão chẳng có ai, vợ lão mất từ lâu còn con trai bỏ đi miền Nam để làm đồn điền cao su. Sau một trận bão táp, hoa màu của lão mất trắng. Đã thế, lão còn bị ốm nặng nên lão quyết định bán Cậu Vàng – con chó của lão- đi. Sau khi bán chó, ông Lão qua lời kể của ông Giáo vô cùng đau đớn, ân hận vì đã giết nó, đã lừa nó. Bán chó đi, ông lão chẳng dám ăn gì, chỉ ăn khoai lang, rau má. Lão sang nhà ông Giáo gửi toàn bộ số tiền để dành cùng mảnh vườn cho con trai vì ông lão tin tưởng người hàng xóm của mình sẽ thực hiện điều đó. Được vài hôm sau khi đã gửi lại tài sản cho người đáng tin cậy, lão Hạc tự vẫn bằng bả chó. Cái chết của lão không ai hiểu được, ngoài những người hàng xóm thấu hiểu hoàn cảnh đau thương của ông.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 4

Lão Hạc là một người nông dân nghèo, vợ mất sớm, chỉ có một mảnh vườn và người con trai. Vì không có tiền cưới vợ, con trai lão Hạc sinh phẫn chí đi lên đồn điền cao su với lời thề khi nào kiếm được bạc trăm mới trở về. Từ đó, lão Hạc sống thui thủi một mình với con chó Vàng làm bạn, bòn vườn sống qua ngày. Sau trận ốm dai dẳng, lão không còn sức đi làm thuê được nữa. Rồi lại bão mất mùa, lão rơi vào hoàn cảnh khó khăn, cơ cực bội phần. Vì muốn giữ lại mảnh vườn cho con trai về có cái sinh sống, Lão Hạc dằn vặt lương tâm mình khi quyết định bán đi con chó Vàng. Lão nhờ ông giáo trông hộ mảnh vườn cho con trai và gửi tiền làm ma để không phiền hàng xóm. Lão Hạc xin ít bã chó của Binh Tư. Biết được chuyện này, ông giáo rất buồn vì nghĩ rằng con người như lão Hạc chỉ vì cái nghèo đói mà cũng bị tha hoá. Rồi lão chết đột ngột, dữ dội và đau đớn. Không ai biết vì sao lão chết trừ Ông Giáo và Binh Tư.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 5

Lão Hạc là một người nông dân nghèo, sống cô độc, chỉ có con chó Vàng làm bạn. Con trai lão vì nghèo không lấy được vợ, đã phẫn chí bỏ làng đi làm ăn xa. Lão Hạc ở nhà chờ con về, làm ăn thuê để kiếm sống. Sau một trận ốm dai dẳng, lão không còn sức đi làm thuê nữa. Không còn đường sinh sống, lão Hạc lặng lẽ đi đến một quyết định quan trọng. Lão bán con chó Vàng mà lão rất mực yêu thương, mang hết số tiền dành dụm được và cả mảnh vườn gửi cho ông Giáo trông coi hộ. Lão chịu đói, chỉ ăn khoai và sau đó “lão chế tạo được món gì, ăn món nấy”. Ông Giáo ngấm ngầm giúp đỡ nhưng lão tìm cách từ chối. Một hôm lão xin Binh Tư ít bả chó, nói để đánh bả chó làm thịt và rủ Binh Tư uống rượu. Ông Giáo rất buồn khi nghe Binh Tư kể chuyện ấy. Lão Hạc bỗng nhiên chết – một cái chết thật dữ dội. Cả làng không ai hiểu vì sao lão chết, chỉ có Binh Tư và ông Giáo hiểu lão ăn bả chó để tử tự.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 6

Lão Hạc có một hoàn cảnh gia đình bất hạnh: Vợ lão mất sớm, còn một người con trai thì anh ta vì phẫn chí mà bỏ đi cao su. Lão Hạc còn lại một mình với một mảnh vườn và một con chó vàng. Con chó ấy là của anh con trai để lại, lão cưng chiều nó như con, luôn miệng gọi “cậu Vàng”. Nhưng cuộc sống khốn khó, lão bán chó để dành mảnh vườn cho con dù vô cùng đau khổ, dằn vặt. Lão mang tiền dành dụm được gửi ông giáo và nhờ ông trông coi mảnh vườn. Không muốn phiền đến mọi người, lão từ chối hết thảy sự giúp đỡ của ông giáo. Một hôm, lão xin Binh Tư một ít bả chó nói là muốn bẩy một con chó lạc. Ông giáo rất thất vọng khi nghe chuyện ấy. Nhưng rồi lão Hạc bỗng nhiên chết – cái chết thật dữ dội, đau đớn. Ông giáo hiểu ra tất cả, vô cùng đau đớn nghĩ về cái chết của lão Hạc và chiêm nghiệm về cuộc đời.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 7

Lão Hạc là một nông dân nghèo, sống cô độc. Con trai vì không có tiền lấy vợ nên bỏ đi làm ở đồn điền cao su, chỉ để lại cho lão một con chó làm bạn. Sau một lần ốm nặng, lão yếu đi ghê lắm, không đủ sức để đi làm thuê nữa. Cùng đường lão phải quyết định bán con chó vàng mà lão hết lòng yêu thương. Rồi lão mang tiền dành dụm được và cả mảnh vườn của mình đem sang gửi cho ông Giáo. Ít lâu sau lão sang nhà Binh Tư xin bả chó. Khi nghe Binh Tư kể về chuyện lão Hạc sang xin bả chó, ông Giáo đã rất thất vọng. Nhưng ngay sau đó, khi nhìn thấy lão Hạc chết một cách đau đớn và dữ dội thì ông giáo đã hiểu ra mọi chuyện. Còn về cái chết của lão Hạc chỉ có Binh Tư và ông Giáo hiểu rõ.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 8

Lão Hạc là 1 người nông dân nghèo, sống cô độc, chỉ có 1 con chó mà lão gọi là cậu Vàng để làm bạn. Con trai lão do không có tiền lấy vợ nên bỏ đi làm ở đồn điền cao su. Lão phải đi làm thuê làm mướn để kiếm sống. Sau 1 trận ốm dai dẳng lão không còn đủ sức để đi làm thuê. Cùng đường, Lão phải bán con chó mà lão rất mực yêu thương. Rồi Lão mang số tiền dành dụm được và mảnh vườn sang gửi ông Giáo. Sau đó mấy hôm liên lão chỉ ăn khoai, sung luộc, rau má. Một hôm lão sao nhà Binh tư xin ít bả chó nói là đánh bả con chó nhà nào đó để giết thịt nhưng thực ra lão dùng bả chó để kết liễu đời mình. Cái chết của lão rất dữ dội, chẳng ai hiểu vì sao lão chết trừ ông Giáo và Binh Tư.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 9

Lão Hạc là 1 người nông dân nghèo. Vợ lão mất sớm để lại 1 đứa con trai và mảnh vườn nhỏ cùng con chó Vàng. Con trai lão lớn lên không có tiền cưới vợ bèn đi đồn điền cao su. Chỉ còn cậu Vàng với lão nên lão dành hết tình thương nhớ con vào cậu. Nhưng thật đáng thương vì lão phải bán cậu vàng đi rồi đem số tiền dành dụm cho con mình sang gửi Ông Giáo – 1 người bạn hàng xóm thân của lão. Rồi sau đó lão sang nhà Binh Tư xin 1 ít bả chó. Khi nghe Binh Tư kể lại chuyện đó thì ông Giáo rất buồn và nghĩ ngợi tại sao 1 người như lão Hạc lại như vậy. Nhưng sau đó lão Hạc lại chết, chết một cách rất đau đớn. Chỉ có Binh Tư và ông Giáo mới hiểu rõ cái chết của lão.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 10

Lão Hạc là một người nông dân nghèo khổ, sống bằng nghề làm vườn. Vợ ông lão mất sớm, ông lão vì không lo được tiền cho con trai cưới vợ nên người con trai của ông đã bỏ đi đồn điền cao su. Lão Hạc chỉ có một người bạn thân nhất đó chính là Cậu Vàng – tên con chó lão nuôi được lão quý như người bạn. Trước hoàn cảnh khốn cùng là mảnh vườn của lão bao nhiêu hoa màu đều bị mất trắng, lão sau một trận ốm cũng không thể đi làm thuê được nên lão Hạc đánh bán Cậu Vàng đi. Lão ân hận và đau đớn vô cùng khi kể lại chuyện đó cho ông Giáo – người hàng xóm của lão. Lão thấy bản thân mình thật nhẫn tâm khi đã lừa một con chó, bởi bây giờ lão không có tiền để nuôi bản thân, huống hồ là nuôi một con chó to khỏe. Lão không muốn mình tiêu đến tiền đã để dành cho con trai nên mấy ngày hôm sau, lão đã sang nhà Binh tư xin ít bả chó để tự kết liễu cuộc đời mình.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 11

Truyện ngắn Lão Hạc của nhà văn Nam Cao kể về ông lão nghèo khổ sống cùng con chó mà ông yêu quý tên là Cậu Vàng. Ông góa vợ từ lâu, còn con trai vì túng quẫn do không đủ tiền cưới vợ nên đã bỏ đi làm đồn điền cao su ở miền Nam. Sau một trận ốm, ông lão chẳng còn sức đi làm thuê nên ông đành đưa ra một quyết định đau đớn đó là bán con vật mà ông yêu quý nhất, cũng là người bạn hằng ngày ở bên ông. Nhìn con chó bị người ta đánh bả chết, ông lão đau xót lắm. Ông mong cho nó chết đi sẽ được hóa kiếp làm người cho sung sướng, nhưng lại thấy kiếp làm người của mình cũng khổ quá. Vài ngày sau, ông đi xin ít bả chó nhà hàng xóm và bảo rằng xin để cho nhà nào đánh bả làm thịt. Ngờ đâu, bả chó ông xin là để cho ông, ông tự kết thúc đời mình ở đó để không trở thành gánh nặng cho người khác. Trước khi chết, ông đã dành dụm tiền lo tang ma cho chính mình và đem số tiền còn lại cùng mảnh vườn sang gửi nhờ ông Giáo để sau này ông Giáo sẽ gửi cho con trai lão.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 12

Lão Hạc có một người con trai, một mảnh vườn và một con chó vàng. Con trai lão đi phu đồn điền cao su, lão chỉ còn lại cậu Vàng. Vì muốn giữ lại mảnh vườn cho con, lão đành phải bán con chó, mặc dù hết sức buồn bã và đau xót. Lão mang tất cả tiền dành dụm được gửi ông giáo và nhờ trông coi mảnh vườn. Cuộc sống mỗi ngày một khó khăn, lão kiếm được gì ăn nấy và từ chối cả những gì ông giáo giúp. Một hôm lão xin Binh Tư ít bả chó, nói là để giết con chó hay đến vườn, làm thịt và rủ Binh Tư cùng uống rượu. Ông giáo rất buồn khi nghe Binh Tư kể chuyện ấy. Nhưng rồi lão bỗng nhiên chết- cái chết thật dữ dội. Cả làng không hiểu vì sao lão chết, chỉ có Binh Tư và ông giáo hiểu.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 13

Lão Hạc là một lão nông cùng khổ, thật thà và giàu lòng tự trọng. Vợ lão mất sớm, con trai lão vì không đủ tiền cưới vợ, quẫn chí đã bỏ đi làm phu đồn điền chưa biết ngày nào sẽ về. Lão chỉ còn cậu Vàng- con chó con trai lão để lại trước khi đi bầu bạn những ngày tuổi già. Cuộc sống ngày càng khốn khó khiến lão vô cùng vất vả nhưng lão quyết giữ lấy mảnh vườn cho con trai lão. Sau trận ốm thập tử nhất sinh, lão trở nên kiệt quệ, túng quẫn và quyết định bán cậu Vàng đi rồi đem gửi tiền và mảnh vườn cho ông giáo giữ hộ. Lão âm thầm xin Binh Tư một ít bã chó (thuốc độc) rồi tự kết thúc đời mình bằng một cái chết thật dữ dội và khủng khiếp.Không ai hiểu nguyên nhân cái chết của lão Hạc trừ ông Giáo và Binh Tư.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 14

Truyện ngắn Lão Hạc do nhà văn Nam Cao viết, phản ánh hiện thực nước ta trong khoảng thời gian trước cách mạng tháng Tám. Câu chuyện kể về cuộc đời đầy khó khăn và bế tắc của một người nông dân hiền lành chân chất, tốt bụng, tự trọng và thương con mà mọi người thường gọi là Lão Hạc. Vợ Lão mất sớm, con trai Lão vì gia cảnh không đủ cho thách cưới của nhà gái mà không lấy được vợ đã bỏ đi làm đồn điền cao su nhiều năm không về. Lão sống cùng cậu Vàng, con chó mà con trai Lão mua về. Lão xem cậu Vàng như người bầu bạn và yêu thương thế nhưng sau một trận ốm nặng Lão đành đi đến quyết định bán chó. Sau khi bán chó xong Lão gửi số tiền bán được cộng với tiền dành dụm trước đó cùng với mảnh vườn cho ông Giáo một người hàng xóm của Lão. Những ngày sau đó Lão chỉ ăn khoai, hết khoai thì chế được cái gì sẽ ăn cái đó. Cuộc sống khó khăn nhưng Lão vẫn không nhận sự giúp đỡ của ông Giáo. Một ngày Lão xin Binh Tư ít bả chó nói để bẫy con chó lạc sau vườn , Binh Tư kể với ông Giáo chuyện đó. Sau khi biết tin ông Giáo rất thất vọng và về nhà được một lúc lâu thì ông Giáo lại hay Lão chết, cái chết đột ngột và đau đớn, chẳng ai hiểu chuyện gì xảy ra có lẽ chỉ ông Giáo và Binh Tư mới hiểu được.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 15

Lão Hạc vốn là người nông dân nghèo trong xã hội cũ, hiền lành và chân thật. Lão chỉ sống một mình vì con trai lão đã đi làm ăn xa không biết khi nào trở về. Ông chỉ có con chó Vàng làm bạn thân thiết cùng nhau sống qua ngày. Ai thuê gì lão làm cái đó nhưng sau một trận ốm, lão mất sức không còn làm thuê được nữa. Khi đến đường cùng lão Hạc quyết định trong đau đớn đó là bán con chó Vàng người bạn thân thiết mà lão vô cùng yêu quý như người thân. Lão lấy tiền. đất đai đưa hết cho ông Giáo trông hộ. Lão ăn đói mặc rét vô cùng khổ cực và đụng gì ăn nấy. Ông Giáo muốn ra tay giúp đỡ nhưng lão từ chối. Lão xin Binh Tư bả chó với cái cớ để đánh chó và uống rượu. Rồi một ngày Lão Hạc bỗng nhiên chết cái chết trong đau đớn và cùng cực. Không ai rõ nguyên nhân vì sao lão chết, riêng Binh Tư và ông Giáo là những người hiểu rõ lão chết trong đau đớn cả thể xác lẫn tinh thần.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 16

Lão Hạc là một lão nông dân cùng khổ. Tuy vô cùng khó khăn vất vả nhưng lúc nào lão cũng hiền lành, thật thà và giàu lòng tự trọng. lão chưa bao giờ than vãn về hoàn cảnh của mình hay làm phiền một ai. Vợ lão mất sớm, con trai lão vì không có đủ tiền cưới vợ, quẫn trí, nó bỏ đi làm phu đồn điền. Điều đó khiến lão buồn lắm. Lão chỉ có mình nó, giờ nó bỏ đi, sống chết chưa biết thế nào. Ngày ngày, lão thui thủi một mình. Nhiều lúc, lão tâm sự với cậu vàng, con chó của con trai lão mua nuôi định khi cưới vợ sẽ giết thịt. Cuộc sống ngày càng khó khăn, ốm đau bệnh tật đẩy lão Hạc vào bước đường cùng. Dù khó khăn hay đau ốm thế nào thì lão vẫn kiên quyết giữ mảnh vườn cho con trai. Sau trận ốm nặng, lão trở nên kiệt quệ, túng quẫn, khốn khó nên lão đành bán đi cậu Vàng và đem số tiền và mảnh vườn gửi cho ông giáo. Lão âm thầm xin Binh Tư một ít bả chó rồi tự kết liễu mình bằng số bả chó ấy. Cái chết của lão thật khủng khiếp và đầy đau đớn. Không ai biết được nguyên nhân cái chết đau đớn của lão ngoại trừ ông giáo và Binh Tư.

Advertisement

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 17

Lão Hạc là một nông dân nghèo. Gia tài của lão chỉ có mảnh vườn. Vợ lão mất từ lâu. Con trai lão không đủ tiền cưới vợ đã phẫn chí bỏ đi đồn điền cao su để lại cho lão con chó Vàng làm bạn.

Ở quê nhà, cuộc sống ngày càng khó khăn. Lão Hạc bị một trận ốm khủng khiếp, sau đó không kiếm ra việc làm, lão phải bán con Vàng dù rất đau đớn. Tiền bán chó và số tiền dành dụm được lâu nay, lão gửi ông giáo nhờ lo việc ma chay khi lão nằm xuống. Lão còn nhờ ông giáo trông nom và giữ hộ mảnh vườn cho con trai sau này. Lão quyết không đụng đến một đồng nào trong số tiền dành dụm đó nên sống lay lắt bằng rau cỏ cho qua ngày. Một hôm, lão xin Binh Tư ít bả chó nói là để đánh bả con chó lạ hay sang vườn nhà mình. Mọi người, nhất là ông giáo đều rất buồn khi nghe chuyện này. Chỉ đến khi lão Hạc chết một cách đột ngột và dữ dội, ông giáo mới hiểu ra. Cả làng không ai hay vì sao lão chết chỉ trừ có ông giáo và Binh Tư.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 18

Lão Hạc là một người nông dân nghèo, sống cùng một con chó gọi là cậu Vàng. Lão có một người con trai nhưng vì nghèo không có tiền lấy vợ nên đã bỏ đi làm đồn điền cao su. Một mình lão phải tự lo liệu mưu sinh. Sau trận ốm thập tử nhất sinh, nhà lão không còn gì nữa, lão đành phải bán cậu Vàng – con chó mà lão hết mực thương yêu như con trai mình. Lão mang hết số tiền bán chó và dành dụm được từ việc bán mảnh vườn gửi nhờ ông Giáo. Mấy hôm sau lão kiếm được gì ăn nấy. Một hôm lão xin Binh Tư ít bả chó nói dối là đánh bả con chó hay sang vườn để giết thịt ăn nhưng thực ra là để tự tử. Cái chết của lão Hạc dữ dội, vật vã, chẳng ai hiểu vì sao lão chết ngoại trừ ông Giáo và Binh Tư.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc – Mẫu 19

Lão Hạc là một người nông dân nghèo khổ. Lão có một người vợ nhưng mất sớm, lão gà trống nuôi con, nhưng vì nghèo không đủ tiền cưới vợ con trai lão đã quẫn trí bỏ nhà lên đồn điền cao su, trước khi đi con trai lão đã gửi gắm cho lão một con chó, lão yêu quý nó đặt tên cho nó là cậu Vàng. Một mình lão phải tự lo liệu mưu sinh. Sau trận ốm thập tử nhất sinh, nhà lão không còn gì nữa, lão đành phải bán cậu Vàng – con chó mà lão hết mực thương yêu như con trai mình. Lão mang hết số tiền bán chó và dành dụm được từ việc bán mảnh vườn gửi nhờ ông Giáo. Sau đó lão kiếm được gì thì ăn nấy. Rồi lão âm thầm xin Binh Tư một ít bả chó để tự kết liễu cuộc đời mình bằng số bả chó ấy. Cái chết của lão thật đau đớn và khủng khiếp. Không một ai biết được nguyên nhân cái chết đau đớn của lão ngoại trừ ông giáo và Binh Tư.

Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc chi tiết

Truyện kể về Lão Hạc, một người nông dân chất phác, hiền lành. Lão vốn gó vợ và có một đứa con trai nhưng vì quá nghèo nên không thể lo cho người con trai một cuộc sống hạnh phúc. Người con trai lão do quẫn trí đã đăng kí đi làm ở đồn điền cao su ở miền nam. Lão luôn trăn trở, suy nghĩ về tương lai của đứa con. Lão sống bằng nghề làm vườn, mảnh vườn mà vợ lão đã mất bao công sức để mua về và để lại cho con trai lão. Nhưng do một trận bão mà cả một sào hoa màu đã mất trắng. Lại bởi do một trận ốm nên bao nhiêu tiền bạc lão dành dụm đã mang ra dùng gần hết và vì lão cũng đã “tàn sức” rồi, người ta làm tranh hết việc của lão.Lão có một con chó tên là Vàng – một con chó mà lão vừa coi như con vừa coi như một người bạn trung thành. Nhưng vì cần tiền để lo cho con trai nên lão đã quyết định bán con chó đi. Lão đã rất dằn vặt bản thân mình khi mang một “tội lỗi” là đã nỡ tâm “lừa một con chó”.Lão tự dành tiền cho đám ma của chính mình để không làm phiền đến hàng xóm láng giềng. Lão không nhận bất kỳ sự giúp đỡ của bất kỳ ai. Lão đã chọn một cái chết bằng bả chó, một cái chết dữ dội và đau đớn. Lão làm thế là để trừng phạt bản thân mình đã làm cái việc dằn vặt, tội lỗi ấy và có thể lão đã được giải thoát sau bao tháng ngày cùng cực, đau khổ.Truyện được thể hiện qua lời kể của nhân vật tôi – một ông giáo và dường như đâu đó trong nhân vật này ta thấy hiện lời giọng kể của tác giả.

Văn Mẫu Lớp 8: Tóm Tắt Truyện Cô Bé Bán Diêm (21 Mẫu) Tóm Tắt Cô Bé Bán Diêm Của An

Tóm tắt Cô bé bán diêm tuyển chọn 21 mẫu hay, đặc sắc nhất, giúp các em học sinh lớp 8 dễ dàng hơn trong việc ghi nhớ diễn biến cốt truyện, hỗ trợ trực tiếp cho việc đọc hiểu và hoàn thành bài văn phân tích, cảm nhận.

Bên cạnh đó, giúp các em nắm vững toàn bộ nội dung chính của câu chuyện. Hình ảnh cô bé bán diêm nghèo khổ, đáng thương đã khiến biết bao người không cầm nổi nước mắt. Vậy mời các em cùng tải miễn phí 21 mẫu tóm tắt Cô bé bán diêm để tích lũy vốn từ, ngày càng học tốt môn Văn 8.

Tóm tắt truyện Cô bé bán diêm siêu ngắn (10 mẫu)

Tóm tắt truyện Cô bé bán diêm ngắn gọn (8 mẫu)

Tóm tắt truyện Cô bé bán diêm đầy đủ (2 mẫu)

Tóm tắt truyện Cô bé bán diêm bằng tiếng Anh

Trong đêm giá rét tuyết phủ đầy trời, có một em bé bán diêm đầu trần, chân đất đi giữa màn đêm, mong bán được diêm. Nhưng không ai đoái hoài đến cô bé tội nghiệp. Em liền tìm một góc khuất, có hai bức tường để ngồi nghỉ. Vì quá giá lạnh, em đã đốt các que diêm và ảo ảnh dần hiện ra trước mắt em: Lò sưởi, bàn ăn, cây thông Noel và cả bà em. Thấy bà em đã đốt cả bao diêm và đi với bà lên với thượng đế.

Truyện kể về một cô bé mồ côi mẹ, sống với một ông bố khắc nghiệt và phải đi bán diêm để kiếm sống. Vào ngày cuối năm, đã nửa đêm em vẫn không bán được que diêm nào và không dám về nhà. Vì quá lạnh nên em đã đốt những que diêm của mình lên để sưởi ấm, mỗi một que đốt lên là một ước mơ của em hiện ra và khi que cuối cùng cháy hết là lúc em lìa đời. Ngày đầu năm, mọi người tìm thấy một cô bé đã lạnh cóng với nụ cười nở trên môi.

Trong đêm Noel giá rét tuyết phủ đầy trời, có một em bé bán diêm đầu trần, chân đất đi giữa màn đêm, mong bán được diêm. Nhưng không ai đoái hoài đến cô bé tội nghiệp. Em liền tìm một góc khuất, có hai bức tường để ngồi nghỉ. Vì quá giá lạnh, em đã đốt các que diêm và ảo ảnh dần hiện ra trước mắt em: Lò sưởi, bàn ăn, cây thông Noel và cả bà em. Thấy bà em đã đốt cả bao diêm và đi với bà lên với thượng đế.

Truyện xoay quanh hình ảnh Cô bé bán diêm với những bất hạnh, thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần. Từ nhỏ, cô đã không được sống trọn vẹn trong mái ấm, tình thương yêu của gia đình. Mẹ mất sớm, chẳng lâu sau đó người bà cũng qua đời, gia sản tiêu tan, người cha suốt ngày rượu chè đánh đập hành hạ cô bé, bắt cô đi bán diêm để kiếm sống qua ngày. Ngày lễ giáng sinh ai ai cũng được ấm êm trong ánh đèn riêng cô bé thì một mình lủi thủi, đơn độc trong đêm đông lạnh giá và chết đi trước sự lạnh nhạt, thờ ơ của người đời.

Truyện kể về một cô bé bán diêm trong đêm giao thừa. Cô bé có một hoàn cảnh khó khăn mẹ và bà đều đã mất em phải sống với một người bố độc ác trong một căn nhà tồi tàn. Vào đêm giao thừa em đi bán diêm với một bộ quần áo mỏng manh rách rưới và cái bụng không có gì ăn. Nhưng em không dám về nhà vì sợ rằng về nhà bố sẽ đánh khi chưa bán được bao diêm nào cả. Em rét quá không thể tiếp tục đi được nữa nên đã ngồi vào một xó nhỏ giữa hai bức tường. Em quẹt diêm để sưởi ấm. Và khi những que diêm được quẹt lên bao mộng tưởng trong đầu em xuất hiện. Đến khi em quẹt que diêm thứ tư thì người bà hiền từ hiện lên. Em cầu khẩn bà hãy cho em được đi cùng bà. Cuối cùng thì hai bà cháu đã cùng cầm tay nhau bay lên thiên đường nơi mẹ đang ở đó chờ.

Trong đêm giao thừa trời rét mướt, lạnh giá có một cô bé bán diêm mồ côi mẹ đầu trần, bụng đói đang cố bán những bao diêm vì cả ngày chưa bán được bao diêm nào. Em không dám về nhà sợ bố đánh, ngồi nép vào góc tường em rút những que diêm trong bao ra để sưởi ấm. Quẹt que diêm thứ nhất, lò sưởi hiện ra; quẹt que diêm thứ hai, em thấy bàn ăn thịnh soạn; quẹt que diêm thứ ba em thấy cây thông Noel; quẹt que diêm thứ tư, em gặp bà em. Em đã quẹt hết diêm để được nhìn thấy bà. Cuối cùng em chết trong giá rét nhưng giấc mơ về bà thì vẫn luôn đẹp.

Cô bé bán diêm có hoàn cảnh rất nghèo khó. Mẹ mất, bà đã qua đời, sống chui rúc ở một xó tối tăm, em luôn phải lắng nghe những tiếng chửi rủa của bố. Vào đêm giao thừa, trời rét mướt, tuyết phủ trắng xóa, em một mình đi bán diêm giữa đường phố vắng, em ngồi nép trong một góc tường, em có quẹt que diêm để sưởi ấm. Cô bé đã ngồi và quẹt các que diêm lên và trước mắt cô lần lượt hiện lên cái lò sưởi, bàn ăn với một con ngỗng quay, cây thông Nô-en rồi em nhìn thấy bà em, hai bà cháu bay vút lên cao về chầu thượng đế. Mỗi lần que diêm tắt, thực tế lại hiện ra trước mắt, lần lượt em nghĩ đến cha sẽ mắng vì không bán được diêm, phố xá vắng teo lạnh buốt tuyết rơi, gió bấc vi vu và những người khách qua đường vội vàng thờ ơ trước sự đáng thương của cô bé. Sáng hôm sau, cô bé đã chết trong đêm giao thừa.

Cô bé bán diêm có một cuộc sống nghèo khổ, đáng thương. Em phải đi bán diêm đưa tiền về cho cha vào đêm Giáng sinh giá rét. Vì để sưởi ấm, em đánh liều quẹt một que diêm và tưởng tượng ra chiếc lò sưởi ấm áp. Quẹt que diêm thứ hai, em thấy một bàn ăn linh đình. Quẹt que diêm thứ ba, đó là một cây thông Nô-en. Tới que diêm thứ tư, em thấy bà hiện ra mỉm cười. Em đã quẹ hết tất cả những que diêm khác để giữ bà ở lại. Cuối cùng bà đưa em đi lên Thiên đàng. Cô bé đáng thương ấy đã chết trong đêm giá lạnh cuối năm.

Trong đêm giao thừa gió tuyết đầy phố có một cô bé bán diêm nhà nghèo, mồ côi mẹ, đầu trần, chân đất, bụng đói đang dò dẫm trong bóng tối. Suốt cả ngày em không bán được bao diêm nào. Em không dám về nhà vì sợ bố mắng. Vừa lạnh vừa đói, cô bé ngồi nép vào một góc tường rồi quẹt một que diêm để sưởi ấm. Em quẹt que diêm thứ nhất, lò sưởi hiện ra. Em quẹt que diêm thứ hai, một bàn ăn thịnh soạn hiện lên. Rồi em quẹt que diêm thứ ba, cây thông Nô-en xuất hiện. Quẹt que diêm thứ tư, em gặp bà nội. Sáng hôm sau, cô bé bán diêm đã chết trong giá rét.

Trong đêm giao thừa, trời rét mướt, có một cô bé đầu trần, chân đi đất, bụng đói đang rầu rĩ đi bán diêm trong bóng tối. Cô bé bán diêm ấy đã mồ côi mẹ và cũng đã mất đi người thương yêu em nhất là bà nội. Em không dám về nhà vì sợ bố sẽ đánh em. Vừa lạnh vừa đói, cô bé ngồi nép vào một góc tường rồi khẽ quẹt một que diêm để sưởi ấm. Que diêm thứ nhất cho em có cảm giác ấm áp như ngồi bên lò sưởi. Em vội quẹt que diêm thứ hai, em được thấy một bàn ăn thịnh soạn hiện lên. Rồi em quẹt que diêm thứ ba và được thấy cây thông Nô-en. Quẹt que diêm thứ tư: Bà nội hiền từ của em hiện lên đẹp đẽ, gần gũi và phúc hậu biết mấy. Những ảo ảnh đó nhanh chóng tan đi sau sự vụt tắt của que diêm. Em vội vàng quẹt hết cả bao diêm để mong níu bà nội lại. Cô bé bán diêm đã chết trong giá rét khi mơ cùng bà bay lên cao mãi.

Truyện kể về cô bé bán diêm nhà nghèo, mồ côi mẹ, sống qua ngày nhờ công việc bán diêm. Trong đêm giao thừa rét buốt, em đầu trần chân đất lang thang trên phố chưa về. Vì em chưa bán được bao diêm nào, về sợ bố mắng. Vừa lạnh vừa đói, cô bé ngồi nép vào một góc tường rồi khẽ quẹt một que diêm để sưởi ấm. Khi em quẹt que diêm thứ nhất, hiện ra trước mắt em một cái lò sưởi ấm áp. Que diêm thứ hai là một bàn ăn thịnh soạn. Rồi em quẹt que diêm thứ ba, cây thông Nô-en xuất hiện. Quẹt que diêm thứ tư, em gặp người bà nội mà em hết mực yêu quý. Trong em ngập tràn niềm hạnh phúc. Nhưng ảo ảnh đó nhanh chóng tan đi sau sự vụt tắt của que diêm. Em vội vàng quẹt hết cả bao diêm để mong níu bà nội lại. Rồi em thiếp đi. Sáng hôm sau, người ta thấy xác của em ở trên đường phố giá rét.

Cô bé bán diêm sống gia đình rất nghèo khổ, khó khăn mồ côi mẹ, bà mất sớm, tài sản tiêu tán nên cô phải bán diêm cho người bố rất tàn nhẫn hay đánh cô. Vào một ngày cuối năm, cô không bán được que diêm nào. Cô không dám về nhà vì sợ cha đánh. Đêm giao thừa trời giá rét, cô ngồi nép vào góc tường giữa hai ngôi nhà. Đêm càng lạnh giá, cô quẹt que diêm để sưởi ấm. Mỗi lần quẹt que diêm cháy sáng là một mộng tưởng đến với cô. Lần thứ nhất, cô thấy lò sưởi; lần thứ hai cô thấy bàn ăn và con ngỗng quay; lần thứ ba cô thấy cây thông Nô-en cùng những ngọn nến; lần thứ tư cô thấy bà hiện về, lần thứ năm cô thấy mình cùng bà bay lên trời. Buổi sáng đầu năm, người ta thấy một em bé ngồi giữa những bao diêm trong đó có một bao diêm đốt hết nhẵn. Người ta bảo cô bé đã chết nhưng đôi má vẫn ửng hồng và đôi môi cô đang mỉm cười.

Truyện kể về số phận đáng thương của cô bé bán diêm đã chết trong đêm giao thừa. Trước đây, cô bé từng có một gia đình thật hạnh phúc. Thế nhưng, hạnh phúc ấy chẳng kéo dài bao lâu. Mẹ mất sớm, bà cũng bỏ em mà đi. Gia đình sa sút, em phải sống một mình với người cha nghiện ngập và tàn bạo. Nơi em ở là một căn gác xép tồi tàn, ẩm thấp và dơ bẩn. Hằng ngày em đi bán diêm để kiếm sống. Số tiền có được đều bị người cha lấy mất để uống rượu. Ngày nào không có tiền mang về, em bị cha đánh đập thậm tệ khiến em sợ lắm, nhiều lúc không dám về nhà. trông đêm giao thừa năm ấy, khi tất cả mọi người đều trở về quây quần bên gia đình đón đợi giao thừa thì em vẫn còn lag thang trên hè phố, mong ai đó mua giúp em bởi cả ngày em chưa bán được bao diêm nào. Đơn độc, em tìm một góc khuất, nép mình tránh rét. Quá lạnh, em lấy hết can đảm quẹt những que diêm để sưởi ấm. Ánh sáng chói lóa của que diêm đưa em vào những mộng tưởng tuyệt đẹp của những ngày hạnh phúc bên người bà hiền hậu, làm vơi đi cái rét, cái đói, nỗi cô đơn cùng cực. Sáng hôm sau, người ta thấy em đã chết, hai má vẫn còn ửng hồng, khuôn mặt rạng rỡ, đôi môi mỉm cười bên cạnh những hộp diêm đã đốt cháy hết.

Cô bé bán diêm vốn sống trong một gia đình hạnh phúc và ấm áp. Nhưng khi bà mất, gia sản tiêu tán, em phải đến sống trong khu ổ chuột và đi bán diêm hằng ngày để kiếm sống. Đêm giao thừa, khi mọi người ai cũng vui vẻ thì em vẫn phải đi bán. Lạnh quá, em ngồi trong một góc tường nhỏ. Để sưởi ấm, em đốt que diêm đầu tiên. Em thấy một lò sưởi ấm áp. Nhưng khi đưa tay ra sưởi thì lò sưởi chợt biến mất. Em đốt que diêm thứ hai, một bàn ăn thịnh soạn hiện ra. Nhưng khi con ngỗng quay với phuốc-sét đang tiến lại về phía em thì que diêm tắt, tất cả lại biến mất. Que diêm thứ 3, em thấy một cây thông Nô-en to lớn và lộng lẫy. Nhưng rồi một cơn gió thổi qua, cây que diêm cũng tắt. Lần thứ 4, em thấy bà em. Bà em thật đẹp. Vì không muốn mất bà, em đã quẹt hết tất cả các que diêm còn lại. Bà và em cùng bay lên trời. Sáng hôm sau, khi mọi người thấy một cô bé đáng yêu đã chết bên cạnh những que diêm, họ tự nhủ “Chắc là nó muốn sưởi cho ấm”. Nhưng đâu ai biết được những điều kì diệu mà em đã thấy vào cái đêm kì diệu ấy.

Đêm giao thừa, trời rét mướt, tuyết rơi, đường phố vắng ngắt và sực nức mùi ngỗng quay. Một em bé đầu trần, chân đất đi bán diêm. Không ai mua cho em lấy một bao hay bố thí cho em một đồng nào. Vừa đói, vừa rét nhưng em không dám về nhà vì sợ bố đánh. Em đã mồ côi mẹ và mất đi người thân yêu em nhất là bà nội. Em ngồi nép vào tường giữa hai ngôi nhà. Đêm giao thừa càng lạnh giá, em liền đánh liều quẹt một que diêm. Bỗng chiếc lò sưởi hiện ra. Diêm tắt, lò sưởi biến mất. Quẹt que diêm thứ hai, em thấy một bàn ăn thịnh soạn và một con ngỗng quay đang tiến về phía em. Diêm tắt, bàn ăn và con ngỗng biến mất. Em quẹt que diêm thứ ba, cây thông Nô-en hiện ra. Diêm tắt, cây thông Nô-en biến mất. Quẹt que diêm thứ tư: bà nội em hiện lên. Sợ diêm tắt, em vội quẹt hết diêm trong bao. Lần thứ năm, cô thấy bà nắm tay mình đi về chầu Thượng đế. Đó cũng là lúc cô thấy niềm hạnh phúc. Buổi sáng đầu năm, người ta thấy một em bé ngồi giữa những bao diêm, trong đó có một bao đã đốt hết nhẵn. Người ta bảo chắc cô bé chết vì rét nhưng đôi má vẫn ửng hồng và đôi môi đang mỉm cười. Không ai biết cái điều kì diệu mà em đã thấy trong đêm giao thừa.

Truyện kể về một cô bé nghèo khổ mồ côi mẹ, sống với một người cha hà khắc hay uống rượu và hay đánh đập con. Cô bé phải đi bán diêm đem tiền về cho cha nếu không sẽ bị đánh. Đêm cuối năm, ngoài trời lạnh cóng, cô bé đi chân đất vì một chiếc giày đã bị xe ngựa cán qua và chiếc còn lại bị một thằng bé xấu tính ném mất nhưng lại không dám về nhà vì chưa bán được que diêm nào. Cô bé ngồi nép vào một góc tường giữa hai căn nhà để mong giữ chút hơi ấm rồi đánh liều quẹt diêm để sưởi ấm. Que thứ nhất quẹt lên, lò sưởi hiện ra. Que thứ hai quẹt lên, bàn ăn và con ngỗng quay trước mắt. Que thứ ba quẹt lên, cây thông noel hiện ra. Và que diêm thứ tư mang hình ảnh của người bà hiền từ hiện về. Nhưng mọi thứ tan biến khi que diêm tắt và cô bé đã chết cóng. Ngày đầu năm đường phố hiện lên hình ảnh một thiên thần với nụ cười trên môi nằm trên tuyết trắng. Cô bé đã lên thiên đàng cùng với bà của mình.

Truyện xoay quanh hình ảnh cô bé bán diêm với những bất hạnh, thiếu thốn cả về mặt vật chất lẫn tinh thần. Từ nhỏ đã mồ côi mẹ, chẳng lâu sau người bà cũng qua đời gia sản tiêu tan, sống với một ống bố nghiện rượu suốt ngày chỉ biết đánh đập cô bé. Vào đêm giáng sinh, đã nửa đêm mà em vẫn không bán được que diêm nào, sợ bị người cha đánh đập em đã không dám về nhà. Vì quá lạnh nên em đã đem những que diêm ra để sưởi ẩm, mỗi một que diêm được đốt lên là một điều ước với bao mộng tưởng trong đầu em xuất hiện. Đến khi em quẹt que diêm thứ tư thì người bà hiền từ của em hiện lên. Em đã cầu khẩn bà cho em được đi cùng bà. Cuối cùng thì hai bà cháu đã cầm tay nhau và bay lên trời.

Trong đêm giao thừa rét mướt, một cô bé đầu trần, chân đi đất, bụng đói nhưng phải đi bán diêm. Cô bé ấy đã mồ côi mẹ và ngay cả bà nội – người yêu thương em nhất cũng đã qua đời. Em không dám về nhà vì sợ bố sẽ đánh em. Vừa lạnh vừa đói, cô bé ngồi nép vào một góc tường rồi khẽ quẹt một que diêm để sưởi ấm. Que diêm thứ nhất cho em có cảm giác ấm áp như ngồi bên lò sưởi. Em vội quẹt que diêm thứ hai, một bàn ăn thịnh soạn hiện lên. Đến quẹt que diêm thứ ba thì một cây thông Noel. Quẹt que diêm thứ tư được thắp lên, lần này là bà nội với khuôn mặt hiền từ hiện ra. Những ảo ảnh đó nhanh chóng tan đi sau sự vụt tắt của que diêm. Em vội vàng quẹt hết cả bao diêm để mong níu bà nội lại. Cuối cùng, cô bé bán diêm đã chết rét trong đêm giao thừa lạnh giá.

Cô bé bán diêm là chuyện kể về số phận của một em bé nghèo khổ, phải đi bán diêm để sống. Vào một đêm giao thừa tuyết rơi, bầu trời tối tăm, em bé phải đi chân đất trên tuyết lạnh, chân em đỏ ửng tồi tím bầm lại. Em cố tìm nơi nhiều người qua lại để bán diêm, nhưng mọi người chẳng ai đoái hoài đến em, họ vội vã về nhà để tránh cái lạnh ghê người. Vừa đói, vừa rét, nhưng không thể trở về khi không bán được bao diêm nào vì em sợ bố đánh. Mệt mỏi quá, em đành ngồi tựa vào góc tường cạnh ngôi nhà sáng rực ánh đèn có mùi ngỗng quay thơm nức!

Đói, rét, em bé nảy ra ước mơ, mộng tưởng qua mỗi lần quẹt diêm. Trong ánh sáng của que diêm, những giấc mơ của em thật đẹp, nhưng cũng thật mong manh vì một que diêm phỏng cháy được bao lâu? Cuối cùng khi tất lửa thì mọi thứ đẹp đẽ (chẳng qua là ảo ảnh) đều vụt tan biến đi ngay.

Và cuối cùng em bé đã chết dưới lớp tuyết dày khi mơ thấy bà nội cầm tay em bay vụt lên cao, cao mãi, chẳng còn đói rét đau buồn đe dọa nữa.

Tác giả như muốn đối chiếu cảnh đói rét khôn cùng của em bé bán diêm với cảnh sống sung túc, hoan hỉ của mọi nhà vào đêm giao thừa. Dường như tất cả đều quay lưng lại, thờ ơ với cuộc đời của em. Em đã thực sự bị bỏ rơi giữa cuộc đời no đủ, giàu sang. Đó là ý nghĩa nhân đạo của tác phẩm, là tấm lòng của An-đec-xen với những cuộc đời khốn cùng khổ đau.

Một đêm giao thừa. Rét dữ dội, tuyết rơi. Một cô bé đầu trần chân đi đất dò dẫm trong đêm tối. Đôi chân trần nhỏ bé, đỏ ửng lên, tím bầm lại. Chiếc tạp dề cũ kĩ đựng đầy diêm và tay cô bé còn cầm thêm một bao. Suốt một ngày dài chẳng bán được một bao nào! Chẳng ai bố thí cho em chút đỉnh. Bụng đói cật rét mà em vẫn phải lang thang trên đường. Tuyết bám đầy tóc và xếp thành từng búp trên lưng em.

Đêm giao thừa, nhà nhà sáng rực ánh đèn, sực nức mùi ngỗng quay. Năm xưa. khi bà nội hiền hậu còn sống, em cũng được đón giao thừa ở nhà. Sau đó, bà mất, gia sản tiêu tán, gia đình phải lìa xa ngôi nhà xinh xắn có dây trường xuân bao quanh…, đến chui rúc trong một xó tối tăm, Giờ đây, em luôn luôn nghe những lời mắng nhiếc chửi rủa…

Advertisement

Lang thang mãi, đêm khuya càng rét dữ. Em không thể về, nếu không bán được ít bao diêm thì sẽ bị bố đánh. Em ngồi nép vào một góc tường, giữa hai ngôi nhà xa lạ. Đôi chân rét buốt, đôi bàn tay đã cứng đờ ra. Em đánh liều quẹt một que diêm mà sưởi cho đỡ rét. Ngọn lửa xanh lam rồi sáng rực như than hồng. Nhìn ngọn lửa diêm em tưởng chừng đang ngồi trước một lò sưởi. Que diêm tàn, lửa tắt, em bần thần cả người, chợt nghĩ ra đêm nay về nhà thế nào cũng bị bố mắng.

Em quẹt que diêm thứ hai, diêm cháy sáng rực lên. Em chìm vào một cơn mộng đẹp. Một bàn ăn đã dọn, khăn trải bàn trắng tinh, bát đĩa bằng sứ quý giá và có cả một con ngỗng quay. Con ngỗng quay nhảy ra khỏi dĩa cùng dao ăn, phu ốc-sét tiến về phía em… Diêm lại tắt, mộng tan, đêm tối dày đặc và lạnh lẽo.

Em quẹt que diêm thứ ba, bỗng em thấy hiện ra cây thông Nô-en trang trí lộng lẫy, hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi. Em với tay về phía cây… nhưng diêm tắt. Nến bay lên thành những ngôi sao trên trời…

Em quẹt que diêm thứ tư, ánh sáng xanh tỏa ra xung quanh. Em nghĩ tới một ngôi sao đổi ngôi, một linh hồn bay lên trời với Thượng đế, em nghĩ tới bà nội em đã mất. Em cất tiếng gọi: “Bà ơi!”. Em reo lên. Em nhớ lại những ngày bà còn sống, bà cháu từng được sống sung sướng. Em van bà xin Thượng đế chí nhân cho em bay lên trời để được về với bà. Diêm tắt phụt, ảo ảnh sáng rực trên khuôn mặt em cũng biến mất. Em quẹt tất cả mọi que diêm còn lại. Diêm nối nhau chiếu sáng. Em nhìn thấy gương mặt bà to lớn, đẹp lão. Bà cầm tay cháu rồi hai bà cháu cùng bay lên cao, cao mãi về chầu Thượng đế.

Sáng hôm sau, mồng một Tết, tuyết vẫn phủ mặt đất, mặt trời chói chang trời xanh. Mọi người vui vẻ ra khỏi nhà. Họ đã nhìn thấy một em gái có đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười nằm chết ở một xó đường vì giá rét đêm giao thừa. Em bé ngồi giữa những bao diêm, trong đó có một bao đã đốt hết nhẵn.

It was so terribly cold. Snow was falling, and it was almost dark. Evening came on, the last evening of the year. In the cold and gloom a poor little girl, bareheaded and barefoot, was walking through the streets. Of course when she had left her house she’d had slippers on, but what good had they been? They were very big slippers, way too big for her, for they belonged to her mother. The little girl had lost them running across the road, where two carriages had rattled by terribly fast. One slipper she’d not been able to find again, and a boy had run off with the other, saying he could use it very well as a cradle some day when he had children of his own. And so the little girl walked on her naked feet, which were quite red and blue with the cold. In an old apron she carried several packages of matches, and she held a box of them in her hand. No one had bought any from her all day long, and no one had given her a cent.

Shivering with cold and hunger, she crept along, a picture of misery, poor little girl! The snowflakes fell on her long fair hair, which hung in pretty curls over her neck. In all the windows lights were shining, and there was a wonderful smell of roast goose, for it was New Year’s eve. Yes, she thought of that!

In a corner formed by two houses, one of which projected farther out into the street than the other, she sat down and drew up her little feet under her. She was getting colder and colder, but did not dare to go home, for she had sold no matches, nor earned a single cent, and her father would surely beat her. Besides, it was cold at home, for they had nothing over them but a roof through which the wind whistled even though the biggest cracks had been stuffed with straw and rags.

Her hands were almost dead with cold. Oh, how much one little match might warm her! If she could only take one from the box and rub it against the wall and warm her hands. She drew one out. R-r-ratch! How it sputtered and burned! It made a warm, bright flame, like a little candle, as she held her hands over it; but it gave a strange light! It really seemed to the little girl as if she were sitting before a great iron stove with shining brass knobs and a brass cover. How wonderfully the fire burned! How comfortable it was! The youngster stretched out her feet to warm them too; then the little flame went out, the stove vanished, and she had only the remains of the burnt match in her hand.

She struck another match against the wall. It burned brightly, and when the light fell upon the wall it became transparent like a thin veil, and she could see through it into a room. On the table a snow-white cloth was spread, and on it stood a shining dinner service. The roast goose steamed gloriously, stuffed with apples and prunes. And what was still better, the goose jumped down from the dish and waddled along the floor with a knife and fork in its breast, right over to the little girl. Then the match went out, and she could see only the thick, cold wall. She lighted another match. Then she was sitting under the most beautiful Christmas tree. It was much larger and much more beautiful than the one she had seen last Christmas through the glass door at the rich merchant’s home. Thousands of candles burned on the green branches, and colored pictures like those in the printshops looked down at her. The little girl reached both her hands toward them. Then the match went out. But the Christmas lights mounted higher. She saw them now as bright stars in the sky. One of them fell down, forming a long line of fire.

“Now someone is dying,” thought the little girl, for her old grandmother, the only person who had loved her, and who was now dead, had told her that when a star fell down a soul went up to God.

She rubbed another match against the wall. It became bright again, and in the glow the old grandmother stood clear and shining, kind and lovely.

“Grandmother!” cried the child. “Oh, take me with you! I know you will disappear when the match is burned out. You will vanish like the warm stove, the wonderful roast goose and the beautiful big Christmas tree!”

And she quickly struck the whole bundle of matches, for she wished to keep her grandmother with her. And the matches burned with such a glow that it became brighter than daylight. Grandmother had never been so grand and beautiful. She took the little girl in her arms, and both of them flew in brightness and joy above the earth, very, very high, and up there was neither cold, nor hunger, nor fear-they were with God.

But in the corner, leaning against the wall, sat the little girl with red cheeks and smiling mouth, frozen to death on the last evening of the old year. The New Year’s sun rose upon a little pathetic figure. The child sat there, stiff and cold, holding the matches, of which one bundle was almost burned.

“She wanted to warm herself,” the people said. No one imagined what beautiful things she had seen, and how happily she had gone with her old grandmother into the bright New Year.

Cập nhật thông tin chi tiết về Văn Mẫu Lớp 9: Tóm Tắt Truyện Lục Vân Tiên (5 Mẫu) Truyện Lục Vân Tiên Của Nguyễn Đình Chiểu trên website Fsey.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!